Phụng Vụ - Mục Vụ
Ngày 29/01: Đèn là gì, đấu là chi?! – Lm. Giuse Đaminh Nguyễn Ngọc Tân, CP.
Giáo Hội Năm Châu
03:08 28/01/2026
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.
Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Chẳng lẽ mang đèn tới để đặt dưới cái thùng hay dưới gầm giường? Nào chẳng phải là để đặt trên đế sao? 22 Vì chẳng có gì che giấu mà không được tỏ lộ, chẳng có gì bí ẩn mà không được đưa ra ánh sáng. 23 Ai có tai để nghe thì hãy nghe !”
24 Người nói với các ông : “Hãy để ý tới điều anh em nghe. Anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy cho anh em, và còn cho anh em hơn nữa. 25 Vì ai đã có, thì được cho thêm; còn ai không có, thì ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi.”
Đó là Lời Chúa
SỢ MẤT
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
15:39 28/01/2026
SỢ MẤT
“Ai không có, thì ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi!”.
“Tăng trưởng là bằng chứng duy nhất của sự sống!” - Henry Newman.
Kính thưa Anh Chị em,
Như vậy, “chỉ điều đang lớn mới thật sự sống!”. Ý tưởng này được gặp lại qua Lời Chúa hôm nay. Chúa Giêsu cảnh báo, ai ‘sợ mất’ mà giữ, thì “ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi!”.
Chúng ta thường nghĩ đức tin suy yếu vì những thử thách lớn; nhưng Chúa Giêsu cho thấy điều một điều khác: đức tin không lớn vì chúng không được thể hiện! Ánh sáng không tắt vì bóng tối mạnh, mà vì ‘được đặt’ dưới giường, ‘được che’ cho an toàn, như niềm tin được giữ trong vùng ít rủi ro nhất. ‘Sợ mất’ sự yên ổn, nên chúng ta né tránh những chọn lựa phải trả giá; ‘sợ mất’ các mối quan hệ, nên chúng ta im lặng trước điều cần nói; ‘sợ mất’ quyền kiểm soát, nên chúng ta chỉ để Chúa bước vào những phần đời đã được dọn sẵn. Đức tin còn đó, nhưng không còn toả lan; vẫn hiện diện, nhưng không còn sinh lực.
Vậy mà “sự sống phải tăng trưởng!”; bằng không, nó sẽ lãnh lấy một bản án rất tiềm ẩn - bắt đầu mất! Trong ánh sáng ấy, lời Chúa Giêsu vang lên như một tất yếu, chỉ khi chúng ta dám đem điều mình có ra sống, ra cho, đặt lên cao, thì Thiên Chúa mới có chỗ để ban thêm. Còn khi chúng ta giữ lại vì ‘sợ mất’, chính nỗi sợ ấy lại làm chúng ta hoá nghèo, và “Ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi!”. Khi bám vào sự an toàn, sự an toàn ấy làm chúng ta chậm bước; bám vào cái đang có, cái đang có ấy khép lại cánh cửa của điều Chúa muốn ban thêm. Và rồi, chúng ta không mất vì bị lấy đi, mà mất vì không dám trao đi. “Điều ta bám chặt vào rốt cuộc trở nên nặng hơn cả điều ta đang mang!” - Henri Nouwen.
Tin Mừng hôm nay không mời chúng ta tìm nguy hiểm, nhưng mời chúng ta tin đủ để dám sống điều mình tin. Từ đó, chúng ta có thể cho đi thời gian, sức lực, uy tín, và cả những toan tính rất riêng. Bởi lẽ, trong Nước Trời, không phải ai giữ được nhiều thì sống, mà là ai dám để sự sống lưu chuyển qua mình thì sẽ được đầy hơn; “Ai không đủ can đảm để làm nên lịch sử, sẽ trở thành đối tượng nghèo nàn của lịch sử!” - Alfred Delp. “Vì ai đã có, thì được cho thêm!”.
Anh Chị em,
“Tăng trưởng là bằng chứng duy nhất của sự sống!”. Chúa Kitô không cứu chúng ta bằng cách giữ lại sự sống, mà bằng cách làm tăng trưởng nó - hiến trao - sự sống. Ngài không chọn con đường an thân, nhưng con đường tự hiến; không giữ lấy địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng huỷ mình ra không. Trên thập giá, xem ra Ngài mất tất cả, nhưng chính trong sự “mất” ấy, sự sống được mở ra cho muôn người. Can đảm là chìa khoá cho chính sự sống!” - Morgan Freeman. Nếu Chúa Kitô không ‘sợ mất’ để sự sống toả lan, thì không lạ gì người môn đệ không thể lớn lên nếu cứ tìm cách giữ mình khỏi mọi mất mát!
