Phụng Vụ - Mục Vụ
Ngày 12/08: Sửa lỗi sao cho phải - Lm. Gioan Baotixita Pham Quang Sang, CMF
Giáo Hội Năm Châu
04:08 11/08/2026
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em. Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân. Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh. Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế. “Thầy bảo thật anh em : dưới đất, anh em ràng buộc những điều gì, trên trời cũng sẽ ràng buộc như vậy; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy. “Thầy còn bảo thật anh em : nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho. Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ.”
Đó là Lời Chúa
Văn Hóa
Lược Sử Giáo Hội Công Giáo, Chương 2: Giáo hội lan rộng khắp đế quốc
Vũ Văn An
00:36 11/08/2026
Chương 2: GIÁO HỘI LAN RỘNG KHẮP ĐẾ QUỐC

Sự phục sinh của Chúa Giê-su là điểm khởi đầu của đức tin Ki-tô giáo. Ý niệm về sự phục sinh đã xuất hiện trong Do Thái giáo từ thế kỷ thứ hai trước Công nguyên, nhưng các Ki-tô hữu đã tìm thấy niềm tin vào sự phục sinh của họ được làm sáng tỏ và chắc chắn hơn thông qua đức tin vào sự phục sinh của Chúa Giê-su. Họ lần đầu tiên bày tỏ niềm tin này trong nhiều công thức ngắn gọn khác nhau, chẳng hạn như chúng ta tìm thấy trong Thư thứ nhất của Thánh Phao-lô gửi tín hữu Cô-rin-tô: “Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta theo như Kinh Thánh… Người đã được chôn cất và, theo như Kinh Thánh, đã sống lại vào ngày thứ ba.”
Sách Công vụ các Tông đồ mô tả chính Giáo hội chỉ mới bắt đầu với sự hiện xuống của Thánh Linh trong ngày Lễ Ngũ Tuần—nghĩa là, sự kiện xảy ra vào ngày Lễ Ngũ Tuần của người Do Thái ngay sau sự phục sinh, khi những tín hữu đầu tiên được tràn đầy Thánh Linh, Đấng đã củng cố đức tin của họ và khơi dậy trong họ lòng nhiệt thành để làm chứng công khai và thúc giục người khác tin, ăn năn và chịu phép rửa. Họ chia sẻ một tình thân ái sâu sắc trong tình yêu thương và cầu nguyện, tập trung vào việc bẻ bánh Thánh Thể tại nhà của họ—vâng theo mệnh lệnh của Chúa tại Bữa Tiệc Ly là lặp lại lời nói và hành động của Người.
Cộng đồng tín hữu nhỏ bé này ở Giê-ru-sa-lem được dẫn dắt bởi mười hai người được cho là do chính Chúa Giê-su chọn lựa khi Người còn sống và sau này được gọi là tông đồ. Theo sách Công Vụ Các Tông Đồ, người lãnh đạo và phát ngôn viên của họ là Phê-rô (hay Kê-pha). Theo Thánh Phao-lô, Thánh Phê-rô là người đầu tiên nhìn thấy Chúa Giê-su phục sinh, trong khi sách Công Vụ mô tả ngài là vị tông đồ giảng bài thuyết giáo đầu tiên và thực hiện phép lạ đầu tiên. Hai người khác nổi bật trong giai đoạn này là Thánh Gio-an, người có mối liên hệ mật thiết với Thánh Phê-rô trong sách Công Vụ; và Thánh Gia-cô-bê, người dường như kế nhiệm Thánh Phê-rô làm người lãnh đạo cộng đồng Giê-ru-sa-lem sau khi Thánh Phê-rô rời đó để làm công tác truyền giáo.
Câu chuyện về việc cộng đồng tín hữu nhỏ bé này lan rộng đến nhiều thành phố của Đế quốc Rô-ma trong vòng chưa đầy một thế kỷ thực sự là một chương đáng chú ý trong lịch sử nhân loại. Khi cố gắng tìm hiểu câu chuyện này ở đây, chúng ta phải nhận ra rằng nguồn tư liệu của chúng ta có hạn và chúng ta phải chấp nhận nhiều khoảng trống trong thông tin. Tuy nhiên, vẫn có thể ghép lại câu chuyện cơ bản.
Chúng ta cần nhớ rằng các tông đồ đầu tiên đều là người Do Thái, và những người trở lại đạo đầu tiên của họ cũng vậy. Trong một thời gian, Giáo hội vẫn hoàn toàn là người Do Thái, một giáo phái trong Israel gồm những người tin vào sự phục sinh của Chúa Giê-su và coi Người là Đấng Mê-xi-a đã được hứa hẹn, người sắp trở lại để thiết lập vương quốc của Thiên Chúa một cách dứt khoát.
Đức tin mới của họ không đòi hỏi họ phải đoạn tuyệt với Đền thờ hay Lề luật. Thực thế, sách Công vụ các Tông đồ nhấn mạnh lòng trung thành của họ với việc cầu nguyện hằng ngày trong Đền thờ. Một số nhà lãnh đạo Do Thái, đặc biệt là phái Sa-đốc, coi các Ki-tô hữu là một nhóm người ngoại lai không tuân thủ và muốn đàn áp họ. Nhưng các nhà lãnh đạo Do Thái đã không thể làm được điều đó vì dư luận ủng hộ các Ki-tô hữu và ngưỡng mộ lòng mộ đạo sốt sắng và sự trung thành của họ với phong tục Do Thái.
Sự lan rộng của Giáo hội ra ngoài Giê-ru-sa-lem diễn ra rất dần dần khi các môn đệ mang thông điệp của mình đến nhiều cộng đồng Do Thái rải rác dọc bờ biển Địa Trung Hải. Ban đầu, họ chỉ tập trung vào việc truyền giáo cho những người Do Thái đồng hương, chắc chắn là theo đúng lời dạy của chính Chúa Giê-su, người đã nói rằng Người đến chỉ để rao giảng cho “những con chiên lạc của nhà Israel”. Nhóm đầu tiên phá vỡ phong tục này có lẽ là một số người Do Thái bất đồng chính kiến có mối liên hệ mật thiết với văn hóa Hy Lạp và quan điểm không chính thống về việc thờ phượng trong Đền thờ Do Thái. Người lãnh đạo của họ, Stê-pha-nô, một phó tế, đã bị bắt và bị tố cáo trước Tòa Công nghị vì tội chống lại Đền thờ. Khi bị thầy tế lễ thượng phẩm thẩm vấn, ngài đã kịch liệt phản bác những người Do Thái đồng hương, gọi họ là “những người cứng đầu, với… tấm lòng và đôi tai ngoại đạo”. (6) Stê-pha-nô bị ném đá đến chết, và sự tử đạo của ngài đã châm ngòi cho một cuộc bách hại chung; những người theo ngài tìm nơi nương náu ở những nơi khác và bắt đầu rao giảng Tin Mừng ở bất cứ nơi nào họ đến.
Có vẻ như chính tại An-ti-ô-kia, họ đã thực hiện bước đi mang tính cách mạng, điều sẽ có những hậu quả to lớn đối với sự lan rộng của Giáo hội và lịch sử thế giới. Tại đây, họ lần đầu tiên rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại và dám làm phép rửa cho họ. Và họ đã biến thành phố này thành trung tâm của công tác truyền giáo giữa những người ngoại đạo.
Sự đổi mới này chắc chắn đã gây khó chịu cho nhiều người mộ đạo, những người không tìm thấy chỗ trong đức tin của họ cho ý tưởng truyền giáo cho những người ngoại đạo. Nhưng ban đầu họ vẫn chấp nhận. Một thái độ tự do đối với những người ngoại đạo trở lại đạo dường như chiếm ưu thế trong Giáo hội: Họ không bắt buộc phải cắt bì hoặc tuân thủ Luật Do Thái. Nhưng khi số lượng người ngoại đạo gia nhập Giáo hội ngày càng tăng, những người có tư tưởng truyền thống hơn đã cảm thấy lo ngại, họ yêu cầu họ phải cắt bì và tuân theo Luật Do Thái. Chắc chắn có một nỗi sợ rằng Giáo hội sẽ bị nhấn chìm bởi những người ngoại đạo này, và đánh mất bản chất Do Thái của nó. Và vì vậy, Giáo hội đã bị cuốn vào cuộc tranh luận lớn đầu tiên, làm rung chuyển tận gốc rễ; về cơ bản, đó là câu hỏi liệu Giáo hội sẽ vẫn là một vấn đề độc quyền của người Do Thái hay sẽ mở rộng ra bao trùm toàn thể nhân loại.
Người đóng góp nhiều nhất vào việc giải quyết vấn đề này là Sao-lô thành Tác-sô, được biết đến với tên Rô-ma là Phao-lô. Chính Phao-lô đã loại bỏ phần lớn bản chất Do Thái khỏi Tin Mừng và điều chỉnh nó để thu hút toàn thể nhân loại.
Thực thế, đối với ngài, chính yếu tính của Tin Mừng đang bị đe dọa trong cuộc tranh luận về phép cắt bì; việc yêu cầu người ngoại đạo thực hành Luật Do Thái sẽ tương đương với việc nói rằng đức tin vào Chúa Giê-su phục sinh là chưa đủ để được cứu rỗi; việc tuân giữ Lề luật cũng là điều cần thiết.
Sự hiểu biết của Thánh Phao-lô về Tin Mừng như một sự giải phóng khỏi Lề luật không phải là một lý thuyết học thuật mà ngài đã nghiên cứu; nó nằm ở chính trung tâm của kinh nghiệm hoán cải đã biến ngài từ một người tận tụy với Lề luật thành một môn đệ nhiệt thành của Chúa Giê-su. Là một giáo sĩ nhiệt thành, học trò của Ga-ma-li-en vĩ đại ở Giê-ru-sa-lem và sau đó là một nhân vật quan trọng trong các hội đường ở đó, Thánh Phao-lô có thể nói: “Tôi nổi bật giữa những người Do Thái khác cùng thế hệ [về lòng nhiệt thành] đối với truyền thống của tổ tiên tôi” (phần trong ngoặc là lời diễn giải của tôi). (7) Ngài thậm chí còn trở thành người bách hại các môn đệ và có mặt tại vụ ném đá Stê-pha-nô.
Nhưng rồi một tia sét tâm linh ập đến! Ngài đã có một trải nghiệm tức thì về Chúa Giê-su phục sinh. Thế giới tâm linh của ngài đảo lộn; ngài nhận ra rằng với việc xuất hiện của Chúa Giê-su, thời đại của Lề luật đã qua. “Tôi coi mọi thứ như rác rưởi nếu tôi chỉ có thể có Đấng Ki-tô và được ban cho một chỗ trong Người. Tôi không còn cố gắng đạt đến sự hoàn hảo bằng nỗ lực của riêng mình, sự hoàn hảo đến từ Lề luật, mà tôi chỉ muốn sự hoàn hảo đến từ đức tin nơi Đấng Ki-tô, và đến từ Thiên Chúa và dựa trên đức tin.” (8) Trực giác cốt lõi này về ý nghĩa của việc Đấng Ki-tô xuất hiện từ đó về sau đã chi phối tất cả các bài giảng và bài viết của ngài.
