Ngày 04-02-2026
 
Văn Hóa
Tin mừng Gia Đình trong nền văn hóa bão hòa về tình dục, chương bốn, tiếp theo và hết
Vũ Văn An
00:45 04/02/2026

4. 5. Con Đường Sám Hối

Cùng một chủ thể đạo đức, thấy mình khó hứa hẹn, ràng buộc mình với tương lai, cũng thấy khó ăn năn và xin tha thứ, hoặc ban sự tha thứ, khi liên hệ mình với quá khứ. Điều này đưa chúng ta đến giải pháp thứ hai mà Đức Hồng Y Kasper đề xuất cho vấn đề người ly hôn và tái hôn dân sự. Đức Hồng Y chỉ ra rằng “Bộ Giáo lý Đức tin đã đưa ra một hướng dẫn vào năm 1994 khi tuyên bố—và Đức Bênêđictô XVI đã nhắc lại điều này tại Đại hội Gia đình Thế giới ở Milan năm 2012—rằng người ly hôn và tái hôn nhất định không thể rước lễ, nhưng quả có thể rước lễ thiêng liêng. (44) Nhưng nếu ai đó có thể được kết hợp với Chúa Kitô một cách thiêng liêng, thì “tại sao, người đó lại không thể rước lễ một cách bí tích?” (45) Theo Đức Hồng Y, việc Giáo hội loại trừ những người ly dị và tái hôn khỏi việc Rước lễ bí tích và giới thiệu họ đến điều mà ngài gọi là “con đường cứu rỗi ngoài bí tích” có thể “đặt cấu trúc bí tích cơ bản của Giáo hội vào vòng nghi vấn”. (46)

Thoạt nhìn, lập luận này có vẻ gần như hoàn hảo. Nhưng một lần nữa, tất cả có thể phụ thuộc vào việc chúng ta hiểu chính xác “rước lễ thiêng liêng” là gì và chúng ta hiểu mối quan hệ của nó với “rước lễ bí tích” như thế nào. Như Benoît-Dominique de La Soujeole đã chỉ ra, thuật ngữ này đã được sử dụng để chỉ hai thực tại khác nhau. (47) Theo nghĩa nguyên thủy hơn, thuật ngữ “rước lễ thiêng liêng” đã được các tác giả Kitô giáo và các văn kiện của Giáo hội sử dụng để chỉ hoa trái của việc Rước lễ bí tích, trạng thái được kết hợp thiêng liêng và mật thiết nhất với Chúa Kitô. Theo nghĩa này, “Rước lễ bí tích hướng đến rước lễ thiêng liêng như sự bất toàn hướng đến sự hoàn hảo.”(48) Đây là ý nghĩa mà Công đồng Trent hàm ý khi phân biệt ba cách rước lễ Thánh Thể: “một số người chỉ rước lễ cách bí tích vì họ như những kẻ tội lỗi”, (49) Rồi có những người “chỉ rước lễ cách thiêng liêng”, họ là những người, đón nhận, bằng ước muốn, bánh từ trời được đặt trước mặt, với một đức tin sống động ‘hoạt động nhờ đức ái’ [Gl 5:6], cảm nghiệm được hoa trái của bánh ấy và hưởng nhờ nó. Nhóm thứ ba rước lễ vừa bí tích vừa thiêng liêng [điều luật 8]; Họ là những người xét mình và chuẩn bị trước để đến gần bàn tiệc thánh này, mặc y phục ăn cưới [so sánh Mt 22:11f.]”, (50)

Khi Công đồng nói về những người rước lễ thiêng liêng, không phải là những người kiêng rước lễ bí tích vì họ ý thức mình có tội trọng chưa xưng, hoặc vì họ công khai sống trong những hoàn cảnh bất hợp lệ. Thật vậy, các Nghị phụ Công đồng nói về những người có “một đức tin sống động ‘hoạt động qua tình yêu’”, một cách khác để nói rằng họ đang sống trong tình trạng ân sủng. Có thể có nhiều lý do khác nhau khiến họ muốn rước lễ chỉ vì ước muốn. Thứ nhất, có bối cảnh văn hóa thời trung cổ và đầu thời hiện đại, khi nhiều người nghĩ rằng bằng cách kiêng rước lễ bí tích, họ sẽ thể hiện sự tôn trọng đặc biệt đối với bí tích. (51) Mặc dù cách hiểu ngày nay về việc phải tôn kính bí tích ra sao có khác, vì việc rước lễ bí tích thường xuyên thường được khuyến khích, chúng ta vẫn có thể nghĩ đến nhiều lý do phi luân lý khác giải thích tại sao người ta muốn rước lễ chỉ vì lòng ước muốn: họ có thể muốn tôn trọng việc giữ chay Thánh Thể; họ đến Thánh lễ muộn đến mức cảm thấy mình thiếu bình tĩnh; họ tự phát và không thực sự phạm tội, cảm thấy tức giận với người khác đã làm phiền họ chỉ năm phút trước Thánh lễ. Theo de La Soujeole, chúng ta nên nghĩ về một người rước lễ thiêng liêng như vậy như một người “đã chịu phép rửa tội đầy sốt sắng, cuộc sống của họ được hòa nhịp với việc tham gia vào mầu nhiệm Thánh Thể, người thực hiện các việc rước lễ thiêng liêng (hành vi đức tin) trong cuộc sống hằng ngày, và nhờ đó đạt tới hoa trái trọn vẹn của sự rước lễ bí tích mà họ đã lãnh nhận trước đó”. (52) Nếu chúng ta hiểu “rước lễ thiêng liêng” theo cách này, thì lời phản đối của Đức Hồng Y Kasper tất yếu sẽ như sau: “Người rước lễ thiêng liêng là một với Chúa Giêsu Kitô. Vậy thì làm sao người ấy có thể trái ngược với lệnh truyền của Chúa Kitô? Vậy thì tại sao người ấy lại không thể rước lễ bí tích?” (53)