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, khi con giữ lại vì sợ hãi, cho con biết trao đi; khi con khép lòng vì tổn thương, cho con biết mở ra; khi con chùn bước vì mỏi gối, cho con biết đứng lên và đi tới!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
“Ai không có, thì ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi!”.
“Tăng trưởng là bằng chứng duy nhất của sự sống!” - Henry Newman.
Kính thưa Anh Chị em,
Như vậy, “chỉ điều đang lớn mới thật sự sống!”. Ý tưởng này được gặp lại qua Lời Chúa hôm nay. Chúa Giêsu cảnh báo, ai ‘sợ mất’ mà giữ, thì “ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi!”.
Chúng ta thường nghĩ đức tin suy yếu vì những thử thách lớn; nhưng Chúa Giêsu cho thấy điều một điều khác: đức tin không lớn vì chúng không được thể hiện! Ánh sáng không tắt vì bóng tối mạnh, mà vì ‘được đặt’ dưới giường, ‘được che’ cho an toàn, như niềm tin được giữ trong vùng ít rủi ro nhất. ‘Sợ mất’ sự yên ổn, nên chúng ta né tránh những chọn lựa phải trả giá; ‘sợ mất’ các mối quan hệ, nên chúng ta im lặng trước điều cần nói; ‘sợ mất’ quyền kiểm soát, nên chúng ta chỉ để Chúa bước vào những phần đời đã được dọn sẵn. Đức tin còn đó, nhưng không còn toả lan; vẫn hiện diện, nhưng không còn sinh lực.
Vậy mà “sự sống phải tăng trưởng!”; bằng không, nó sẽ lãnh lấy một bản án rất tiềm ẩn - bắt đầu mất! Trong ánh sáng ấy, lời Chúa Giêsu vang lên như một tất yếu, chỉ khi chúng ta dám đem điều mình có ra sống, ra cho, đặt lên cao, thì Thiên Chúa mới có chỗ để ban thêm. Còn khi chúng ta giữ lại vì ‘sợ mất’, chính nỗi sợ ấy lại làm chúng ta hoá nghèo, và “Ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi!”. Khi bám vào sự an toàn, sự an toàn ấy làm chúng ta chậm bước; bám vào cái đang có, cái đang có ấy khép lại cánh cửa của điều Chúa muốn ban thêm. Và rồi, chúng ta không mất vì bị lấy đi, mà mất vì không dám trao đi. “Điều ta bám chặt vào rốt cuộc trở nên nặng hơn cả điều ta đang mang!” - Henri Nouwen.
Tin Mừng hôm nay không mời chúng ta tìm nguy hiểm, nhưng mời chúng ta tin đủ để dám sống điều mình tin. Từ đó, chúng ta có thể cho đi thời gian, sức lực, uy tín, và cả những toan tính rất riêng. Bởi lẽ, trong Nước Trời, không phải ai giữ được nhiều thì sống, mà là ai dám để sự sống lưu chuyển qua mình thì sẽ được đầy hơn; “Ai không đủ can đảm để làm nên lịch sử, sẽ trở thành đối tượng nghèo nàn của lịch sử!” - Alfred Delp. “Vì ai đã có, thì được cho thêm!”.
Anh Chị em,
“Tăng trưởng là bằng chứng duy nhất của sự sống!”. Chúa Kitô không cứu chúng ta bằng cách giữ lại sự sống, mà bằng cách làm tăng trưởng nó - hiến trao - sự sống. Ngài không chọn con đường an thân, nhưng con đường tự hiến; không giữ lấy địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng huỷ mình ra không. Trên thập giá, xem ra Ngài mất tất cả, nhưng chính trong sự “mất” ấy, sự sống được mở ra cho muôn người. Can đảm là chìa khoá cho chính sự sống!” - Morgan Freeman. Nếu Chúa Kitô không ‘sợ mất’ để sự sống toả lan, thì không lạ gì người môn đệ không thể lớn lên nếu cứ tìm cách giữ mình khỏi mọi mất mát!