Vì vậy, khi Thánh Phao-lô nghe những người theo truyền thống nói rằng người ngoại phải chịu phép cắt bì, ngài nhấn mạnh: “Điều làm cho một người trở nên công chính không phải là sự vâng phục Lề luật, mà là đức tin nơi Chúa Giê-su Ki-tô… nếu Lề luật có thể biện minh cho chúng ta, thì cái chết của Chúa Ki-tô chẳng có ý nghĩa gì… Khi Chúa Ki-tô giải phóng chúng ta, Người muốn chúng ta được tự do mãi mãi. Vậy nên, hãy đứng vững và đừng để mình bị đặt dưới ách nô lệ nữa.” (9)
Không còn nghi ngờ gì nữa, cuộc xung đột trở nên gay gắt và cay đắng, và sự hiệp nhất của Giáo hội bị căng thẳng nghiêm trọng, đặc biệt là tại An-ti-ô-ki-a, nơi cộng đồng Ki-tô giáo phần lớn là người ngoại. Những anh em Ki-tô hữu Do Thái của họ, những người trước đây không hề ngần ngại tham gia các bữa ăn chung tham dự cùng với Thánh Thể, giờ đây đã rút lui do áp lực từ những người muốn duy trì mối liên hệ với Do Thái giáo. Ngay cả Thánh Phê-rô, người cùng quan điểm với Thánh Phao-lô, cũng đã dao động trong giây lát và rời bỏ bàn ăn chung. Thánh Phao-lô rất phẫn nộ và khiển trách ngài trước mặt mọi người.
Việc giải quyết vấn đề không thể trì hoãn vô thời hạn, vì vậy một hội nghị đã được tổ chức tại Giê-ru-sa-lem, có lẽ vào năm 49. Chắc chắn đó là một phiên họp dài và đầy sóng gió. Cuối cùng, Thánh Phê-rô lập luận ủng hộ sự tự do cho người ngoại, viện dẫn kinh nghiệm cho thấy những người ngoại không chịu phép cắt bì cũng sở hữu Thánh Linh. Thánh Phê-rô kết luận: “Chúng ta tin rằng chúng ta được cứu rỗi giống như họ: nhờ ân sủng của Chúa Giê-su.” (10)
Tuy nhiên, chính Thánh Gia-cô-bê là người đã tóm tắt cuộc tranh luận và đưa ra phán quyết: Phép cắt bì sẽ không bắt buộc đối với người ngoại. Nhưng để xoa dịu sự nhạy cảm của những người theo truyền thống và bảo toàn sự hiệp nhất trong việc cùng ăn uống, một thỏa hiệp đã được dàn xếp: Tất cả mọi người sẽ phải tuân theo một số luật lệ của người Do Thái; phải kiêng cữ bất cứ thức ăn nào được dâng tế lễ cho ngẫu thần; quan hệ tình dục bất chính bị cấm, và một số quy định về ăn uống của người Do Thái được áp đặt, đặc biệt là những quy định cấm ăn thịt còn máu (máu được coi là nơi ở của sự sống và do đó thuộc về Thiên Chúa). Thịt của những con vật bị siết cổ đến chết—nghĩa là những con vật không bị giết theo nghi lễ Do Thái—cũng bị cấm.
Điều này không ngay lập tức giải quyết được mọi bất đồng; một số người ngoan cố từ chối tuân theo và sau đó đã gây khó dễ cho Thánh Phao-lô bằng cách đến thăm các hội thánh của ngài để dẫn dắt họ trở lại với việc tuân thủ nghiêm ngặt các nghi lễ Do Thái. Nhưng những người theo truyền thống này đang chiến đấu một trận chiến vô vọng; các trụ cột của Giáo hội đã quyết định chống lại họ trong một cuộc tranh luận công khai tại một phiên họp toàn thể. Sự hiểu biết của Thánh Phao-lô về Tin Mừng đã được Giáo hội chấp nhận như của riêng mình. Giáo hội chính thức từ bỏ đặc điểm Do Thái độc quyền của mình và trở thành Giáo hội của toàn nhân loại. Đó là một bước ngoặt lớn trong lịch sử Giáo hội và của thế giới.
Tương lai của Giáo hội nằm ở những người ngoại đạo và giờ đây cánh cửa đã rộng mở, Thánh Phao-lô không chậm trễ trong việc đi ra để quy tụ họ lại. Tham vọng của ngài là mang Tin Mừng đến cho tất cả mọi người. Toàn thế giới; những chuyến truyền giáo kéo dài đã đưa ngài đi khắp Tiểu Á và đến Hy Lạp, nơi ngài để lại các hội thánh ở I-cô-ni-ô, Lýt-ra, Cô-lô-sê, Phi-líp-phê, Tes-sa-lô-ni-ca, Bê-roi-a, A-thê-na, Cô-rin-tô, Ê-phê-sô và nhiều nơi khác.
Ngài chỉ đến những thị trấn mà Tin Mừng chưa được rao giảng, và phương pháp thường lệ của ngài là bắt đầu từ hội đường, nơi ngài cố gắng chứng tỏ cho người Do Thái và những người trở lại đạo tụ họp lại để dự lễ rằng Chúa Ki-tô là sự ứng nghiệm của những lời hứa trong Cựu Ước. Thường thì, như ở Cô-rin-tô, kết quả khá rắc rối. Khi họ chống lại ngài trong hội đường Cô-rin-tô và bắt đầu sỉ nhục ngài, ngài nói: “Máu của các ngươi sẽ đổ trên đầu các ngươi… từ nay trở đi tôi sẽ hướng về dân ngoại.” Và như thường lệ, ngài thành công hơn với người Cô-rin-tô ngoại đạo, nhiều người trong số họ đã nghe ngài và trở thành tín hữu và chịu phép rửa. Bằng cách này, ngài đã để lại những hội thánh nơi việc phân biệt giữa người Do Thái và dân ngoại không còn quan trọng.
Những bức thư của ngài gửi cho các cộng đồng non trẻ cho thấy Thánh Phao-lô là người đầu tiên và vĩ đại nhất trong hàng ngũ những người định hình lịch sử Giáo hội: những người kết hợp chiều sâu kinh nghiệm tôn giáo sâu sắc với khả năng tổ chức phi thường — những người như Au-gus-ti-nô, Bernard, Loyola, Luther và Wesley. Những bức thư của Thánh Phao-lô chứa đựng những hiểu biết thần học sâu sắc, đặt nền móng cho sự phát triển của thần học trong tương lai, đồng thời cũng cho thấy sự quan tâm đáng kể của ngài đến từng chi tiết nhỏ trong đời sống của các hội thánh.
Nhờ quyết định của Giê-ru-sa-lem cho phép tự do cho dân ngoại và nhờ những nỗ lực phi thường của Thánh Phao-lô và các nhà truyền giáo khác, Giáo hội đã lan rộng với tốc độ đáng kinh ngạc. Chúng ta biết rằng, chẳng hạn, vào năm 59, Thánh Phao-lô cảm thấy rằng ngài đã cạn kiệt khả năng của mình ở phía đông Địa Trung Hải. “Suốt dọc đường, từ Giê-ru-sa-lem đến I-ly-ri (Illyricum), tôi đã rao giảng Tin Mừng của Chúa Ki-tô hết sức mình.” (11) Và chúng ta có thể suy luận một cách hợp lý rằng những vùng đất được đề cập mà chính ngài chưa truyền giáo thì đã được những người khác truyền giáo.
Thánh Phao-lô giờ đây hướng tầm nhìn đến Tây Ban Nha, tỉnh Rô-ma cổ nhất và là trung tâm chính của nền văn minh Rô-ma ở phía tây Địa Trung Hải. Nhưng trước khi có thể dong buồm đến phương Tây, có một vấn đề vô cùng quan trọng cần phải giải quyết. Ngài phải đến thăm Giê-ru-sa-lem một lần nữa để trao khoản quyên góp cho người nghèo mà ngài đã thu được trong các hội thánh của ngài. Ngài cũng hy vọng rằng điều này sẽ tạo cơ hội để đạt được sự đồng thuận hoàn toàn với Giáo hội ở đó khi ngài bước vào một giai đoạn mới trong nỗ lực truyền giáo của ngài. Chính vì lẽ đó mà ngài đã viết bức thư quan trọng gửi cho người Rô-ma, mà ngài dự định gửi cho cả Giê-ru-sa-lem lẫn Rô-ma, và chứa đựng những suy tư chín chắn của ngài về vấn đề trọng tâm giữa Lề luật và Tin Mừng. Hy vọng rằng nó sẽ làm sáng tỏ bất cứ nghi ngờ nào còn sót lại mà các tín hữu Do Thái vẫn còn giữ về vấn đề này. Toàn bộ bức thư phản ánh mối quan tâm to lớn của Thánh Phao-lô đối với sự hiệp nhất của Giáo hội, điều mà ngài cũng ám ảnh không kém gì việc truyền bá Tin Mừng trên toàn thế giới. “Một Chúa, một đức tin, một phép rửa”, đó là cách ngài diễn đạt. Do đó, ngài đã cố gắng giữ liên lạc với Giê-ru-sa-lem – được công nhận là mẹ của tất cả các hội thánh – và với các nhà lãnh đạo ở đó.
Khi Thánh Phao-lô đến Giê-ru-sa-lem, ngài được Gia-cô-bê và các trưởng lão khác khuyên nên thể hiện lòng tôn kính Lề luật bằng cách thực hiện nghi lễ thanh tẩy trong Đền thờ. Trong khi ở đó, ngài bị một số người Do Thái gốc Á nhận ra và la hét phản đối ngài, gọi ngài là kẻ phản bội khét tiếng. Cuộc cãi lộn ầm ĩ sau đó suýt chút nữa đã cướp đi mạng sống của ngài; ngài được viên quan Rô-ma cứu thoát nhưng bị giam giữ để chờ xét xử. Cuối cùng, sau hai năm trong doanh trại ở Xê-da-rê – một khoảng thời gian dài đằng đẵng đối với một người khao khát truyền bá Tin Mừng – ngài đã kháng cáo lên Hoàng đế Nê-rông và được đưa đến Rô-ma, bị quản thúc tại gia hai năm để chờ xét xử.
Ngài bị buộc tội gì? Rõ ràng Rô-ma coi ngài là kẻ cầm đầu một giáo phái rao giảng một hình thức Do Thái giáo quốc tế mang tính cách mạng, có thể làm suy yếu trật tự xã hội. Liệu ngài đã bị xét xử và hành quyết ngay lập tức, hay điều này xảy ra vài năm sau đó, vào năm 64? Hầu hết các học giả đều cho rằng giả thuyết thứ hai là đúng hơn. Dù sao thì có lẽ ngài cũng không bao giờ đạt được tham vọng truyền bá Tin Mừng ở Tây Ban Nha. Nhưng khi ngài qua đời, giấc mơ về một Giáo hội rộng lớn như chính nhân loại của ngài đã gần như trở thành hiện thực—phần lớn nhờ vào tầm nhìn sáng suốt và kỹ năng tổ chức tuyệt vời của ngài.
Dĩ nhiên, có nhiều nhà truyền giáo khác vào thời đó có kinh nghiệm tương tự như Thánh Phao-lô. Thật không may, chúng ta biết rất ít về họ. Ngay cả sự nghiệp của Thánh Phê-rô sau khi rời Giê-ru-sa-lem cũng phần lớn là một chương bị thất lạc, mặc dù chúng ta có thể dễ dàng tin vào truyền thống Ki-tô giáo nhất trí chứng thực rằng ngài đã chết ở Rome dưới thời Nê-rông. Chúng ta cũng không biết nhiều về các tông đồ khác, mặc dù truyền thuyết thế kỷ thứ hai sẵn sàng lấp đầy những khoảng trống trong kiến thức của chúng ta: Nó cho chúng ta biết rằng Thánh Tô-ma đã truyền giáo cho người Par-thi-a, Thánh An-rê cho người Scy-thi-a, Thánh Bar-thô-lô-mê-ô đã đi xa tận Ấn Độ và có lẽ cả miền nam Ả Rập, trong khi Tháp Phi-líp qua đời tại Hi-ê-ra-pô-li ở Phy-ghia-a (Prygia). Chúng ta chỉ biết chắc chắn rằng nhiều nhà truyền giáo lưu động đã đi khắp thế giới Rô-ma để rao giảng Tin Mừng với nhiều thành công, đến nỗi vào cuối thế kỷ thứ nhất, Ki-tô giáo đã được thiết lập vững chắc ở đó.