Tuy nhiên, dường như các văn kiện Huấn quyền gần đây nói về “rước lễ thiêng liêng” theo một nghĩa khác. Trong Sacramentum caritatis, chúng ta đọc thấy: “Ngay cả trong những trường hợp không thể rước lễ bí tích, việc tham dự Thánh lễ vẫn là cần thiết, quan trọng, ý nghĩa và có hiệu quả. Trong những hoàn cảnh như vậy, việc vun trồng ước muốn kết hiệp trọn vẹn với Chúa Kitô qua việc thực hành rước lễ thiêng liêng, điều này được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ca ngợi và được các thánh, những bậc thầy về đời sống thiêng liêng, khuyến khích” (số 55). Ở đây, việc thực hành Rước lễ thiêng liêng dường như không ám chỉ đến sự viên mãn hay hoa trái của việc Rước lễ bí tích, mà đúng hơn là “mong muốn Bí tích Thánh Thể” (54) Trong khi trong bối cảnh trước, “rước lễ thiêng liêng” ám chỉ sự kết hiệp thực sự của ước muốn, thì ở đây, điều dường như đang nói tới chỉ là ước muốn kết hiệp (55) Đó là một ước muốn mà “khi nó lớn lên, cuối cùng có thể dẫn dắt tội nhân đến chỗ đoạn tuyệt với nguyên nhân vẫn còn ngăn cách họ với Bí tích và do đó với sự hiệp thông thiêng liêng hoàn hảo với Chúa Kitô, vốn là hoa trái của Bí tích”, (56) Do đó, rước lễ thiêng liêng không bao giờ là “ngoài Bí tích”: nó luôn hướng đến Bí tích. Thật vậy, trong trường hợp này, nó có nghĩa là vun trồng ước muốn rước lễ bí tích.

Loại rước lễ thiêng liêng này liên quan đến hai hạng người. Thứ nhất, là trường hợp của những người mà trong lương tâm họ ý thức mình đã phạm tội trọng chưa xưng. Việc rước lễ thiêng liêng, tức là việc nuôi dưỡng lòng khao khát bí tích, sẽ giúp họ mở lòng đón nhận ân sủng hoán cải, nhận được sức mạnh để từ bỏ tội lỗi và đón nhận bí tích hòa giải. Nhưng rồi “cũng là trường hợp của những người, bất kể phán đoán của lương tâm họ ra sao, đang ở trong một hoàn cảnh bên ngoài khách quan trái ngược với luân lý Kitô giáo.” (57) Ví dụ, đây là trường hợp của những người đã ly hôn và tái hôn dân sự. Ở đây, Đức Hồng Y Caffarra nhấn mạnh rằng “lý do tại sao Giáo Hội không cho phép những người đã ly hôn và tái hôn được rước lễ không phải vì Giáo Hội tự động cho rằng tất cả họ đều đang ở trong tình trạng tội trọng. Chúa, Đấng thấu suốt tâm hồn, biết rõ lương tâm chủ quan của những người này. Chính Thánh Phaolô đã nói ‘đừng xét đoán vội vàng’, nhưng bởi vì, và điều này đã được viết trong Familiaris Consortio, ‘tình trạng và điều kiện sống của họ trái ngược một cách khách quan với sự kết hợp tình yêu giữa Chúa Kitô và Giáo Hội được biểu tượng và thực hiện qua Bí tích Thánh Thể’ (FC 84) Thánh Gioan Phaolô II cũng nhận xét rằng “việc phán xét tình trạng ân sủng của một người rõ ràng chỉ thuộc về người liên quan.” (59) Mỗi người được kêu gọi tự vấn lương tâm của mình và cuối cùng đứng trước Thiên Chúa như là vị thẩm phán cuối cùng của mình. Tuy nhiên, Giáo Hội cảm thấy có thẩm quyền phán xét tình trạng sống khách quan của một người, do đó “trong những trường hợp hành vi bên ngoài trái ngược nghiêm trọng, rõ ràng và kiên quyết với chuẩn mực luân lý, Giáo Hội, trong mối quan tâm mục vụ của mình đối với trật tự tốt đẹp của cộng đồng và vì tôn trọng bí tích, không thể không cảm thấy trực tiếp can dự”, vào việc không cho những người đang sống trong những hoàn cảnh như vậy được Rước lễ Thánh Thể. (60)