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, khi con giữ lại vì sợ hãi, cho con biết trao đi; khi con khép lòng vì tổn thương, cho con biết mở ra; khi con chùn bước vì mỏi gối, cho con biết đứng lên và đi tới!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
Mỗi Ngày Một Câu Danh Ngôn Của Các Thánh
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. ·
20:10 28/01/2026
15. Khuyết điểm của người khác con nên nhẫn nại, bởi vì con cũng có rất nhiều khuyết điểm khiến người khác phải nhẫn nại.
(sách Gương Chúa Giê-su)Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
(Trích dịch từ tiếng Hoa trong "Cách ngôn thần học tu đức")
--------
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info
Mỗi Ngày Một Câu Chuyện
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. ·
20:14 28/01/2026
58. TIỀN GIEO QUẺ
Người mê tín đi coi bói, trước tiên cúi đầu lạy thần sát đất kêu cộp cộp mấy cái, sau đó dùng mấy đồng tiền bụm trong hai tay và lắc mấy cái, sau đó thả đồng tiền trên hương án, coi đồng tiền sấp ngữa, và từ đó mà đoán tương lai hung kiết họa phúc. Đó là “tiền gieo quẻ”.
Tại sao phải dùng đồng tiền để gieo quẻ? Có người cười nhạo nói:
- “Tiền đúng thật là thần thông, có tiền thì ở đâu cũng đều linh nghiệm”.
(Lữ Viên Tùng Thoại)
Suy tư 58:
Tiền bạc thật thần thông quảng đại, nó có trăm tay vươn tới rất xa, có ngàn mắt nhìn rất rộng; nó có thể “mua” ông quan cách xa ngàn dặm, và có thể bán bạn bè cách cả đại dương;.
Tiền bạc thật có sức mạnh vô biên, nó có thể giết người này bò tù người kia dù họ không có tội; nó có thể bôi án hình sự trắng thành đen và bôi đen thành trắng; nó có thể đội người này trên đầu và đạp người nọ xuống đất.v.v...
Tiền bạc thần thông thật đấy, nhưng nó bị hóa giải trước lời dạy của Đức Chúa Giê-su: “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5, 3), của họ tức là của người Ki-tô hữu đấy, đừng để ma quỷ dùng tiền để mua linh hồn mình, và cũng đừng ham tiền mà bán linh hồn của mình cho ma quỷ.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)
---------
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info
Người mê tín đi coi bói, trước tiên cúi đầu lạy thần sát đất kêu cộp cộp mấy cái, sau đó dùng mấy đồng tiền bụm trong hai tay và lắc mấy cái, sau đó thả đồng tiền trên hương án, coi đồng tiền sấp ngữa, và từ đó mà đoán tương lai hung kiết họa phúc. Đó là “tiền gieo quẻ”.
Tại sao phải dùng đồng tiền để gieo quẻ? Có người cười nhạo nói:
- “Tiền đúng thật là thần thông, có tiền thì ở đâu cũng đều linh nghiệm”.
(Lữ Viên Tùng Thoại)
Suy tư 58:
Tiền bạc thật thần thông quảng đại, nó có trăm tay vươn tới rất xa, có ngàn mắt nhìn rất rộng; nó có thể “mua” ông quan cách xa ngàn dặm, và có thể bán bạn bè cách cả đại dương;.
Tiền bạc thật có sức mạnh vô biên, nó có thể giết người này bò tù người kia dù họ không có tội; nó có thể bôi án hình sự trắng thành đen và bôi đen thành trắng; nó có thể đội người này trên đầu và đạp người nọ xuống đất.v.v...
Tiền bạc thần thông thật đấy, nhưng nó bị hóa giải trước lời dạy của Đức Chúa Giê-su: “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5, 3), của họ tức là của người Ki-tô hữu đấy, đừng để ma quỷ dùng tiền để mua linh hồn mình, và cũng đừng ham tiền mà bán linh hồn của mình cho ma quỷ.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)
---------
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Đức Giáo Hoàng cảnh cáo về lòng thương xót bị hiểu sai trong các vụ tuyên bố hôn nhân vô hiệu
Vũ Văn An
13:52 28/01/2026

Theo Matthew Green của Aleteia, trong bản tin ngày 27/01/2026, Đức Giáo Hoàng Leo XIV kêu gọi các thành viên của Tòa Rota luôn tìm kiếm chân lý trong tình yêu thương, ngay cả khi chân lý khó khăn, đặt sự cứu rỗi linh hồn lên hàng đầu.