Sự thành công lớn lao của Tin Mừng giữa các dân ngoại trái ngược hoàn toàn với số phận của nó giữa người Do Thái. Những người Do Thái theo Ki-tô giáo cố gắng hoán cải những người Do Thái đồng hương của họ đã gặp phải sự thù địch và từ chối liên tục; khoảng năm 85 Công nguyên, một lời nguyền rủa họ cách chính thức đã được đưa vào nghi lễ của hội đường. Tình hình cũng không được cải thiện bởi thái độ của những người Do Thái theo Ki-tô giáo, những người tố cáo người Do Thái là những kẻ bội giáo cứng đầu đáng bị Chúa trừng phạt khi người Rô-ma phá hủy Giê-ru-sa-lem và đốt cháy đền thờ của họ vào năm 70 Công nguyên. Một giai đoạn quan trọng đã đạt đến trong Thư gửi người Do Thái, trong đó việc từ bỏ Do Thái giáo là điều thiết yếu đối với người Ki-tô hữu và coi việc quay trở lại Do Thái giáo là sự bội giáo. Bị bỏ lại một mình và không được hỗ trợ, những người Do Thái theo Ki-tô giáo dần dần rơi vào quên lãng.
Mặt khác, sự lan truyền nhanh chóng của Tin Mừng trong số những người ngoại đạo đã tạo nên cuộc phục hưng tôn giáo vĩ đại nhất trong lịch sử loài người. Làm thế nào chúng ta giải thích hiện tượng này? Chắc chắn lời giải thích của chúng ta sẽ khác nhau tùy thuộc vào quan điểm triết học hoặc tôn giáo riêng, nhưng chắc chắn tất cả đều đồng ý rằng sự bành trướng của Ki-tô giáo phần lớn là nhờ vào các xu hướng chính trị, xã hội và văn hóa tổng quát.
Trước hết, đó là những điều kiện vật chất thuận lợi do sự thống trị của Rô-ma đối với thế giới Địa Trung Hải mang lại. Sau bốn thế kỷ bành trướng, Đế quốc Rô-ma lúc này đã bao quanh hoàn toàn Địa Trung Hải và trải dài từ sông Euphrates ở Syria đến sông Thames ở Anh, từ sông Rhine và sông Danube đến sa mạc Sahara. Và nó đã kết nối sự pha trộn rộng lớn của các dân tộc thuộc nhiều chủng tộc và ngôn ngữ này bằng hệ thống đường sá và vận tải biển tuyệt vời của mình. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi rất nhiều cho công việc của các nhà truyền giáo Ki-tô giáo, những người có thể đi khắp chiều dài và chiều rộng của Đế quốc một cách tương đối dễ dàng. Hơn nữa, người Rô-ma đã thúc đẩy sự lan rộng của một nền văn hóa chung bắt nguồn từ Hy Lạp cổ thời. Điều này có nghĩa là các nhà truyền giáo có thể rao giảng Tin Mừng bằng tiếng Hy Lạp ở hầu hết các thành phố lớn và được hiểu.

Thứ hai, thế giới phần lớn đang trong hòa bình, nhờ vào công lao của Hoàng đế Oc-ta-vi-a-nô Au-gus-tô, người trị vì vào thời điểm Chúa Giê-su ra đời và thời niên thiếu. Là người thừa kế được chỉ định của Ju-li-ô Xê-da bị ám sát, ông đã có thể vượt qua các đối thủ tranh giành quyền lực khác, và cuối cùng vào năm 31 TCN, bằng cách đánh bại An-tôn và Clê-ô-pa-tra, giành được quyền chỉ huy tối cao của Đế quốc Rô-ma. Với chủ nghĩa hiện thực chính trị sắc sảo, ông đã tạo ra một hệ thống mới—chế độ nguyên thủ [principate]—tập trung phần lớn quyền lực vào tay mình trong khi bề ngoài vẫn duy trì các hình thức Cộng hòa truyền thống. Hiến pháp mới do ông soạn thảo đã cho phép ông cai trị không bị thách thức trong hơn bốn mươi năm và tồn tại lâu hơn ông trong vài thế kỷ, cung cấp cho Đế quốc một hình thức chính phủ ổn định, cho phép nó đẩy lùi mối đe dọa từ các bộ lạc man rợ và mang lại hòa bình cho thế giới trong gần hai trăm năm. Điều kiện an ninh mà nền hòa bình Rô-ma mang lại cho những người du hành rất có lợi cho các nhà truyền giáo Ki-tô giáo.
Thứ ba, về mặt tinh thần, đó là thời kỳ bất ổn đặc biệt. Mặc dù sự thịnh vượng ngày càng tăng và những khả năng hưởng thụ được nâng cao ở các thành phố nơi các nhà hát, sân vận động, đấu trường và nhà tắm cung cấp nguồn giải trí liên tục cho cư dân, nhưng vẫn có một sự khao khát tinh thần ngày càng tăng. Sự thay đổi xã hội nhanh chóng đi kèm với sự tiến bộ đã làm xáo trộn nhiều người, trong khi bầu không khí chính trị lại vô cùng ảm đạm. Việc mất tự do chính trị đã đủ tồi tệ, nhưng những người kế vị Au-gus-tô lại chính là những kẻ kỳ lạ. Ti-bê-ri-ô (mất năm 37), Gai-ô Ca-li-gu-la (mất năm 41), Clau-đi-ô (mất năm 54) và Nê-rông (mất năm 68) là những vị Hoàng đế có đời sống cá nhân bị bao phủ bởi những sự kiện và tội ác kỳ lạ, rùng rợn: Bầu không khí trong triều đình của họ nặng trĩu mưu mô và nghi ngờ thối nát. Ti-bê-ri-ô, người dưới thời trị vì Chúa Ki-tô bị đóng đinh trên thập giá, là một vị tướng tài giỏi nhưng là một vị Hoàng đế bất hạnh—bị suy sụp khi phát hiện ra con trai mình, Dru-sô, đã bị chính cố vấn thân tín nhất của mình, Sê-ja-nô, sát hại. Tinh thần suy sụp, Ti-bê-ri-ô lui về Ca-pri, nơi ông trải qua những năm cuối đời. Ca-li-gu-la là một kẻ cuồng vọng điên loạn và bị ám sát. Clau-đi-ô, yếu đuối cả về thể chất lẫn ý chí, bị vợ mình, A-grip-pi-na, chi phối, người cuối cùng đã đầu độc ông để nhường chỗ cho con trai mình, Nê-rông. Sau đó, Nê-rông đã giết bà ta và bắt đầu một triều đại khủng bố cướp đi sinh mạng của nhiều nhà lãnh đạo xuất sắc của Rome trước khi chính ông ta bị buộc phải tự sát.
Phản ứng của những người nhạy cảm trước tất cả những điều này, cùng với tâm trạng u ám và bi quan của họ, được phản ánh trong nhiều khía cạnh của văn học và nghệ thuật thời đó—trong các tác phẩm của Petronius, Martial, Juvenal, Seneca, Pliny, và có lẽ đáng nhớ nhất là trong các tác phẩm của Tacitus, nhà sử học nghiêm nghị và u ám của thời đại.
Tình trạng này đã tạo ra một cơ hội tuyệt vời cho một tôn giáo có thể giúp lấp đầy khoảng trống tâm linh mà rất nhiều người trải qua. Và chính Ki-tô giáo đã tận dụng tối đa cơ hội này.
Không phải người tìm kiếm sự cứu rỗi nhất thiết phải hướng đến tôn giáo. Một số người tìm thấy sự an ủi trong triết học. Ví dụ, các triết gia Khắc kỷ đã thu hút được nhiều tín hữu bằng học thuyết cho rằng người ta có thể hòa hợp với vũ trụ bằng cách chú ý đến tính hợp lý tiềm ẩn của các quy luật của nó; họ cũng nhấn mạnh sự cần thiết của kỷ luật tự giác để đạt được sự bình an nội tâm và cân bằng tâm hồn giữa những biến cố khó chịu của cuộc sống. Tuy nhiên, triết học, như mọi khi, chỉ là nơi nương náu cho tầng lớp thượng lưu. Người bình thường tìm kiếm sự bình an tâm linh trong một số hình thức tôn giáo, chiêm tinh học hoặc ma thuật.
Tôn giáo Rô-ma cổ đại hầu như không cạnh tranh được với Ki-tô giáo. Niềm tin vào các vị thần cổ đại không thể được khôi phục, như Au-gus-tô và các Hoàng đế khác đã nhận thấy trong sự thất vọng của họ. Mà người dân bình thường cũng không thể tìm thấy nhiều sự an ủi trong các nghi lễ và nghi thức dành riêng cho các Hoàng đế được thần thánh hóa.
Mạnh mẽ hơn nhiều so với Ki-tô giáo là các tôn giáo huyền bí, vốn rất nhiều và lan rộng nhanh chóng trong thời kỳ này. Chúng là những loại tín ngưỡng pha trộn, kết hợp tư tưởng Hy Lạp và phương Đông. Quan trọng nhất là các huyền bí Di-ô-ny-si-ô và Orphic của Thrace; Ê-leu-si-ni-ô từ Eleusis, gần Athens; tôn giáo của Nữ thần Mẹ vĩ đại, Cybele, từ Anatolia ở Tiểu Á; tôn giáo Mithra của Ba Tư và giáo phái Isis và Osiris của Ai Cập. Chúng được gọi là huyền bí [mysterius] vì các nghi lễ trung tâm của chúng được giữ bí mật với tất cả mọi người trừ những người được khai tâm. Mặc dù có nhiều điểm khác biệt, tất cả chúng đều có một số đặc điểm chung: một cái nhìn cao cả về thần thánh, một cảm giác sâu sắc về sự phân tách giữa tinh thần và thể xác, và một khát vọng lớn lao về một đấng cứu thế sẽ giải thoát các tín hữu khỏi mọi tội lỗi và ban cho họ sự sống vĩnh cửu.
Một trong những tôn giáo huyền bí nổi tiếng nhất là tôn giáo của Cybele, Nữ thần Mẹ Vĩ đại. Giống như những tôn giáo khác, nó cho thấy nguồn gốc từ các nghi lễ sinh sản gắn liền với nhịp điệu sinh trưởng của thiên nhiên—cái chết vào mùa đông và sự hồi sinh vào mùa xuân. Cybele, mẹ của tất cả các vị thần và loài người, có người bạn đời là Attis, một á thần, người đã phản bội bà và sau đó vì hối hận đã tự thiến mình và chết. Tuy nhiên, Nữ thần Mẹ Vĩ đại đã hồi sinh và phong thần cho ông, khiến ông bất tử. Truyền thuyết này được tôn vinh trong hai nghi lễ chính: Trong nghi lễ taurobolium, những người tín ngưỡng tái hiện cái chết của Attis bằng cách giết một con bò đực, sau đó tự rửa tội bằng máu của nó—bôi máu lên người và thậm chí uống máu; trong lễ hội mùa xuân kỷ niệm sự hồi sinh của Attis, họ tham gia vào những điệu nhảy điên cuồng trong khi tự rạch mình và rắc máu lên một cây thông tượng trưng cho Attis, cho đến khi trong trạng thái xuất thần cuối cùng, một số người đàn ông sẽ tự thiến mình để bắt chước vị thần của họ. Bằng cách tham gia vào những nghi lễ như vậy, tín hữu tin rằng mình được tái sinh, giải thoát khỏi tội lỗi và được sinh ra thành một con người mới, được chia sẻ sự thần thánh và bất tử của các vị thần của họ.