Tất nhiên, ở đây, Đức Hồng Y Kasper nhận xét rằng “không có người ly dị và tái hôn [trừu tượng].” (61) Nói cách khác, vì hoàn cảnh sống của mỗi người hoàn toàn đặc thù, nên không thể nói về những điều kiện sống khách quan. Chỉ có những trường hợp cá biệt, mỗi trường hợp phải được xem xét riêng biệt. (62) Tuy nhiên, điều này được nói một cách rất duy danh [nominalistically]. Theo cùng một nghĩa, thì sẽ không có tội nhân, người công chính, kẻ giết người, kẻ trộm cắp hay người đức hạnh, nhưng tội lỗi, công lý, giết người, trộm cắp và đức hạnh không phải là khái niệm trống rỗng. Nếu các hành vi xác định một hoàn cảnh sống nhất định có thể được định nghĩa một cách khách quan, thì hoàn cảnh sống đó cũng có thể được định nghĩa một cách khách quan, mà không cần phải viện đến hoàn cảnh hay ý định. Việc các hành vi có thể được định nghĩa như vậy là giáo huấn rõ ràng của thông điệp Veritatis splendor của Đức Gioan Phaolô II: “Không hề phủ nhận ảnh hưởng của hoàn cảnh và đặc biệt là ý định đối với đạo đức, Giáo hội dạy rằng 'có những hành vi tự nó và trong chính chúng, độc lập với hoàn cảnh, luôn luôn sai trái nghiêm trọng vì lý do đối tượng của chúng.' ” (63) Đúng là lý do và cách thức người ta rơi vào tình trạng ly hôn và tái hôn luôn khác nhau và đặc thù, và đúng là ý định và hoàn cảnh có thể làm giảm nhẹ hoặc làm trầm trọng thêm, nhưng không bao giờ biện minh. Vì hoàn cảnh khách quan của họ được xác định bằng những hành vi đặc thù, có thể mô tả rõ ràng, nên hoàn cảnh này không chỉ tương tự mà còn y như nhau: đó là tình trạng hai người sống chung và thường xuyên thực hiện những hành vi dành riêng cho vợ chồng, mặc dù họ không kết hôn, (64) và ít nhất một trong hai người đã kết hôn với người khác.

Vì vậy, khi Giáo Hội phán đoán rằng một trạng thái sống nào đó trái với giáo huấn của Tin mừng, thì thực ra Giáo Hội có thể phán đoán điều gì đó. Khi Giáo Hội không cho rước lễ những người rơi vào tình huống như vậy, Giáo Hội không đưa ra hình phạt. Thay vào đó, Giáo Hội mời gọi họ thay đổi trạng thái sống (ly thân hoặc sống như anh chị em). Lời mời gọi này coi trọng họ như những con người, nghĩa là như những cá nhân mà cuộc sống không phải là điều gì đó tự nhiên xảy đến với họ, mà là những người có khả năng sống cuộc sống của mình vì họ làm chủ cuộc sống của mình và, như những người, nhờ ân sủng của Thiên Chúa có thể thay đổi những điều kiện khách quan của họ. Thực vậy, Giáo Hội đang hành động ở đây như bất cứ người mẹ yêu thương nào đối với con cái mình. Tình yêu đón nhận người khác vô điều kiện—Giáo Hội khuyến khích việc rước lễ thiêng liêng và nhấn mạnh rằng những người ly dị và tái hôn là một phần của Giáo Hội, nhưng đồng thời tình yêu cũng làm mọi cách để kêu gọi người kia, để giúp họ trưởng thành, thậm chí khuyến khích người được yêu thay đổi triệt để nếu họ sống theo cách làm tổn hại đến sự hiệp thông của gia đình và đi ngược lại lợi ích của chính họ. Đây là điều Giáo Hội làm khi không cho những người ly dị và tái hôn dân sự được Rước Lễ Bí Tích; Giáo Hội yêu thương họ bằng cách mời gọi họ thay đổi. Giáo Hội không từ chối phương thuốc Thánh Thể cho những ai “kêu cứu”, biến một người thành công cụ bằng cách biến họ “thành dấu chỉ cho người khác”. Giáo Hội cũng không để “họ chết đói về mặt bí tích để người khác được sống”. (65) Không phải thức ăn nào cũng tốt cho tất cả mọi người (x. 1 Cr 3:2), và không phải thuốc nào cũng chữa lành trong mọi tình trạng. Có những loại thuốc, nếu dùng sai cách, có thể gây tử vong.

Đức Hồng Y Kasper đã đúng khi nhắc đến lòng quảng đại và ân sủng vô biên mà Chúa ban cho tội nhân ăn năn: “Đối với người ăn năn, sự tha thứ là có thể. Nếu sự tha thứ có thể dành cho kẻ giết người, thì cũng có thể dành cho kẻ ngoại tình.” (66) Không còn nghi ngờ gì nữa về điều này. Trong cuộc phỏng vấn với Die Tagespost, Giáo sư Juan José Pérez-Soba đã cảnh báo về những diễn biến có thể khiến ngoại tình trở thành tội lỗi đầu tiên mà người ta có thể nhận được sự tha thứ mà không cần ăn năn, (67) Đức Hồng Y Kasper, đến lượt mình, khi trả lời phỏng vấn trang web tin tức Công Giáo Kath.net, đã trả lời rằng ngài thực sự đã nói về sự cần thiết của sự ăn năn và toàn bộ vấn đề là một “cuộc thảo luận ảo” trong đó ngài bị chỉ trích vì những lập trường mà ngài chưa bao giờ thực sự nắm giữ. (68) Sẽ rất đáng hoan nghênh nếu biết rằng một sự hiểu lầm đơn giản nằm ở gốc rễ của cuộc tranh luận. Để tìm hiểu xem đây có phải là trường hợp hay không, chúng ta sẽ xem xét lại những gì Đức Hồng Y Kasper nói trong cuốn Tin Mừng Gia Đình về sự cần thiết phải ăn năn của người ly dị và tái hôn:

Nhưng nếu một người đã ly dị và tái hôn thực sự hối hận vì đã thất bại trong cuộc hôn nhân đầu tiên, nếu những cam kết từ cuộc hôn nhân đầu tiên được làm rõ và sự quay trở lại dứt khoát ngoài vấn đề, nếu người ấy không thể hủy bỏ những cam kết đã cam kết trong cuộc hôn nhân dân sự thứ hai mà không mang tội lỗi mới, nếu người ấy cố gắng hết sức để sống cuộc hôn nhân dân sự thứ hai trên cơ sở đức tin và nuôi dạy con cái trong đức tin, nếu người ấy khao khát các bí tích như một nguồn sức mạnh trong hoàn cảnh của mình, thì liệu chúng ta có phải từ chối hay có thể từ chối cho người ấy bí tích sám hối và rước lễ, sau một thời gian định hướng lại? (69)