Đức Giáo Hoàng Leo XIV nói với các thành viên của Tòa Rota, trong buổi tiếp kiến ngày 26 tháng 1 năm 2026, tại Vatican: “Anh em được kêu gọi bảo vệ chân lý một cách nghiêm túc nhưng không cứng ngắc, và thực hành lòng bác ái không bỏ sót”. Ngài nhấn mạnh rằng các thủ tục do tòa án xử lý, chủ yếu là các vụ việc liên quan đến yêu cầu tuyên bố hôn nhân vô hiệu, phải “truyền cảm hứng tin tưởng” cho các tín hữu, đặc biệt là về việc đối xử bình đẳng giữa các vụ án.
Sáng thứ Hai, Đức Giáo Hoàng đã tiếp kiến các giám mục của Tòa Rota lần đầu tiên, nhân dịp khai mạc năm tư pháp, và đưa ra cho họ một suy niệm về mối quan hệ giữa chân lý và tình yêu thương trong công việc của họ.
Tòa Rota được thành lập vào thế kỷ 12 và là một trong ba tòa án của Giáo triều Rôma. Tòa án này gồm một hội đồng 20 giám mục kiểm toán, được Đức Giáo Hoàng bổ nhiệm và đặt dưới sự điều hành của một trưởng tòa, hiện nay là Tổng giám mục người Tây Ban Nha Alejandro Arellano Cedillo. Tòa án này hoạt động như tòa phúc thẩm cao nhất của Giáo hội và chủ yếu xét xử các yêu cầu công nhận việc tuyên bố hôn nhân vô hiệu.
Điều quan trọng cần lưu ý là việc công nhận hôn nhân vô hiệu không phải là ly hôn. Một cuộc hôn nhân được cử hành và hoàn hợp hợp lệ không thể bị giải tán (ngoại trừ những trường hợp hiếm hoi “vì đức tin”, theo đặc ân của Thánh Phêrô hoặc Thánh Phaolô, khác với việc hủy hôn). Thay vào đó, nó có nghĩa là đã có đủ bằng chứng được trình bày trước Giáo hội để có thể xác định chắc chắn rằng cuộc hôn nhân đó chưa bao giờ thực sự hiện hữu, do khiếm khuyết trong vấn đề hoặc hình thức của hôn nhân.
Hãy cảnh giác với “sự tương đối hóa chân lý một cách nguy hiểm”
Trong bài phát biểu dài của mình, Đức Giáo Hoàng đã trích dẫn những nhà cải cách vĩ đại gần đây của Rota: Bê-nê-đíc-tô XVI, Gio-an Phao-lô II và Pi-ô XII.
Đức Giáo Hoàng Leo XIV, bản thân là một chuyên gia về luật Giáo hội, khẳng định rằng việc thực thi công lý là vấn đề đạo đức, nhưng cũng đòi hỏi phải biết cách dung hòa chân lý và bác ái, “hai chiều kích gắn bó mật thiết với nhau”. Tuy nhiên, ngài thừa nhận rằng “sự căng thẳng biện chứng thường nảy sinh giữa những yêu cầu của chân lý khách quan và những mối quan tâm của bác ái” trong công việc của họ.
Đức Giáo Hoàng cảnh cáo chống lại “sự đồng nhất thái quá với những thăng trầm thường gặp của các tín hữu”. Ngài giải thích: Điều này có thể dẫn đến “việc tương đối hóa chân lý một cách nguy hiểm”. Ngài mô tả điều này là “lòng thương xót bị hiểu sai, ngay cả khi dường như được thúc đẩy bởi lòng nhiệt thành mục vụ”, coi đó như “việc tương đối hóa chân lý một cách nguy hiểm”.
Đức Giáo Hoàng cảnh báo: Thái độ như vậy “có nguy cơ che khuất chiều kích cần thiết của việc xác định chân lý phù hợp với chức vụ tư pháp”. Ngài đặc biệt dẫn chứng các trường hợp tuyên bố hôn nhân vô hiệu “nơi có thể dẫn đến các quyết định mục vụ thiếu nền tảng khách quan vững chắc”.
Đức Giáo Hoàng Leo XIV làm sáng tỏ: Tuy nhiên, công lý không thể là “sự khẳng định lạnh lùng và tách rời về chân lý mà không tính đến tất cả những gì tình yêu thương con người đòi hỏi”. Ngài yêu cầu các thẩm phán không bỏ qua “những mối quan tâm xuất phát từ lòng tôn trọng và lòng thương xót”.