Tuy nhiên, tôn giáo huyền bí được chứng minh là đối thủ đáng gờm nhất của Ki-tô giáo là Mithra giáo, một tôn giáo chỉ dành cho nam giới và rất phổ biến trong giới binh lính. Có nguồn gốc từ Ba Tư, nó dường như được truyền bá khắp Địa Trung Hải bởi binh lính của Alexander Đại đế. Mithra là một vị thần mặt trời của Ba Tư, người đã giết chết con bò đực vũ trụ mà máu của nó là nguồn gốc của mọi sự sống. Hình ảnh của ông luôn cho thấy ông chiến đấu vì lẽ phải chống lại cái ác - một ý tưởng hấp dẫn đối với binh lính. Giáo phái này hứa hẹn sự bất tử cho những người được khai tâm. Các đền thờ của nó đã được khai quật ở nhiều nơi, một đền thờ lớn gần đây ở London.
Một số điểm tương đồng về giáo lý và nghi lễ đã khiến một số học giả cho rằng Ki-tô giáo thuộc cùng một loại với các tôn giáo huyền bí và trên thực tế, có nguồn gốc ở một mức độ nào đó từ chúng. Tuy nhiên, bằng chứng không ủng hộ những lý thuyết như vậy. Việc cả các giáo phái huyền bí và Giáo hội Ki-tô giáo đều sử dụng một số nghi lễ nhất định như rửa tội, xức dầu và các bữa ăn thánh không nhất thiết cho thấy sự phụ thuộc lẫn nhau. Những biểu tượng nguyên thủy như vậy rất cơ bản đối với nhân loại đến nỗi bất cứ người theo tôn giáo nào cũng có thể sử dụng chúng để diễn tả một trải nghiệm vượt lên trên thế giới này.
Hơn nữa, quan niệm về sự cứu rỗi của Ki-tô giáo khác xa với quan niệm của các giáo phái huyền bí. Những người sùng bái Cybele hoặc Mithra coi sự cứu rỗi của họ như một sự giải thoát kỳ diệu khỏi xác thịt. Mặt khác, người Ki-tô hữu thừa nhận sự tồn tại của tội lỗi và ý chí tự do, và quan niệm sự cứu chuộc là sự tha thứ tội lỗi. Họ rao giảng về tội lỗi và sự ăn năn với một sự nghiêm túc đáng sợ, hoàn toàn không có điểm chung nào với các nghi lễ trụy lạc, đầy dục vọng của các giáo phái huyền bí. Như Thánh Phao-lô đã nói, “Anh em đã đoạn tuyệt với việc thờ ngẫu thần khi anh em quy phục Thiên Chúa và trở thành tôi tớ của Thiên Chúa hằng sống và chân thật và hiện đang chờ đợi Chúa Giê-su, Con của Người, Đấng mà Người đã cho sống lại từ cõi chết, từ trời xuống để cứu chúng ta khỏi sự trừng phạt.” (12)
Một lần nữa, không giống như các tôn giáo huyền bí với những huyền thoại vượt thời gian gắn liền với nhịp điệu của thiên nhiên, Ki-tô giáo được thành lập trên một nhân vật lịch sử và được kết nối với các sự kiện có thể xác định niên đại.
Về những yêu cầu đạo đức đặt ra cho người mới khai tâm, không có sự so sánh nào giữa Ki-tô giáo và các tôn giáo huyền bí. Ở mức tốt nhất, các tôn giáo huyền bí thể hiện những khát vọng mơ hồ về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Mặt khác, Giáo hội đã đặt ra những chuẩn mực hành vi rõ ràng và chính xác cho một Ki-tô hữu. Việc nhấn mạnh vào sự kiểm soát tình dục là một lý tưởng đặc trưng của Giáo hội, phân biệt nó với thế giới ngoại giáo; Giáo hội nhấn mạnh vào chế độ một vợ một chồng và tính chất bất khả phân ly của hôn nhân, đồng thời nghiêm cấm phá thai và giết trẻ sơ sinh. Giáo hội lên án mọi hình thức tham lam và bất lương trong kinh doanh, mọi chủ nghĩa khoái lạc vật chất, sự lừa đảo và dối trá. Tóm lại, một Ki-tô hữu phải là một người trong sạch, không bám víu vào của cải, không ích kỷ, trung thực và dũng cảm. Và quan trọng nhất, Giáo hội dạy cá nhân không dựa vào sức mạnh của chính mình trong cuộc đấu tranh đạo đức mà dựa vào sức mạnh của ân sủng Thiên Chúa.
Cuối cùng, một sự khác biệt quan trọng nhất và là nguyên nhân mạnh mẽ tạo nên sự ưu việt của Ki-tô giáo là sự chứng tỏ hữu hiệu sức mạnh của tình yêu thương trong chính cuộc sống của các tín hữu; nó đã chứng tỏ là một thỏi nam châm không thể cưỡng lại đối với nhiều tâm hồn và khiến những người ngoại đạo phải thốt lên: “Hãy xem họ yêu thương nhau biết bao!” Tình yêu này tìm được biểu thức qua vô số hoạt động.
Các tín hữu Ki-tô giáo đã chăm lo cho các thầy cô giáo và quan chức, cho các góa phụ và trẻ mồ côi, cho người ốm yếu và tàn tật. Họ tận tâm với tù nhân và những người đang chịu khổ trong hầm mỏ, với những người bị ảnh hưởng bởi những thảm họa lớn và chăm sóc những người nghèo cần được chôn cất; họ cung cấp việc làm cho người thất nghiệp, chăm sóc anh em trên những chuyến đi và quan tâm đến nhu cầu của các nhà thờ đang nghèo khó hoặc gặp nguy hiểm. (13) Quả thực không còn nghi ngờ gì nữa rằng Tin Mừng Ki-tô giáo đã dẫn dắt thế giới đến một giai đoạn đạo đức cao hơn. Động lực xã hội và đạo đức của nó đã tạo ra ảnh hưởng mạnh mẽ đến những người có tiềm năng trở lại đạo. Ví dụ, hai trong số những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của Ki-tô giáo trong thế kỷ thứ hai, Tatian và Gius-ti-nô, đã trở lại đạo, như họ thừa nhận, bởi sức hấp dẫn đạo đức của những tín hữu Ki-tô mà họ biết.
Tóm lại, sự bành trướng đáng kể của Ki-tô giáo trong thế kỷ thứ nhất phần lớn là nhờ vào các xu hướng chính trị, xã hội và văn hóa nói chung. Nhưng lý do chính cho sự thành công của Ki-tô giáo là vì nó đã cung cấp những câu trả lời tốt nhất cho những câu hỏi tôn giáo cơ bản của tâm hồn đau khổ: truyền bá sự thờ phượng Thiên Chúa. Thiên Chúa duy nhất, Đấng tạo hóa muôn loài, đối lập với sự thờ cúng ngẫu thần thô thiển của thời đại. Qua việc rao giảng về Chúa Giê-su, Đấng cứu thế thần thiêng, đã sống lại và sắp trở lại để phán xét, Ki-tô giáo mang đến sự bảo đảm về sự giải thoát khỏi tội lỗi, sự phục sinh vĩnh cửu, và động lực để sống một cuộc đời đức tin, thánh thiện, tự chủ, yêu thương và bác ái.
VietCatholic TV
Sợ thảm họa Gaddafi, Putin bí mật tuyển 400.000 quân Nga, Bắc Hàn. Cách 2000km, nhà máy vẫn nổ tung
VietCatholic Media
04:09 11/08/2026
1. Tổng thống Zelenskiy cho biết Bắc Hàn đang gửi thêm hỏa tiễn đạn đạo và quân đội đến Nga trong khi máy bay điều khiển từ xa của Ukraine bay xa hơn.
Tổng thống Volodymyr Zelenskiy cho biết trong bài phát biểu tối ngày 10 tháng 8 rằng Nga đã nhận được thêm hỏa tiễn đạn đạo từ Bình Nhưỡng và đang chuẩn bị cho sự xuất hiện của thêm binh lính Bắc Hàn.
Thông báo của tổng thống được đưa ra sau các báo cáo từ tình báo quân sự Ukraine về việc Bắc Hàn gần đây triển khai một đơn vị hỏa tiễn trên lãnh thổ Nga - diễn biến mới nhất trong liên minh quân sự ngày càng sâu rộng giữa Mạc Tư Khoa và Bình Nhưỡng, bao gồm cả việc cung cấp vũ khí và binh lính.
Trong bài phát biểu qua video, Tổng thống Zelenskiy nói rằng sự phụ thuộc ngày càng tăng của Nga vào Bắc Hàn là kết quả của việc nước này ngày càng dễ bị tổn thương trước các cuộc tấn công tầm xa của Ukraine, vốn hiện có thể vươn tới hàng ngàn km bên trong lãnh thổ Nga.
"Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Nga, họ không còn hậu phương chiến lược an toàn", tổng thống nói. "Và đây cũng là lần đầu tiên họ không thể tiến hành chiến tranh nếu không có tiếp tế từ Bắc Hàn."
Tổng thống Zelenskiy lập luận rằng việc Nga sẵn sàng dựa vào sự hỗ trợ của Bắc Hàn đe dọa an ninh toàn cầu, vì Bình Nhưỡng có thể tăng cường khả năng phòng thủ của mình nhờ sự hợp tác với lực lượng Nga.
Theo Tổng thống Zelenskiy, Nga "hiện đang chuẩn bị tiếp nhận thêm một đơn vị quân đội Bắc Hàn trên lãnh thổ của mình. Họ đã nhận được, như bạn có thể tưởng tượng, thêm hỏa tiễn đạn đạo từ Bắc Hàn.... Hỏa tiễn đạn đạo của Bắc Hàn, cùng với các loại vũ khí khác, đang được cải tiến thông qua sự hợp tác với Nga."
Tổng thống Zelenskiy cảnh báo rằng các cuộc tấn công hỏa tiễn của Bắc Hàn nhằm vào Ukraine gây ra mối đe dọa cho Nhật Bản, Nam Hàn, Phi Luật Tân và các quốc gia khác, vì mỗi cuộc tấn công đều tạo cơ hội cho lực lượng Bắc Hàn cải tiến vũ khí và chiến thuật của mình.
" Do đó, khi chúng ta nói về sự cần thiết của hành động chung, phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau... thực chất chúng ta cũng đang nói về việc ngăn chặn tham vọng và sự quan tâm của Bắc Hàn trong việc đến đây - đến đất nước chúng ta, đến bầu trời của chúng ta - với vũ khí của họ để học cách tiến hành chiến tranh," ông nói.
Trước đó, vào ngày 25 tháng 7, Tổng thống Zelenskiy tuyên bố Nga đang chuẩn bị tiếp nhận thêm 30.000 binh sĩ từ Bắc Hàn để hỗ trợ cuộc xâm lược toàn diện Ukraine.
Cơ quan tình báo quân sự Ukraine, gọi tắt là HUR sau đó nói với Reuters rằng một đơn vị hỏa tiễn đạn đạo của Bắc Hàn đã thiết lập các vị trí tại tỉnh Voronezh của Nga, gần biên giới với tỉnh Luhansk của Ukraine. Đơn vị này được tường trình bao gồm sáu bệ phóng và 120 hỏa tiễn đạn đạo, trong đó lực lượng Nga có thể đã nhận được 40 quả.
Kể từ khi cuộc chiến tranh tổng lực bùng nổ vào năm 2022, Bình Nhưỡng và Mạc Tư Khoa đã tăng cường hợp tác quân sự, trong đó Bắc Hàn cung cấp cả đạn dược, vũ khí hạng nặng và nhân lực.