Tất nhiên, tác giả đang giới thiệu chủ đề sám hối ở đây, khi ngài nói, "Nếu một người đã ly hôn và tái hôn thực sự hối hận...". Nhưng những gì tiếp theo sau đó là một trong những chi tiết kỳ lạ nhất của toàn bộ tập sách. Người đã ly hôn và tái hôn hối hận vì điều gì? Liệu họ có hối hận vì đã vi phạm giao ước hôn nhân với người phối ngẫu của mình, một giao ước là dấu chỉ bí tích về tình yêu của Thiên Chúa đối với Hội Thánh của Người không? Liệu họ có hối hận vì đã ngoại tình bằng cách quan hệ tình dục với một người mà họ không phải là vợ/chồng? (70) Không, vì tất cả những điều này, người đã ly hôn và tái hôn không “thực sự hối hận” mà đúng hơn là “người đó đã thất bại trong cuộc hôn nhân đầu tiên”(71).

Giờ đây, chúng ta chỉ có thể hứa những gì trong khả năng của mình để làm hoặc không làm. Lời hứa hôn nhân không thể là lời hứa rằng cuộc hôn nhân của một người sẽ thành công, bởi vì thành công hay thất bại trong hôn nhân không chỉ phụ thuộc vào cá nhân. Cần có hai người để nhảy tango, và đôi khi thậm chí có thể có những hoàn cảnh nằm ngoài khả năng của cả hai, góp phần đáng kể vào sự thất bại trong hôn nhân, khiến việc đổ lỗi trở nên khó khăn. Trong một trường hợp khác, lỗi lầm về sự thất bại có thể chỉ thuộc về một người, trong trường hợp đó có một người khác không có lỗi. Thất bại trong hôn nhân, có thể dẫn đến ly thân, vẫn chưa phải là sự phá vỡ lời hứa hôn nhân, và do đó, bản thân nó không nhất thiết phải là điều mà người ta cần phải ăn năn. Người ta có thể phải ăn năn về những hành vi tự do lựa chọn đã dẫn đến điều đó, nhưng mặt khác, người ta cũng có thể đã làm mọi cách trong khả năng của mình để ngăn chặn điều đó.

Nếu vào ngày cưới, cô dâu và chú rể không hứa hẹn hạnh phúc hôn nhân, thì họ hứa gì với nhau? Họ hứa hẹn sự độc quyền và chung thủy cho đến chết. Lời hứa này có thể được duy trì ngay cả khi trong một số trường hợp, việc tiếp tục chung sống trở nên không thể chịu đựng được. Chỉ khi đôi vợ chồng thực hiện lời hứa này một cách nghiêm túc, họ mới dồn hết tâm huyết vào mối quan hệ; chỉ khi đó, họ mới chống lại được cám dỗ tự coi mình là những kẻ cắm trại, chỉ cần cảm thấy bất tiện là họ sẽ rời đi. Mỗi người sẽ là cơ hội duy nhất cho người kia. "Em là duy nhất của anh", người yêu nói với người mình yêu. "Ngay cả trong trường hợp không thể tưởng tượng được rằng tình yêu của chúng ta tan vỡ, em vẫn sẽ là duy nhất của anh. Anh sẽ luôn để đèn sáng cho em." Hôn nhân bất khả phân ly có nghĩa là cánh cửa luôn rộng mở cho người kia, ngay cả khi phải xa cách mái nhà và giường chiếu. Lời hứa hôn nhân chỉ bị phá vỡ khi một cuộc hôn nhân mới được tìm kiếm. Việc cuộc hôn nhân mới này có được Nhà nước chấp thuận hay không cũng không khác biệt nhiều so với những gì Đức Hồng Y đề xuất. Đúng là Familiaris consortio khuyên các mục tử linh hồn phải phân biệt cẩn thận “giữa những người đã thành tâm cố gắng cứu vãn cuộc hôn nhân đầu tiên của mình và đã bị bỏ rơi một cách bất công với những người, do lỗi lầm nghiêm trọng của chính mình, đã phá hủy một cuộc hôn nhân hợp lệ theo giáo luật” và phải nhận thức được hoàn cảnh chủ quan của những người “đã bước vào cuộc hôn nhân thứ hai vì mục đích nuôi dạy con cái và đôi khi chủ quan tin chắc trong lương tâm rằng cuộc hôn nhân trước đó đã bị phá hủy không thể cứu vãn của họ chưa bao giờ hợp lệ” (72). Cũng đúng là tông huấn của Đức Gioan Phaolô II không sử dụng thuật ngữ “kết hợp ngoại tình”. Tuy nhiên, cùng một văn kiện cũng nói rõ rằng dù sao trong tất cả những trường hợp này, chúng ta đang đối diện với một lối sống “trái ngược với tính bất khả phân ly của hôn nhân”.(73)