Lực lượng Nga đã phóng các hỏa tiễn đạn đạo tầm ngắn và tầm trung KN-23 và KN-24 của Bắc Hàn trong các cuộc tấn công nhằm vào Ukraine. Lần sử dụng hỏa tiễn Bắc Hàn đầu tiên được xác nhận bởi Nga là trong cuộc tấn công vào Kharkiv ngày 2 Tháng Giêng năm 2024.
Ngày 30 tháng 7, Tổng thống Zelenskiy cho biết một hỏa tiễn của Bắc Hàn có thể đã giết chết sáu thành viên trong một gia đình ở Kryvyi Rih trong một cuộc tấn công gần đây của Nga.
Quân đội Bắc Hàn cũng đã tham gia chiến đấu cùng với lực lượng Nga tại Ukraine. Ukraine cho biết khoảng 12.000 binh sĩ Bắc Hàn đã tham gia cuộc phản công năm 2024 của Nga tại tỉnh Kursk, nhằm mục đích đẩy lực lượng Ukraine ra khỏi khu vực này.
Mặc dù cuộc phản công cuối cùng đã thành công, nhưng theo HUR, binh lính Bắc Hàn đã chịu tổn thất cực kỳ nặng nề.
[Kyiv Independent: North Korea sending more ballistic missiles, troops to Russia as Ukraine's drones fly farther, Zelensky says]
2. Putin lên kế hoạch huy động quân sự bí mật và triển khai lực lượng từ Bắc Hàn.
Tổng thống Volodymyr Zelenskiy cảnh báo rằng nhà độc tài Vladimir Putin đang chuẩn bị một cuộc huy động quy mô lớn, bí mật và có kế hoạch triển khai hàng chục ngàn binh sĩ Bắc Hàn đến lãnh thổ Nga.
Phát biểu trong chương trình gây quỹ bác ái toàn quốc, Tổng thống Zelenskiy tuyên bố rằng Putin đang tìm cách tăng quân số mà không cần ban hành lệnh gọi nhập ngũ, vì ông biết rằng mình chưa thể giành chiến thắng ở Ukraine.
"Ông ta đang nghĩ cách lừa dối chính người dân của mình," Tổng thống Zelenskiy nói. "Thực hiện việc huy động lực lượng quy mô lớn mà không cần thông báo trước. Ký kết một số hợp đồng ngầm, phong tỏa biên giới, v.v. Chúng ta thấy điều này. Chúng ta đã thấy nhiều bước đi tương ứng."
Tổng thống Zelenskiy nhấn mạnh rằng Putin cần một chiến thắng cụ thể để thuyết phục công chúng Nga, là điều mà hiện đang phụ thuộc vào việc giành được toàn bộ vùng Donbas. Tuy nhiên, Tổng thống Zelenskiy bác bỏ khả năng rút lui tự nguyện.
"Chúng tôi sẽ không tự ý rút quân. Vậy ông ta có thể dùng điều gì làm chiến thắng?", Tổng thống Zelenskiy hỏi. "Ông ta sẽ xuyên tạc những điều khoản Anchorage ở Alaska mà chúng tôi đã thảo luận với phía Mỹ, với Tổng thống Mỹ."
Theo cách giải thích của phía Nga, những "điều khoản Anchorage" này đề cập đến các cuộc thảo luận bí mật liên quan đến thành phần lãnh thổ của một thỏa thuận hòa bình trong tương lai và quy chế đặc biệt của Donbas.
"Không ai sẽ bỏ rơi đất nước, người dân của mình và đơn giản là bỏ đi," Tổng thống Zelenskiy nói thêm. "Bởi vì không ai có thể bảo đảm rằng người đàn ông này sẽ không đi xa hơn nữa."
Tổng thống Zelenskiy tiết lộ rằng Nga có kế hoạch đóng quân từ 30.000 đến 50.000 binh sĩ Bắc Hàn trên lãnh thổ của mình.
"Bắc Hàn sẽ tăng cường kinh nghiệm trong chiến tranh hiện đại, sẽ nhận được giấy phép từ Nga, và sẽ nhận được tất cả các công cụ quân sự từ họ. Chúng tôi hiểu rõ điều này", Tổng thống Zelenskiy tuyên bố, đồng thời lưu ý rằng lực lượng Nga đã và đang sử dụng vũ khí của Bắc Hàn chống lại Ukraine.
Để đối phó với liên minh ngày càng lớn mạnh này, Tổng thống Zelenskiy cho biết các nhà ngoại giao Ukraine đang đàm phán về hợp tác quốc phòng sâu rộng hơn với Nam Hàn, liên quan đến hệ thống phòng không.
Những lời cảnh báo của Tổng thống Zelenskiy phù hợp với những đánh giá đáng báo động về sự hội nhập sâu rộng của Bắc Hàn vào cỗ máy chiến tranh của Nga.
Lãnh đạo Bắc Hàn Kim Chính Ân đã thu về tới 22 tỷ đô la doanh thu ngoại tệ kể từ năm 2022, chủ yếu nhờ xuất khẩu vũ khí và binh lính sang Nga.
Cơ quan tình báo Ukraine ước tính rằng Bình Nhưỡng đã cung cấp tới 50% nhu cầu đạn pháo 122ly và 152ly của Nga vào cuối năm 2025.
Phát ngôn nhân Cục Tình Báo Quân Đội Ukraine, Đại Úy Andriy Yusov, mới đây đã báo cáo rằng Nga đang chuẩn bị triển khai một đơn vị hỏa tiễn chuyên dụng của Bắc Hàn tại khu vực Voronezh phía tây nước này.
Đơn vị này, gồm khoảng 90 người, dự kiến sẽ được trang bị tới 120 hỏa tiễn đạn đạo.
Mới đây, Bình Nhưỡng cũng đã chuyển giao một lô hỏa tiễn đạn đạo tầm ngắn KN-23 và KN-24 mới cho Nga.
Sau gần một năm tạm ngừng, Nga đã nối lại việc sử dụng các loại vũ khí của Bắc Hàn nhằm vào các mục tiêu dân sự, bao gồm cả vụ tấn công gây chết người vào một ngôi nhà dân cư ở vùng Kryvyi Rih hồi ngày 30 tháng 7.
[Kyiv Post: Putin Plans Covert Mobilization, North Korean Deployments]
3. Hunter Biden cho biết bệnh ung thư của cha anh đã di căn: "Nó rất đau đớn và khiến ông suy nhược nghiêm trọng".
Con trai của Cựu Tổng thống Joe Biden, Hunter Biden, cho biết trong một cuộc phỏng vấn rằng bệnh ung thư tuyến tiền liệt của cha anh đã di căn sang các bộ phận khác trong cơ thể và gây đau đớn cho ông, ngay cả khi ông vẫn tiếp tục lên tiếng về các vấn đề công cộng.
Trong một cuộc phỏng vấn sâu rộng với đài BBC News Hunter Biden đã xúc động khi nói về tình trạng sức khỏe của cha mình, mô tả đó là điều rất buồn khi chứng kiến.
"Ung thư đã di căn, lan vào xương và các bộ phận khác," ông nói. "Nó rất đau đớn và gây suy nhược nghiêm trọng về nhiều mặt."
Tổng thống Joe Biden, 83 tuổi, là người đàn ông lớn tuổi nhất từng giữ chức tổng thống Mỹ và tuổi tác của ông là một mối lo ngại trong suốt bốn năm nhiệm kỳ. Ông và các cố vấn Tòa Bạch Ốc đã phải đối mặt với những lời chỉ trích gay gắt vì bị cáo buộc che giấu mức độ nghiêm trọng của các vấn đề sức khỏe, đặc biệt là sau khi ông buộc phải từ bỏ chiến dịch tranh cử nhiệm kỳ thứ hai sau một cuộc tranh luận thảm hại với người kế nhiệm sau này, Tổng thống Trump.
Cựu tổng thống đã tiết lộ việc mình mắc bệnh ung thư vào tháng 5 năm ngoái, chưa đầy bốn tháng sau khi rời Tòa Bạch Ốc.
Vào thời điểm đó, văn phòng của ông cho biết bệnh ung thư của ông được chẩn đoán với điểm Gleason là 9, xếp ông vào Nhóm 5, loại nghiêm trọng nhất.
Tháng 9 năm ngoái, cựu tổng thống cũng đã trải qua phẫu thuật ung thư da, một thủ thuật bao gồm việc cắt bỏ các lớp da mỏng cho đến khi chỉ còn lại mô không bị ung thư ở khu vực được điều trị. Và tháng 10 năm ngoái, ông đã trải qua một đợt xạ trị ung thư tuyến tiền liệt, văn phòng của ông cho biết.
Trong một cuộc phỏng vấn với CBS News hồi tháng 5, cựu đệ nhất phu nhân Jill Biden cho biết gia đình bà đã rất sốc khi biết tin về chẩn đoán này.
"Thật lòng mà nói, tôi vẫn nhớ lúc nhận được chẩn đoán, và tôi thực sự rất sốc," cô ấy nói.
Bà cũng cho biết thêm rằng bệnh ung thư không được phát hiện khi ông đang làm việc tại Tòa Bạch Ốc.
"Vâng, các bác sĩ nói rằng, theo Hiệp hội Tiết niệu Hoa Kỳ, nam giới trên 70 tuổi không cần xét nghiệm PSA, xét nghiệm máu nữa, vì đây là loại ung thư phát triển chậm... Tôi cảm thấy chúng tôi đã nhận được sự chăm sóc tuyệt vời ở Tòa Bạch Ốc, nhưng bằng cách nào đó điều này đã bị bỏ sót," bà nói vào thời điểm đó.
Hunter Biden cho biết việc chẩn đoán bệnh là một cú sốc lớn đối với gia đình.
"Thật buồn khi chứng kiến điều này," Hunter Biden nói. "Điều duy nhất tôi muốn nói về cha tôi, về sức khỏe hiện tại của ông ấy, là tôi ước ông ấy than phiền nhiều hơn, vì tình trạng của ông ấy không tốt."
Nhưng Hunter Biden cho biết cha anh vẫn "hoạt động tích cực", thường xuyên lên tiếng công khai về những vấn đề quan trọng đối với ông.
"Ông ấy vẫn đang làm những gì mình muốn," ông ấy nói. "Ông ấy tin tưởng tuyệt đối vào đất nước này."
Cựu tổng thống sẽ xuất bản một cuốn hồi ký có tựa đề "Hãy hứa với tôi, nước Mỹ" sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ.
[CBSNews: Hunter Biden says his father's cancer has spread: "It's very painful and it's very debilitating"]
4. 10 người bị thương khi các vụ nổ rung chuyển Kyiv và Zaporizhzhia trong bối cảnh các cuộc tấn công bằng hỏa tiễn đạn đạo của Nga trên khắp Ukraine.
Ít nhất 10 người bị thương trong đêm Thứ Hai, 10 Tháng Tám, khi Nga phóng hỏa tiễn đạn đạo tấn công các thành phố trên khắp Ukraine.
Một người được báo cáo bị thương ở Kyiv, trong khi chín người khác bị thương ở Zaporizhzhia.
Những tiếng nổ lớn ở thủ đô và thành phố Zaporizhzhia phía nam bắt đầu vào khoảng 0 giờ 30 phút ngày 11 tháng 8, khi Nga đồng thời phát động các cuộc tấn công vào cả hai thành phố này.
Cùng thời điểm đó, Không quân Ukraine cảnh báo rằng hỏa tiễn đạn đạo của Nga đang tấn công vào Kyiv, Zaporizhzhia, Sumy, Kharkiv và Chernihiv.
Thống đốc tỉnh Zaporizhzhia, Ivan Fedorov, xác nhận rằng lực lượng Nga đã tấn công vào trung tâm khu vực bằng hỏa tiễn đạn đạo và bom dẫn đường. Ông cho biết cuộc tấn công đã gây hư hại nhà cửa và các công trình khác, gây ra hỏa hoạn và mất điện.
Tại thủ đô Kyiv, các phóng viên của Kyiv Independent đã nghe thấy một số tiếng nổ lớn, một số trong đó dường như ở gần trung tâm thành phố.
Thị trưởng Kyiv, Vitali Klitschko, cảnh báo người dân rằng thủ đô đang bị tấn công và kêu gọi mọi người tìm nơi trú ẩn. Ông cho biết các nhân viên y tế đã được điều động đến hiện trường vụ tấn công ở quận Shevchenkivskyi của thành phố, nơi chính quyền địa phương sau đó báo cáo rằng một nhà kho đã bị hư hại.
Nga đã leo thang đáng kể chiến dịch hỏa tiễn chống lại Ukraine trong mùa hè năm 2026 trong khi tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng hệ thống phòng không khiến các thành phố gần như không có khả năng tự vệ trước hỏa tiễn đạn đạo.
[Kyiv Independent: 10 injured as explosions rock Kyiv, Zaporizhzhia amid Russian ballistic missile attacks across Ukraine]
5. Bộ Tổng tham mưu Ukraine cho biết nước này đã tấn công một nhà máy hóa dầu của Nga cách biên giới hơn 2.000 km.
Hôm Thứ Ba, 11 Tháng Tám, phát ngôn nhân Bộ Quốc phòng Ukraine, Chuẩn tướng Oleksii Hromov, cho biết lực lượng Ukraine đã tấn công nhà máy hóa dầu Tobolskneftekhim ở tỉnh Tyumen của Nga vào ngày 10 tháng 8.
Khoảng 1 giờ chiều giờ địa phương, một cảnh báo không kích đã được ban hành tại tỉnh Tyumen sau một cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa. Thống đốc vùng Alexander Moor cho biết vào khoảng 4 giờ 40 chiều rằng các máy bay điều khiển từ xa rơi xuống đã gây ra hỏa hoạn tại một cơ sở công nghiệp, nhưng không nêu rõ địa điểm xảy ra vụ việc.
Cơ sở bị hư hại nằm ở thành phố Tobolsk, cách biên giới Ukraine-Nga khoảng 2.200 km. Theo Chuẩn tướng Oleksii Hromov, vụ tấn công đã nhắm vào đơn vị phân tách khí trung tâm của nhà máy.
Hàng năm, nhà máy này giải quyết 6,6 triệu tấn nguyên liệu và sản xuất các vật liệu được coi là rất quan trọng đối với tổ hợp công nghiệp quân sự của Nga, bao gồm butadien, isobutylene, anhydrit maleic và MTBE, một chất phụ gia oxy hóa có chỉ số octan cao.
Theo báo cáo, các sản phẩm này được sử dụng để sản xuất các thành phần nhiên liệu hỏa tiễn, nhiên liệu hàng không, vật liệu composite cho máy bay điều khiển từ xa và xăng có chỉ số octan cao.
Chuẩn tướng Oleksii Hromov cho biết thêm, mức độ thiệt hại do vụ tấn công gây ra vẫn đang được đánh giá.
Tổng thống Volodymyr Zelenskiy cho biết tầm bắn của cuộc tấn công này thể hiện "một thành tựu rất đáng kể" đối với lực lượng Ukraine.
"Khu vực này hiện đã nằm trong tầm bắn của các cuộc tấn công chính xác của chúng ta.... Tôi cảm ơn tất cả mọi người vì sự chính xác của họ," ông nói trong bài phát biểu tối ngày 10 tháng 8.
"Sẽ có thêm nhiều cuộc tấn công chính xác của Ukraine để chứng minh cho Nga và người dân Nga thấy rằng hòa bình là điều cần thiết."
Trước đó vào ngày 10 tháng 8, lực lượng Ukraine cũng tấn công một cơ sở khác trong ngành công nghiệp dầu mỏ của Nga, một nhà máy lọc dầu ở Tatarstan, trong khi hệ thống phòng không Nga được tường trình đã đánh chặn 456 máy bay điều khiển từ xa trong đêm.
Chuẩn tướng Oleksii Hromov sau đó xác nhận vụ tấn công vào nhà máy lọc dầu Taneco, cho biết đã có báo cáo về một vụ cháy tại cơ sở ở Nizhnekamsk. Mức độ thiệt hại chưa được xác định rõ ngay lập tức.
Ukraine thường xuyên tấn công các cơ sở hạ tầng quân sự sâu bên trong lãnh thổ Nga và các vùng lãnh thổ bị tạm chiếm như một phần nỗ lực làm suy yếu khả năng tiếp tục tiến hành chiến tranh của Mạc Tư Khoa.
[Kyiv Independent: Ukraine strikes Russian petrochemical plant more than 2,000 kilometers from border, General Staff says]
6. Một kỹ thuật viên 28 tuổi đã thiệt mạng khi đang điều khiển các trực thăng để che giấu chúng khỏi các cuộc tấn công của Nga. Nhiều câu hỏi được đặt ra về những gì thực sự đã xảy ra.
Một kỹ thuật viên hàng không trẻ người Ukraine đã thiệt mạng trong một vụ tai nạn trực thăng khi đang thực hiện nhiệm vụ chiến đấu. Theo thông báo của Hội đồng thành phố Smila, một chiếc trực thăng quân sự đã gặp nạn trong một nhiệm vụ bay chiến đấu tại tỉnh Kirovohrad vào ngày 31 tháng 7.
Vụ tai nạn đã cướp đi sinh mạng của một người đàn ông 28 tuổi, người làm nhiệm vụ bảo dưỡng máy bay trực thăng bảo vệ bầu trời Ukraine. Trung úy Yaroslav Demchevskyi, 28 tuổi, kỹ thuật viên hàng không trên một chuyến bay trực thăng thuộc phi đội trực thăng của một đơn vị quân đội Ukraine, đã thiệt mạng khi chiếc trực thăng rơi.
Anh ta đã hy sinh trong một nhiệm vụ bảo vệ máy bay.
Demchevskyi đã hy sinh khi đang thực hiện một nhiệm vụ cụ thể. Theo hội đồng thành phố, anh đã thiệt mạng trong một nhiệm vụ bay chiến đấu nhằm phân tán thiết bị hàng không khi chiếc trực thăng bị rơi. Thành phố đã vinh danh sự phục vụ của anh.
"Yaroslav Demchevskyi đã hy sinh khi thực hiện nhiệm vụ bay chiến đấu để phân tán thiết bị hàng không khi xảy ra vụ rơi trực thăng. Anh ta đã bảo vệ bầu trời Ukraine đến hơi thở cuối cùng", chính quyền Ukraine cho biết.
Nguyên nhân vụ tai nạn vẫn chưa được làm rõ. Cả Bộ Quốc phòng lẫn Không quân đều chưa công bố dữ liệu về nguyên nhân vụ tai nạn trực thăng ở tỉnh Kirovohrad.
Thông tin về vụ việc chỉ được biết đến thông qua thông báo chính thức của Hội đồng thành phố Smila về việc tổ chức lễ tiễn biệt anh Demchevskyi. Do chưa có thông tin chính thức từ phía quân đội, nguyên nhân, liệu là do lỗi kỹ thuật, tai nạn hay hành động của Nga, vẫn chưa được xác định.
Hiện tại, thông tin đầy đủ nhất về cái chết của Demchevskyi đến từ cộng đồng sẽ chôn cất anh.
Nhiệm vụ phân tán máy bay đã cướp đi sinh mạng anh, chính là minh chứng cho sự khốc liệt của chiến tranh: máy bay phải liên tục được di chuyển và ẩn nấp vì Nga truy lùng chúng trên mặt đất, và chính trong công việc bảo vệ những chiếc máy bay che chở bầu trời đó, Demchevskyi đã thiệt mạng. Anh ta mới 28 tuổi.
[Euromaidan: 28-year-old technician died dispersing helicopters to hide them from Russian strikes. Questions arise about what really happened]
7. Israel bác bỏ kế hoạch hòa bình của Tổng thống Trump dành cho Gaza.
Hôm Chúa Nhật, Israel đã bác bỏ kế hoạch hòa bình do Mỹ hậu thuẫn dành cho Gaza, Thủ tướng Benjamin Netanyahu tuyên bố rằng Israel sẽ không rút quân khỏi vùng lãnh thổ này cho đến khi Hamas bị "giải giáp hoàn toàn".
Khi bác bỏ kế hoạch 15 điểm do Hội đồng Hòa bình của Tổng thống Donald Trump soạn thảo, Netanyahu cũng tuyên bố rằng chừng nào ông còn giữ chức thủ tướng, "một nhà nước Palestine sẽ không được thành lập" ở Gaza hay Bờ Tây.
Kế hoạch hòa bình do Tòa Bạch Ốc công bố vào cuối tháng 7 yêu cầu Hamas phải giải giáp và từ bỏ quyền cai trị ở Gaza, trong khi Israel phải rút quân khỏi lãnh thổ này.
Hamas tuyên bố sẽ bắt đầu giải giáp vũ khí, nhưng những ngày gần đây, một quan chức Israel cho biết nước này vẫn còn "những lo ngại nghiêm trọng về an ninh".
Việc bác bỏ này là một đòn giáng mạnh vào các cuộc đàm phán hòa bình mà chính quyền Trump đã làm trung gian kể từ tháng 9. Tổng thống Mỹ đã mô tả kế hoạch này, hiện đã bị Israel bác bỏ, là một "bước quan trọng hướng tới việc Gaza cuối cùng được cai trị bởi một chính phủ Palestine mới" và mang lại cho Israel "sự an ninh mà họ xứng đáng được hưởng".
Israel dường như khó có khả năng rút quân đáng kể hoặc đưa ra các nhượng bộ khác trước cuộc bầu cử lập pháp dự kiến diễn ra vào tháng 10. Ông Netanyahu đang đối mặt với một cuộc chiến tái tranh cử khó khăn, khi các đối tác liên minh cực hữu của ông thúc giục ông nói tiếp gây áp lực lên Hamas và giữ quân ở Gaza. Phe đối lập cũng cáo buộc ông không ngăn chặn được vụ tấn công ngày 7 tháng 10 năm 2023, khi các chiến binh do Hamas lãnh đạo tấn công các khu dân cư của Israel, giết chết khoảng 1.200 người, chủ yếu là thường dân, và bắt giữ 251 người khác làm con tin. Israel đã đáp trả bằng một cuộc tấn công quân sự mạnh mẽ khiến hơn 73.000 người thiệt mạng, theo Bộ Y tế Gaza.
Thủ tướng Netanyahu hôm Chúa Nhật cho biết ông hiện đang thảo luận với các quan chức Mỹ về cách thức tiến hành tiếp theo. Ông nói: "Họ có những ý tưởng, một số trong đó chúng tôi chấp nhận được và một số thì không, và chúng tôi biết cách đối phó với những điều đó."
[Politico: Israel rejects Trump’s peace plan for Gaza]
8. Nga có thể phóng 77 hỏa tiễn vào Ukraine trong một loạt bắn duy nhất - và có kế hoạch tăng cường khả năng này, theo lời chỉ huy máy bay điều khiển từ xa.
Tư lệnh Lực lượng Hệ thống Điều khiển từ xa Robert "Madyar" Brovdi cho biết trong một cuộc phỏng vấn với hãng tin AP được công bố ngày 10 tháng 8 rằng Nga hiện có khả năng phóng đồng thời tới 77 hỏa tiễn đạn đạo và hỏa tiễn hành trình trong các cuộc tấn công nhằm vào Ukraine.