Theo Familiaris consortio, điều cần sám hối không phải là sự thất bại của cuộc hôn nhân đầu tiên mà là sự thật “đã phá vỡ dấu chỉ của giao ước và lòng trung thành với Chúa Kitô”, (74) Điều đầu tiên mà sự sám hối hàm ý là một sự thay đổi trong hành vi của một người. Trong trường hợp này, điều đó hàm ý sự sẵn sàng theo đuổi một lối sống không còn mâu thuẫn với tính bất khả phân ly của hôn nhân nữa”, (75) Đức Hồng Y Kasper lập luận một cách đúng đắn rằng “nếu kẻ sát nhân có thể được tha thứ, thì kẻ ngoại tình cũng có thể được tha thứ”. (76) Tuy nhiên, để được tha thứ, kẻ sát nhân phải ăn năn. Dấu hiệu đầu tiên của sự ăn năn đối với hắn là ngừng giết người. Đức Hồng Y Kasper nói về “con đường cho phép những người đã ly dị, nhưng tái hôn dân sự, được lãnh nhận bí tích Hòa giải và Thánh thể trong những hoàn cảnh cụ thể, sau một thời gian tái định hướng” (77). Ở đây, tôi không chắc chắn tôi có thể thấy một nẻo đường nào. Với tất cả sự tôn trọng—và luôn luôn cho phép khả năng có sự hiểu lầm—theo tôi, hình ảnh gợi lên ở đây không hẳn là một con đường mà giống như một máy chạy bộ. Những người ly dị và tái hôn dường như được mời đi bộ (họ làm các hành vi sám hối) mà không cần đi đâu cả (họ vẫn tiếp tục sống chung một mái nhà và cùng một chiếc giường).

Nếu một người đàn ông đến gặp linh mục để nhận bí tích hòa giải, thú nhận rằng anh ta đã đánh cắp chiếc Ferrari của hàng xóm, thì linh mục sẽ nói gì với anh ta? Làm sám hối? Có. Làm một chuyến hành hương, đọc thêm vài lời cầu nguyện, và bố thí? Có lẽ vậy. Tuy nhiên, trước hết, người ta sẽ cho rằng linh mục sẽ khuyên anh ta trả lại chiếc xe và biến ý chí kiên định của hối nhân thành điều kiện để được tha tội. Thật khó có thể tưởng tượng rằng một vị mục tử linh hồn lại khuyên hối nhân của mình rằng sau một năm sám hối, anh ta có thể chính thức bắt đầu sử dụng xe, miễn là không phải lo sợ hậu quả pháp lý nào. Tôi khá chắc chắn rằng Đức Hồng Y Kasper sẽ khẳng định rằng lập luận của ngài về việc cho phép một số người ly dị và tái hôn được lãnh nhận các bí tích là khác biệt, và tôi hoàn toàn sẵn lòng tìm hiểu xem điều đó sẽ như thế nào trong các khía cạnh liên quan. Thật vậy, Đức Hồng Y nhấn mạnh rằng oikonomia mà ngài đề xuất “không phải là một con đường rẻ tiền hay một lối thoát tiện lợi. Điều này nghiêm túc xem xét rằng, như Martin Luther đã trình bày một cách chính xác trong luận đề đầu tiên của Chín Mươi Lăm Luận Đề vào năm 1517, toàn bộ đời sống Kitô hữu là một đời sống sám hối, nghĩa là một đời sống liên tục suy nghĩ lại và định hướng lại (metanoia),” (78) Chính sự suy nghĩ lại và định hướng lại này, theo Familiaris consortio, vẫn còn quá thiếu sót ở những người đã ly dị và tái hôn dân sự, những người khăng khăng duy trì các mối quan hệ thân mật bên ngoài cuộc hôn nhân bí tích đích thực duy nhất của họ.(79) Trong khi nhà Cải cách có thể gợi ý rằng không tội lỗi nào có thể tách chúng ta khỏi Chiên Con, “dù chúng ta có gian dâm hay giết người hàng ngàn lần một ngày”, (80) thì thẩm quyền của chính Chúa Giêsu dường như còn lớn hơn: “Ta cũng vậy, ta không lên án ngươi; hãy đi và đừng phạm tội nữa” (Ga 8:11).
_______________________________________________________________________
1. Tin mừng Gia đình, các tr.16-17
2. Friedrich Nietzsche, The Genealogy of Morals, Douglas Smith dịch (Oxford: Nhà xuất bản Đại học Oxford, 1998), tr. 41
3. Sđd.
4. Sđd. Để có một cuộc thảo luận rất rõ ràng về đoạn văn này, hãy xem Hannah Arendt, The Human Condition, ấn bản lần 2 (Chicago: Nhà xuất bản Đại học Chicago, 1998). tr. 2.8: “Nietzsche, với sự nhạy cảm phi thường của mình đối với các hiện tượng đạo đức, và bất chấp định kiến hiện đại của ông khi cho rằng nguồn gốc của mọi sức mạnh nằm ở ý chí của cá nhân biệt lập, đã nhìn thấy trong khả năng hứa hẹn (‘ký ức của ý chí,’ như ông gọi nó) chính là sự khác biệt phân biệt con người với đời sống động vật.”
5. “Diễn văn của Đức Thánh Cha Benedict XVI nhân dịp Giáng sinh gửi Giáo triều Rôma”, ngày 21 tháng 12 năm 2012.
6. Ibid.
7.Tin mừng Gia Đình, trang 28.
8. Ibid.
9. Ibid.
10. Ibid. Tr. 29
11. Ibid., tr.28
12. Ibid., tr. 33
13 Zygmunt Baurrian, Liquid Modernity (Malden, Mass.: Polity Press, 2000),tr. 24
14. Ibid.
15.Ibid., tr. 116.
16.Arendt, Human Condition. Tr 253
17.Bauman, Liquid Modernity, trang 163—64.
18. So sánh. “Kampf um CSU-Vorsitz: Pauli will Ehen auf sieben Jahre befristen”, Spiegel Online, ngày 19 tháng 9. 2007. http://www.spiegel.de/politik/deutschland/ kampf—um-csu-vorsitz-pauli-will-ehen-auf-sieben-jahre-befristen-a-506669.html
19. Bauman, Liquid Modernity, tr.164
20. Cf. Francois de La Rochefoucauld, Tuyển tập Châm ngôn và các Suy tư khác, dịch bởi E.H. Blackmore và A.M. Blackmore và Francine Giguere (Oxford: Nhà xuất bản Đại học Oxford, 2007), Maxim 84, tr.27: “Điều xấu hổ hơn là không tin bạn bè hơn là bị bạn bè lừa dối.”
21.Jacques T. Godbout, hợp tác với Alain Caillé, Thế giới của Hồng phúc, dịch bởi Donald Windier (Montreal và Kingston: Nhà xuất bản Đại học McGill-Queen,1998). Tr.34
22. Ibid.
23. Cf. Ibid
24. Xem Scott Hahn, Kinship by Covenant: A Canonical Approach to the Fulfillment of God’s Saving Promises (New Haven: Yale University Press, 2009)
25.Godbout, World of the Gift, tr. 34.
26.Xem Leo XIII, Thông điệp Arcanum, ngày 10 tháng 2 năm 1880. Giáo huấn của thông điệp đầu tiên hoàn toàn dành riêng cho chủ đề hôn nhân vẫn còn giá trị, có lẽ ngày nay hơn bao giờ hết.
27. "Karl Marx, “Der Ehescheidungspesetzcntwurf”, Rheinische Zeitunng 353; (19 tháng 12 năm 1842); Bản dịch tiếng Anh: Lạm phát: Karl Marx và Friedrich Engels, Collected Works, tập 1 (Lawrence và Wishart: London, 1975), tr. 307.
28. So sánh Joseph Ratzinger, Về Lương Tâm (San Francisco: Ignatius Press, 2007), Trang 13-14:
Trong một cuộc tranh luận, một đồng nghiệp cũ, người nhận thức sâu sắc về hoàn cảnh của các Kitô hữu trong thời đại chúng ta, đã bày tỏ quan điểm cho rằng người ta thực sự nên biết ơn Thiên Chúa vì Người cho phép có rất nhiều người không tin nhưng vẫn có lương tâm tốt. Bởi vì nếu mắt họ được mở ra và họ trở thành tín hữu, thì trong thế giới này của chúng ta, họ sẽ không thể mang nổi gánh nặng đức tin với tất cả các nghĩa vụ đạo đức của nó... Điều khiến tôi băn khoăn là quan niệm mà nó chứa đựng, rằng đức tin là một gánh nặng khó có thể mang vác và chắc chắn chỉ dành cho những người có bản chất mạnh mẽ hơn—đức tin gần như là một hình phạt, dù sao, cũng là một sự áp đặt không dễ dàng đối phó. Theo quan điểm này, đức tin sẽ không làm cho sự cứu rỗi dễ dàng hơn mà còn khó khăn hơn. Được hạnh phúc có nghĩa là không phải trĩu nặng vì phải tin hay chịu đựng ách thống trị đạo đức của đức tin Công Giáo.
29. Xem “Diễn văn của Đức Giáo Hoàng Phanxicô gửi các cặp đôi đính hôn chuẩn bị kết hôn”, ngày 14 tháng 2 năm 2014.
30. Hội đồng Đạo đức Sinh học của Tổng thống, Vượt ra ngoài Liệu pháp: Công nghệ Sinh học và việc theo đuổi Hạnh phúc (New York, N.Y.: Regan Books, 2003), trang 185.
31. So sánh Max Sclieler, “Ăn năn và Tái sinh”, Về Sự Vĩnh cửu trong Con người (New Brunswick, N.J.: Transaction Publishers, 2010), trang 5:
Vài năm trước, trong một trại tâm thần ở Đức, tôi tình cờ gặp một ông lão bảy mươi tuổi, người đang trải nghiệm toàn bộ môi trường sống của mình bị cắt ngang khỏi mặt phẳng phát triển đạt được ở tuổi mười chín. Điều đó không có nghĩa là ông lão vẫn lạc lõng giữa những vật thể thực tế tạo nên thế giới của mình khi ông còn là một cậu bé mười tám tuổi, rằng ông đã nhìn thấy ngôi nhà của mình thời đó, với những người đi kèm, đường phố, thị trấn, v.v. Không, ông chỉ nhìn, nghe và trải nghiệm những gì đang diễn ra xung quanh mình trong căn phòng, nhưng ông đã sống tất cả như một cậu bé mười tám tuổi, với tất cả những thôi thúc, tham vọng, hy vọng và nỗi sợ hãi cá nhân và chung chung của cậu bé ấy.
32. Xem Hội đồng Đạo đức Sinh học của Tổng thống, Vượt ra ngoài Liệu pháp, trang 185.
33. LF 52