Báo cáo của Brovdi được đưa ra trong bối cảnh chiến dịch không kích của Nga nhằm vào các thành phố của Ukraine đang leo thang, khiến các thành phố này dễ bị tấn công bằng hỏa tiễn đạn đạo do thiếu hụt nghiêm trọng đạn dược phòng không.
Ông Brovdi nói với hãng tin AP rằng Nga hiện có khả năng phóng 77 hỏa tiễn cùng lúc. Mục tiêu là tăng con số đó lên 200.
"Ngay cả khi họ chỉ làm được một nửa điều đó, tất cả sẽ bay về phía chúng tôi," Brovdi nói.
Sau đó, ông Brovdi làm rõ rằng loạt phóng đồng thời này bao gồm các loại hỏa tiễn khác nhau được phóng từ nhiều bệ phóng khác nhau, bao gồm cả tàu chiến và máy bay. Trong khi một số hãng tin ban đầu đưa tin rằng Nga có thể phóng 77 hỏa tiễn đạn đạo trong một loạt, ông Brovdi giải thích rằng loạt phóng đồng thời sẽ bao gồm cả hỏa tiễn đạn đạo và hỏa tiễn hành trình.
"Kẻ thù đang nỗ lực tăng cường hỏa lực đồng thời lên tới 200 đơn vị, nhưng điều này không chỉ đề cập đến hỏa tiễn đạn đạo," ông nói.
Ông cho biết sự hiểu lầm này xuất phát từ lỗi dịch thuật.
Việc làm rõ vấn đề này rất quan trọng, vì hệ thống phòng thủ hỏa tiễn đạn đạo hiện là điểm yếu lớn nhất trong lá chắn không phận của Ukraine. Hệ thống phòng không duy nhất mà Kyiv có thể bắn hạ vũ khí đạn đạo của Nga một cách đáng tin cậy là hệ thống Patriot do Mỹ sản xuất - và Ukraine gần như đã cạn kiệt hỏa tiễn đánh chặn Patriot.
Ông Brovdi cũng nói với hãng tin AP rằng Nga đã tăng cường số lượng máy bay điều khiển từ xa phản lực kiểu Shahed phóng vào Ukraine, làm quá tải thêm hệ thống phòng không vốn đã yếu kém của nước này. Ông cho biết số lượng máy bay điều khiển từ xa phản lực đã tăng gấp hai lần rưỡi trong những tuần gần đây.
Trong cuộc phỏng vấn, ông Brovdi cũng thảo luận về khả năng ngày càng tăng của Ukraine trong việc tấn công các mục tiêu trọng yếu sâu trong lãnh thổ Nga và ở Crimea bị tạm chiếm, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phá hủy các cơ sở sản xuất hỏa tiễn của Nga bằng các cuộc tấn công tầm xa.
Báo cáo của Brovdi về tham vọng phóng hỏa tiễn của Nga được đưa ra cùng ngày mà cơ quan tình báo quân sự Ukraine, gọi tắt là HUR tiết lộ những chi tiết mới về khả năng sản xuất của Mạc Tư Khoa.
Theo Vadym Skibitsky, phó giám đốc HUR, sản lượng hàng tháng của Nga đối với các hỏa tiễn chủ chốt, bao gồm cả hỏa tiễn hành trình Kalibr và Kh-101, đang vượt chỉ tiêu khoảng 10-20%.
[Kyiv Independent: Russia can fire 77 missiles at Ukraine in single salvo — and plans to scale up, drone commander says]
9. Canada trừng phạt nhà sản xuất xe thiết giáp vì có quan hệ với Nga.
Ngày 10 tháng 8, Ngoại trưởng Canada, Anita Anand, thông báo Canada đang áp đặt lệnh trừng phạt đối với Streit Group vì có quan hệ với Nga.
Tập đoàn Streit, có trụ sở chính tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, gọi tắt là UAE và do doanh nhân người Canada gốc Nga Guerman Goutorov điều hành, bị cáo buộc cung cấp cho tổ hợp công nghiệp quân sự của Nga bất chấp việc Liên Hiệp Âu Châu đã hoàn tất gói trừng phạt thứ 21 đối với Nga vào ngày 23 tháng 7.
Canada đã xác nhận lệnh trừng phạt đối với công ty này, cho biết nhiều báo cáo đáng tin cậy chỉ ra rằng các xe thiết giáp do công ty sản xuất đã được Lực lượng Vệ binh Quốc gia Nga (Rosgvardia) sử dụng.
"Tập đoàn Streit tiếp tục tiếp tay cho cỗ máy chiến tranh của Nga và cuộc chiến tranh vô cớ và phi lý của chế độ Putin chống lại Ukraine," Bộ Ngoại giao Canada nhận định.
Ngoại trưởng Anand nói: "Những biện pháp này sẽ làm gián đoạn dòng chảy công nghệ và thiết bị tiếp sức cho cuộc chiến của Điện Cẩm Linh", đồng thời cho biết thêm rằng "Canada sẽ tiếp tục truy cứu trách nhiệm những cá nhân và tổ chức thu lợi từ cuộc xâm lược toàn diện, bất hợp pháp này".
Các biện pháp trừng phạt, được áp đặt theo Quy định về các biện pháp kinh tế đặc biệt (Nga) của Canada, được thiết kế để làm giảm khả năng quân sự của Nga bằng cách phá vỡ khả năng cung cấp thiết bị quân sự của Tập đoàn Streit cho quân đội Nga.
Theo Bộ Ngoại giao Canada, việc trừng phạt công ty này là động thái phù hợp với các biện pháp mà Ukraine đã áp dụng vào năm 2023, cùng với Liên Hiệp Âu Châu và Thụy Sĩ vào năm 2025.
Từ năm 2014, Canada đã trừng phạt hơn 3.500 cá nhân và thực thể có liên quan đến các hành vi vi phạm toàn vẹn lãnh thổ của Ukraine.
Ngoại trưởng Andrii Sybiha bày tỏ lòng biết ơn đối với cả Ngoại trưởng Anand và Canada, đồng thời nhấn mạnh rằng "các biện pháp trừng phạt chỉ phát huy tác dụng khi chúng nhất quán và được phối hợp chặt chẽ".
Thông báo này được đưa ra cùng ngày Văn phòng Bảo vệ và Tình báo Nhà nước Áo phát hiện một âm mưu quốc tế khác, trong đó một công ty có trụ sở tại Vienna cung cấp thiết bị được tường trình dùng để sản xuất động cơ cho hỏa tiễn và máy bay chiến đấu của Nga, theo báo Ukrainska Pravda.
Gói trừng phạt thứ 21
Gói trừng phạt thứ 21 của Liên Hiệp Âu Châu đối với Nga đã thông qua các biện pháp bao gồm tạm dừng cơ chế điều chỉnh tự động giá trần dầu mỏ cho đến ngày 15 tháng 7 năm 2027, cũng như cấm các tàu chở dầu thuộc "Hạm đội Bóng tối" của Nga tiếp cận cảng.
Liên Hiệp Âu Châu cũng tấn công vào hơn 15 nền tảng dịch vụ liên quan đến tiền điện tử có trụ sở tại các quốc gia ngoài Liên Hiệp Âu Châu, áp đặt lệnh cấm cấp visa đối với các binh sĩ từng tham chiến ở Nga, cùng với lệnh cấm giao dịch đối với 33 tổ chức tài chính và 4 ngân hàng của Nga.
Tính đến ngày 7 tháng 8, Liên Hiệp Âu Châu đã áp đặt các biện pháp trừng phạt mới nhắm vào tổ hợp công nghiệp quân sự của Nga, nhằm đáp trả việc Nga cố tình tấn công vào dân thường và cơ sở hạ tầng dân sự ở Ukraine.
Thêm năm cá nhân giữ chức vụ cao cấp trong các công ty quốc phòng và công nghệ quân sự của Nga đã bị trừng phạt.
[Kyiv Post: Canada Sanctions Armored Vehicle Manufacturer Over Russia Ties]
10. Thượng Nghị Sĩ đảng Cộng hòa Bill Cassidy cho rằng Tổng thống Trump cần phải "lên tiếng mạnh mẽ về con đường phía trước" trong vụ Iran.
Thượng Nghị Sĩ đảng Cộng hòa Bill Cassidy của Louisiana cho biết Tổng thống Trump cần phải nói chuyện với công chúng Mỹ về hướng đi tiếp theo trong vấn đề Iran, sau khi các nỗ lực ngoại giao thất bại và xung đột leo thang trong những tuần gần đây.
Trong chương trình "Face the Nation with Margaret Brennan" phát sóng hôm Chúa Nhật, Cassidy lưu ý rằng Phó Tổng thống JD Vance đã tham dự một bữa trưa của đảng Cộng hòa tại Thượng viện tuần trước, nơi Cassidy cho biết Vance "đã giải thích rất tốt quan điểm về cách tiến lên phía trước". Thượng Nghị Sĩ đảng Cộng hòa đến từ Louisiana cho biết một người khác tại bữa trưa đã nói với phó tổng thống rằng tổng thống cần chia sẻ thông điệp tương tự với người dân Mỹ.
"Và JD nói, ‘À, tổng thống đã nói rồi,’ Cassidy nói. ‘Ý tôi là, có thể họ đã nói rồi, nhưng điều đó đang bị lấn át bởi tất cả những điều khác đang được nói đến, vì vậy tôi nghĩ tổng thống cần phải lên tiếng mạnh mẽ về con đường phía trước, và đến một lúc nào đó, con đường đó có thể hiệu quả hay không, nhưng ít nhất cần phải có cuộc đối thoại đó với người dân Mỹ.’"
Cassidy nhắc lại lộ trình mà ông cho rằng Vance đã vạch ra cho các Thượng Nghị Sĩ đảng Cộng hòa, trong đó bao gồm việc gây áp lực lên Iran, chẳng hạn như bằng các biện pháp phong tỏa, để gây ra cho họ "đủ khó chịu khiến họ thực sự quay trở lại bàn đàm phán". Đồng thời, chiến lược này bao gồm việc Mỹ tìm cách làm giảm hiệu quả các nỗ lực của Iran ở eo biển Hormuz bằng cách vận chuyển dầu qua đó.
Cassidy nói: "Việc tiếp tục gây áp lực kinh tế, đồng thời giảm bớt áp lực lên phương Tây, cũng như các chiến dịch chọn lọc liên tục, là một phần của chiến lược dài hạn. Đây không phải là điều sẽ kết thúc ngay lập tức, mà là điều sẽ dần dần đưa cuộc chiến đến hồi kết."
[CBSNews: GOP Sen. Bill Cassidy says Trump needs to "come out and speak forcefully on what the path forward is" in Iran]
11. Nga có những lựa chọn nào nếu nước này tiến hành một cuộc tấn công "có giới hạn"?
Các vụ tranh giành đất nhỏ
Đây thường được xem là kịch bản xấu nhất có thể xảy ra nhưng lại khá thực tế. Các quan chức Mỹ cho biết, càng về sau, khả năng này càng cao.
Một số nhà phân tích cho rằng nếu Nga thực sự tiến hành chiếm một phần lãnh thổ NATO, họ có thể sẽ tập trung binh lính gần biên giới phía đông của Estonia, Latvia hoặc Lithuania. Một số binh lính này có thể được triển khai để gây rối loạn lực lượng NATO đang theo dõi những khu vực mà Nga có thể cố gắng tiến vào, che giấu mục tiêu thực sự và buộc NATO phải dàn trải lực lượng phòng thủ.
Khi binh lính Nga vượt biên giới, họ sẽ được hộ tống bởi các hệ thống tác chiến điện tử nhằm gây nhiễu thông tin liên lạc và định vị của NATO, cũng như các cuộc tấn công mạng.