34. Xem “Diễn văn của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI trước những người tham dự Hội nghị do Viện Nghiên cứu Hôn nhân và Gia đình Gioan Phaolô II cổ vũ”, Thứ Sáu, ngày 13 tháng 5 năm 2011: “Chính trong gia đình, con người khám phá ra rằng mình không ở trong một mối quan hệ như một cá nhân tự chủ, mà như một đứa con, một người phối ngẫu hoặc một người cha mẹ, với bản sắc được xây dựng trên việc được kêu gọi yêu thương, đón nhận từ người khác và trao ban chính mình cho người khác.”
35. Xem Jay Teachrnan, “Quan hệ tình dục trước hôn nhân, Sống chung trước hôn nhân. và Nguy cơ tan vỡ hôn nhân sau đó ở phụ nữ”, Tạp chí Hôn nhân và Gia đình, (tháng 5 năm 2003): 444-55:
Những phụ nữ sống chung trước hôn nhân hoặc quan hệ tình dục trước hôn nhân có nguy cơ tan vỡ hôn nhân cao hơn. Xem xét những tác động chung của việc sống chung trước hôn nhân và quan hệ tình dục trước hôn nhân, cũng như lịch sử các mối quan hệ tiền hôn nhân, mở rộng các nghiên cứu trước đây. Phát hiện nổi bật nhất từ phân tích này là những phụ nữ có mối quan hệ thân mật tiền hôn nhân với chồng mình - dù là quan hệ tình dục đơn thuần hay sống thử trước hôn nhân - không bị tăng nguy cơ ly hôn. Chỉ những phụ nữ có nhiều hơn một mối quan hệ thân mật tiền hôn nhân mới có nguy cơ đổ vỡ hôn nhân cao hơn. Ảnh hưởng này mạnh nhất đối với những phụ nữ có nhiều cuộc sống chung trước hôn nhân. (tr. 453)
36 Xem ibid: “Những phát hiện này phù hợp với quan niệm cho rằng quan hệ tình dục trước hôn nhân và sống thử đã trở thành một phần của mô hình tìm hiểu thông thường ở Hoa Kỳ. Chúng không chỉ ra sự chọn lọc về các đặc điểm liên quan đến nguy cơ ly hôn và không mang lại cho các cặp đôi những trải nghiệm làm giảm tính ổn định của hôn nhân.”
37. Xem Alasdair MacIntyre, After Virtue.’ A Study in Moral Theory, ấn bản lần 2 (Notre Dame: Nhà xuất bản Đại học Notre Dame, 1984); xem đặc biệt chương 15, “Các Đức Hạnh, Sự Thống Nhất của Đời Sống Con Người và Khái Niệm về Truyền Thống” (tr.204-25).
38. Robert Spaemann, Persons: The Difference between “Someone” and “Something”, dịch bởi Oliver O'Donovan (Oxford: Nhà xuất bản Đại học Oxford, 2006), tr.226-27: “Hôn nhân không phải là một lời hứa thông thường để thực hiện một điều gì đó, mà người ta vẫn có thể thực hiện khi người ta không còn muốn làm, hoặc không còn cảm thấy hứng thú đặc biệt đã thôi thúc người ta thực hiện lời hứa ban đầu. Với lời thề hôn nhân, hai người gắn kết vận mệnh của mình với nhau một cách không thể thay đổi—hay ít nhất, đó chính là ý nghĩa của lời thề. Lời hứa này khó có thể được thực hiện nếu người ta thực sự thay đổi ý định một cách căn bản.”
39. Ibid., tr. 227
40. Ibid., tr. 228.
41. Ibid.
42. So sánh Ibid., tr. 227: “Ở mỗi giai đoạn phát triển của họ, người ta đều nhận thức được ý nghĩa của nó đối với người khác và đối với sự phát triển của người khác. Đây là một hạn chế rất đáng kể về khả năng vận động của chúng ta, nhưng không phải là hạn chế tự do của chúng ta. Bởi vì dù sao đi nữa, chúng ta cũng không thể khai thác hết toàn bộ các khả thể. Với mỗi khả thể chúng ta chọn, chúng ta lại loại bỏ những khả thể khác. Nếu không muốn trả cái giá đó, chúng ta sẽ không bao giờ nắm bắt được những khả thể mình có, và do đó, không bao giờ thực sự nhận ra tự do.”
43. Maurice Blondel, Action (1893): Essay on a Critique of Life and a Science of Practice [Hành động 01893): Tiểu luận về một Phê bình sự sống và Khoa học Thực hành], dịch bởi Oliva Blanchette (Notre Dame: Nhà xuất bản Đại học Notre Dame, 2OO3), trang 4.
44. Tin Mừng Gia đình, tr. 30.
45. Ibid.
46. Ibid.
47. Benoit-Dominique de La Soujeole, “Communion Saramentelle et Communion Spirituelle”, Nora et Vetera 86, số 2 (2011): 147-53
48. Trích trong Ibid., p. 149: “La Communion Sacramentelle est ordonnée à la Communion Spirituelle comme l'imparfait l'est au parfait” (tất cả bản dịch của de La Soujeolo đều là của riêng chúng tôi).
49.Công đồng Trent, Session 13 chapter 8, được trích dẫn trong bản dịch tiếng Anh của Henrich-Denzinger-Peter Hünerman, Compendium of Creeds, Declarations and Decfinitions on Matters of Faith and Morals (San Francisco: Ignatius Press, 2012), tr. 396, số 1648.
50. Ibid.
51. Xem de La Soujeole, “Communion sacramentelle”, trang 148, số 5.
52.Ibid., tr. 151: “II y a d'abord le cas du baptisé fervent not la vie est comme 'rythmée' par la participation au mystère eucharistique, qui dans son existence quotidienne fait des communicities Spirituelles (actes de foi vive), qui atteint par là le Fruit parfait de la Communion Sacramentelle qu'il a reçu precédemment.”
53. Tin Mừng Gia Đình, tr. 30.
54.Cf. de La Soujeole, “Communion sacramentelle”, tr. 150: “L'Expression ‘communion spirituelle’ signifie ici le désir du sacrement eucharistique.”
55. X. Ibid.
56. Cùng nguồn: “C'est ce désir qui, grandissant, peut à terme conduire le pécheur à rompre avec la Cause qui le sépare encore du sacrement et donc de la Communion spirituelle parfait avec le Christ qui est le Fruit du sacrement.”
57. Như trên, tr. 151: “C'est aussi le cas des personnes qui, quel que soit le jugement de leur conscience, sont dans une situation extérieure qui contredit objectivement ave la moral chrétienne.”
58.Carlo Caffarra, “Da Bologna con amore: fermatevi”, Il Foglio, ngày 14 tháng 3 năm 2014; Bản dịch tiếng Anh có tại http://www.zenit.org/en/articles/cardinal
-caffarra-expresses-serious-concerns-about-fnmily-synod-debates#.
59. Đức Gioan Phaolô II, Thông điệp Ecclesia de Eucharistia. Ngày 17 tháng 4 năm 2003, số 37.
60.Ibid.
61 Tin mừng Gia đình, trang 45; nhấn mạnh trong bản gốc.
62. Đức Hồng Y Kasper cũng nhận xét rằng “cũng không phải hoàn cảnh khách quan gây trở ngại cho việc rước lễ, mà đúng hơn là nhiều hoàn cảnh khách quan rất khác nhau” (Ibid.).
63 VS 80.
64. Như chúng ta đã lập luận dài dòng, theo giáo huấn của Giáo Hội, việc dân sự công nhận hôn nhân của họ không thay đổi sự thật rằng họ không kết hôn.
65. Phúc Âm Gia Đình, trang 30.
66. Ibid., trang 32.
67. Juan José Pérez-Soba, “Tiefgründigster Interpret des Konzils”, Die Tagespost, ngày 13 tháng 3 năm 2014, trang 10. 5: “Die igkeit klopft an der Tür des Geschiedenen, damit dieer dem sakramentalen Ehebund treu bleibt und sich aie außerhalb stellt Würde Barmherzigkeit etwai anderes beeuten dann wäre Ehebruch—denn so nennt Jesus selbst eine neue Verbindun e einzige Sünde, die ohne Reueben Verge werden könnte.” (Lòng thương xót gõ cửa người đã ly dị để họ vẫn trung thành với mối dây hôn nhân bí tích và không bao giờ đặt mình hoặc chính mình ra khỏi nó. Nếu lòng thương xót có ý nghĩa khác, thì ngoại tình - vì đó là cách chính Chúa Giêsu gọi là sự kết hợp mới sẽ là tội duy nhất có thể được tha thứ mà không cần ăn năn); bản dịch của riêng chúng tôi.

68. Kasper: 'Für eine bloße Phantomdiskuision ist das problem zu ernst!' ”, ngày 22 tháng 4 năm 2014, http://www.knth.net/ne /456I7: “ Es geht im Vortmg nicht mehr um die Zulassung zur Kommunion, sondern um die Zulassung zum Sakmment der Buße und damit zur Absoluäon Die BuOe setzt voraiu, daii Schuld gegeben und bereut wird, aber ebenso dasi Gon dem, der umkehrt, bamilierzig ist und die Schuld vergibt. Die Behauptung, ich betrachte den Ehe-bnick As die einzige Sünde, die ohiie Reue Vergeben werde, nt barer Unsinn, wie es Unsinn ist, Barmherzigkeit werde von mir ali Toleranz des Bösen verstanden... (W)er sich mit meinen Fragen auseinandersetzen will, sollte kritisieren, was wirklich dasteht Für eine bloße Phantomdiskusiion ist das problem zu ernst!” (Chủ đề của bài thuyết trình không còn là việc được rước lễ nữa mà là việc được lãnh nhận bí tích sám hối và do đó được tha tội. Sám hối giả định rằng có tội lỗi và tội lỗi đó đã được sám hối. Đồng thời, nó cũng giả định rằng Thiên Chúa thương xót tất cả những ai hoán cải, tha thứ tội lỗi cho họ. Việc tôi cho rằng ngoại tình là tội lỗi duy nhất có thể được tha thứ mà không cần sám hối là hoàn toàn vô lý, cũng như việc tôi hiểu lòng thương xót là sự dung túng cho cái ác cũng vô lý... Bất cứ ai muốn trả lời câu hỏi của tôi nên phê bình những gì được viết trong sách. Vấn đề này quá nghiêm trọng để chỉ bàn luận suông!); bản dịch của riêng chúng tôi.
69. Tin mừng Gia đình, tr.32
70. Dù sao, một cuộc họn nhân bí tích thành sự và hoàn hợp tì bất khả tiêu. So sánh Sđd. Tr.43: “không ai nghi vấn tính bất khả tiêu của một cuộc hôn nhân đã được ký kết và hoàn hợp (ratum và consumatum).”
71. Ibid., tr. 32.
72. FC 84
73. Ibid.
74. Ibid.
75 Ibid.
76 Tin Mừng Gia Đình, tr.32.
77. Ibid. tr.52.
78. Ibid. tr.51
79. FC 84.
80. “’Martin Luther, Thư gửi Philipp Melanchthon, số 424 tháng 8 1 1521 ở Werke Kritische Gesamtausgabe Brifwechsel, 2. Ban nhạc (Weimar: Hermann Bohlaus Nachfolger, 1931) tr. 372: “Đủ rồi, quod agnovimus per divitias gloriae Dei agnum, qui tollit peccatum mundi; at hoc non avellet nos peccatum, etiamsi millies, millies uno die fornicemur aut occidamus.” (Chỉ cần nhờ sự giàu có vinh hiển của Đức Chúa Trời, chúng ta biết Chiên Con là Đấng xóa tội trần gian; không có tội lỗi nào có thể ngăn cách chúng ta trước mặt Ngài, ngay cả khi chúng ta gian dâm hoặc giết chết hàng ngàn lần mỗi ngày); bản dịch của riêng chúng tôi