Một khi chiếm được một vùng đất, Mạc Tư Khoa sẽ nhanh chóng bố trí lực lượng phòng không tại khu vực đó, có khả năng bắn hạ máy bay NATO bay sát tầm bắn nhằm tấn công lực lượng Nga, một số chuyên gia dự đoán.
NATO đang tích cực diễn tập cho kịch bản này xảy ra trong bốn năm tới. Quân đoàn phản ứng nhanh đồng minh, gọi tắt là ARRC, một trong những lực lượng NATO đầu tiên được triển khai nếu xe tăng Nga chuẩn bị tiến vào các nước Baltic, đã tiến hành diễn tập chiến tranh về cuộc xâm lược của Nga vào ba quốc gia này năm 2030 vào tháng 5 năm nay.
NATO cho biết họ chọn năm 2030 vì đó là thời điểm mối đe dọa từ Nga sẽ "nghiêm trọng nhất".
Nhưng Nga đã và đang xây dựng một doanh trại hoàn toàn mới để chứa tới 6.000 binh sĩ tại Petrozavodsk, một thành phố ở phía tây bắc nước Nga gần Phần Lan, đài truyền hình YLE của nước này đưa tin hồi tháng 6. Truyền thông Nga cũng đưa tin riêng rằng Nga đang xây dựng "hơn 50 cơ sở từ đầu" ở vùng Karelia giáp biên giới Phần Lan.
Một kịch bản khác có thể là các hoạt động xung quanh khe núi Suwałki, theo lời Ed Arnold, cố vấn cao cấp về quốc phòng của tổ chức The D Group gồm các nhà lãnh đạo doanh nghiệp và chuyên gia.
Một dải đất nhỏ gần biên giới Ba Lan-Lithuania, nối liền Belarus với vùng lãnh thổ Kaliningrad của Nga, khe hở Suwałki luôn là mối lo ngại thường trực ở Đông Âu. Khe hở Suwałki dài 40 dặm này thỉnh thoảng được mô tả là điểm yếu của NATO và là biên giới được phòng thủ kiên cố nhất của liên minh.
Arnold nói với Newsweek rằng binh lính Nga có thể tiến vào khe hở từ Kaliningrad hoặc từ Belarus, tràn ra ngoài và mở rộng hành lang bằng cách xâm lấn lãnh thổ Ba Lan và Lithuania.
Nhưng cuộc tấn công đó không nhất thiết phải huy động một lượng lớn binh lính Nga. Một cuộc diễn tập quân sự do báo Die Welt của Đức thực hiện vào tháng 12, mô phỏng cuộc xâm lược Lithuania của Nga vào tháng 10 năm 2026, cho thấy chỉ với 15.000 quân, Nga đã có thể chiếm được thành phố Marijampole của Lithuania từ eo biển Suwałki.
Trong cuộc diễn tập chiến tranh, Mỹ không viện dẫn Điều 5, và Đức do dự, cuối cùng để Nga giành chiến thắng trong việc chiếm đoạt lãnh thổ và đạt được mục tiêu làm suy yếu NATO.
Ông Arnold nói: "Putin biết ông ấy không thể làm được điều đó bằng quân sự, nhưng ông ấy có thể làm được bằng chính trị."
Tấn công kết hợp
"Tấn công hỗn hợp" là thuật ngữ chung cho các hoạt động không dẫn đến giao tranh trực diện, chẳng hạn như tấn công mạng, chiến dịch thông tin, các vụ đốt phá hoặc tấn công vào cơ sở hạ tầng dễ bị tổn thương, như cáp ngầm dưới biển. NATO cho biết Nga đã tiến hành chiến tranh hỗn hợp với liên minh này trong nhiều năm.
"Chúng tôi kêu gọi Nga ngừng các hoạt động gây bất ổn này", liên minh này cho biết trong một tuyên bố hồi tháng trước sau những gì họ gọi là "các hoạt động mạng độc hại dai dẳng" từ Mạc Tư Khoa.
Ít nhất 13 tuyến cáp ngầm dưới biển Baltic đã bị hư hại trong khoảng thời gian từ mùa thu năm 2023 đến đầu năm 2025. Phần lớn dữ liệu trên thế giới được truyền tải qua các tuyến cáp ngầm dưới biển, đóng vai trò nền tảng cho phần lớn cuộc sống thường nhật. Việc tấn công vào các tuyến cáp này có thể gây ra những hậu quả quân sự và dân sự to lớn, đồng thời mang lại cho đối phương lợi thế lớn trong việc thực hiện các hoạt động khác.
Giới chức Đức hôm thứ Tư cho biết họ đã phát hiện một máy bay điều khiển từ xa mang chất nổ tại phi trường Leipzig, một trung tâm quân sự và hậu cần quan trọng ở phía đông nước này. Cảnh sát Đức đã được điều động để giải quyết thiết bị này, được tường trình tìm thấy gần các máy bay thuộc hãng hàng không Antonov của Ukraine.
Phần lớn viện trợ cho Ukraine được chuyển qua Leipzig, cũng như nhiều hoạt động của NATO.
Bộ trưởng Nội vụ Đức Alexander Dobrindt cho biết các quan chức đang coi vụ việc này là một "mối đe dọa lai chuyên nghiệp" và đang điều tra xem liệu nó có phải do một thế lực nước ngoài dàn dựng hay không.
Cuối năm 2024, có thông tin cho rằng các quan chức tình báo phương Tây nghi ngờ Nga âm mưu đặt các thiết bị gây cháy lên máy bay chở hàng, bao gồm cả các máy bay hướng đến Mỹ.
Tháng 7 năm 2024, bốn kiện hàng được gửi từ Lithuania đến Vương quốc Anh và Ba Lan, trong đó một kiện bốc cháy ngay trước khi được chất lên máy bay ở Leipzig. Một kiện khác bốc cháy trong kho hàng ở Anh, và kiện thứ ba bị đốt cháy trên một chiếc xe tải ở Ba Lan.
Mạc Tư Khoa bị cáo buộc liên quan đến một loạt vụ đốt phá tài sản có liên hệ với cựu Thủ tướng Anh Keir Starmer, và hai người được tường trình có liên hệ với tình báo Nga đã bị kết án ở Anh vào tháng Sáu.
Đại sứ quán Nga tại Anh tuyên bố vào thời điểm đó: "Chúng tôi bác bỏ mọi nỗ lực nhằm liên kết Nga hoặc Bộ Ngoại giao Nga với các hoạt động bất hợp pháp".
"Tốc độ, quy mô và cường độ của các mối đe dọa hỗn hợp đã gia tăng trong những năm gần đây," Tổng thư ký NATO Mark Rutte cho biết vào tháng Giêng. "Việc chuẩn bị để ngăn chặn, chống lại và ứng phó với các cuộc tấn công hỗn hợp, dù là do nhà nước hay các chủ thể phi nhà nước thực hiện, là ưu tiên hàng đầu của NATO."
[Newsweek: What are the options for Russia, should it attempt a "limited" attack?]
12. Máy bay chiến đấu MiG-29 của Ukraine bị rơi trong một nhiệm vụ chiến đấu ở Odessa, phi công an toàn.
Theo thông báo của Không quân Ukraine, một máy bay chiến đấu MiG-29 của nước này đã bốc cháy trong một nhiệm vụ chiến đấu tại tỉnh Odesa vào tối ngày 10 tháng 8.
Phi công đã cố gắng cứu chiếc máy bay, nhưng không thể cứu vãn được, theo thông báo của Không quân. Phi công đã kịp thời nhảy dù thoát khỏi máy bay trước khi rơi và được đưa đến cơ sở y tế.
Theo thông báo của quân đội, chiếc máy bay phản lực bốc cháy do một "tình huống bất thường" trong quá trình phóng hỏa tiễn không đối không khi đang tấn công mục tiêu địch ở tỉnh Odesa. Vụ cháy khiến phi công mất kiểm soát máy bay.
Lực lượng Không quân cho biết nguyên nhân vụ việc hiện đang được điều tra.
Vụ tai nạn xảy ra khoảng hai tuần sau khi một chiếc F-16 của Ukraine gặp nạn vào ngày 29 tháng 7 do sự việc khẩn cấp trên không trong một nhiệm vụ chiến đấu. Trong trường hợp đó, phi công cũng đã kịp thời nhảy dù thoát hiểm an toàn khỏi máy bay.
MiG-29 là máy bay chiến đấu đa năng hai động cơ do Liên Xô thiết kế, được phát triển vào những năm 1970 và đưa vào phục vụ đầu những năm 1980. Ukraine tiếp tục vận hành loại máy bay này với các cấu hình nâng cấp cho nhiệm vụ phòng không và tấn công như một phần của phi đội không quân chiến đấu của mình.
Cuối tháng 6 năm 2026, Ukraine mất thêm một chiếc máy bay MiG-29 khi nó bị rơi trong một nhiệm vụ ở tỉnh Poltava. Phi công đã nhảy dù an toàn và được điều trị y tế.
Một tai nạn hàng không xảy ra ngay trước đó đã gây thiệt mạng: Vào tối ngày 16 tháng 6, một máy bay ném bom Su-24 của Ukraine đã rơi xuống tỉnh Khmelnytskyi, khiến cả phi công và hoa tiêu thiệt mạng.
[Kyiv Independent: Ukrainian MiG-29 fighter jet crashes during combat mission in Odesa, pilot safe]
13. "Chúng tôi kiểm soát hoàn toàn eo biển này," Tổng thống Trump nói, nhưng Iran "có thể gây rắc rối."
Tổng thống Trump nói với các phóng viên hôm thứ Hai rằng Mỹ kiểm soát eo biển Hormuz 100% nhưng thừa nhận rằng Iran "có thể gây rắc rối" ở tuyến đường thủy quan trọng này.
"Chúng tôi kiểm soát eo biển hoàn toàn 100%," Tổng thống Trump nói với các phóng viên tại Phòng Bầu dục sau khi ký sắc lệnh hành pháp về khuyến nghị tiêm chủng cho trẻ em. "Giờ thì họ có thể gây rắc rối không? Có, họ có thể gây rắc rối, nhưng họ đang túng thiếu, họ không có tiền."
Tổng thống Trump gọi cuộc phong tỏa của Hải quân Mỹ đối với các tàu hướng đến Iran là một "bức tường thép" và "bất khả xâm phạm", đồng thời mô tả tình hình ở eo biển với Iran là "hơi phức tạp".
"Thỉnh thoảng, chúng sẽ thả mìn, và chúng ta sẽ tìm thấy chúng," tổng thống nói.
Iran hôm thứ Hai tuyên bố rằng việc phong tỏa eo biển Hormuz không thể được dỡ bỏ thông qua con đường ngoại giao.
Trong cuộc họp báo, khi được hỏi về khả năng giải quyết tình hình tại tuyến đường thủy chiến lược này, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Esmail Baghaei cho biết: "Ngoại giao chắc chắn là một phần trong nỗ lực bảo vệ lợi ích quốc gia của chúng ta. Nhưng khi đối phó với một bên khăng khăng sử dụng vũ lực, việc phong tỏa đường biển không phải là một hành động ngoại giao mà chúng ta có thể giải quyết bằng ngoại giao."
" Chắc chắn rồi, bạn phải sử dụng quyền lực và sức mạnh quân sự, cùng với ngoại giao, để ngăn chặn sự xâm lược của Hoa Kỳ, và đó là những gì đang được thực hiện," ông nói thêm.
Iran và Oman đang tiến hành đàm phán về tương lai của eo biển, nhưng Baghaei cho biết eo biển sẽ không mở cửa trở lại cho đến khi Mỹ dỡ bỏ lệnh phong tỏa các cảng của Iran.
[CBSNews: "We control the strait 100%," Trump says, but Iran "can make trouble"]