Lòng bác ái trong chân lý, vì sự cứu rỗi các linh hồn
Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã dành một khoảnh khắc để suy gẫm về mối quan hệ này giữa chân lý và lòng bác ái dưới ánh sáng các câu Kinh Thánh của Thánh Phaolô và Thánh Gioan Tông đồ. Ngài trích dẫn lời của Đức Bê-nê-đíc-tô XVI: “Chân lý cần được tìm kiếm, tìm thấy và thể hiện trong ‘nhiệm cục’ của lòng bác ái, nhưng lòng bác ái đến lượt nó cần được hiểu, xác nhận và thực hành trong ánh sáng của chân lý” (Caritas in veritate số 2).
Đức Giáo Hoàng Leo XIV nói: “Vì vậy, công việc của anh em hãy luôn được thúc đẩy bởi tình yêu thương chân thật đối với tha nhân, trên hết thảy tìm kiếm sự cứu rỗi đời đời của họ trong Chúa Kitô và trong Giáo hội, điều này đòi hỏi sự tuân giữ chân lý của Tin Mừng”. Do đó, ngài nhắc nhở những người nghe rằng “luật tối cao trong Giáo hội” là “salus animarum”, sự cứu rỗi các linh hồn – một nguyên tắc được ghi trong chính Giáo luật (Điều 1752).
Các thủ tục phải “truyền cảm hứng tin tưởng”
Đức Giáo Hoàng yêu cầu: “Các thủ tục Giáo luật phải truyền cảm hứng tin tưởng xuất phát từ sự nghiêm túc chuyên nghiệp, công việc chuyên tâm và chu đáo, và sự tận tâm kiên định đối với những gì có thể và phải được coi là một ơn gọi nghề nghiệp đích thực”.
Ngài nhấn mạnh: “Các tín hữu và toàn thể cộng đồng Giáo hội có quyền được thực hiện các chức năng thủ tục một cách đúng đắn và kịp thời, bởi vì đó là một hành trình ảnh hưởng đến lương tâm và cuộc sống”.
Đức Giáo Hoàng cũng nhấn mạnh công việc của các luật sư đã đăng ký với Tòa Rota, những người bào chữa cho các tín hữu trong các phiên tòa hủy hôn, và “những người bảo vệ mối dây hôn nhân”, các giáo phẩm bảo vệ tính hợp lệ của hôn nhân, cảnh báo họ chống lại “cách tiếp cận hoàn toàn theo lối hành chính” đối với nhiệm vụ của mình.
Ngài nhấn mạnh tầm quan trọng của nguyên tắc “thủ tục tố tụng đối kháng”, kêu gọi tôn trọng “các giả định về tính hợp lệ của hôn nhân và sự vô tội của bị cáo, cho đến khi được chứng minh ngược lại”.
Ngài cũng cảnh cáo về nguy cơ “thiên về sự bất bình đẳng không công bằng trong việc xử lý những trường hợp tương tự."
Ví dụ, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã dẫn chứng hình thức ngắn gọn nhất của thủ tục tuyên bố hôn nhân vô hiệu, diễn ra trước giám mục giáo phận, kêu gọi sự cẩn trọng tối đa trong việc xét xử tất cả các trường hợp, ngay cả khi, “thoạt nhìn”, lý do tuyên bố hôn nhân vô hiệu có vẻ rõ ràng. Thủ tục này được Đức Giáo Hoàng Phanxicô thiết lập vào năm 2015.
Đức Giáo Hoàng Lêô chia sẻ: Cầu mong nỗi kinh hoàng của nạn diệt chủng không bao giờ tái diễn đối với bất kỳ dân tộc nào
Thanh Quảng sdb
14:13 28/01/2026
Đức Giáo Hoàng Lêô chia sẻ: Cầu mong nỗi kinh hoàng của nạn diệt chủng không bao giờ tái diễn đối với bất kỳ dân tộc nào

Kết thúc buổi tiếp kiến chung, Đức Giáo Hoàng Lêô nhắc lại Ngày Tưởng niệm Nạn diệt chủng Quốc tế, được cử hành vào ngày 27 tháng 1, ngài cầu xin “món quà của một thế giới không có chủ nghĩa bài Do Thái”, không có định kiến, áp bức và đàn áp, và được xây dựng trên “sự tôn trọng lẫn nhau và lợi ích chung”.
(Tin Vatican - Deborah Castellano Lubov)
Đức Giáo Hoàng nói về Ngày Tưởng niệm Nạn diệt chủng: Giáo Hội bác bỏ mọi hình thức bài Do Thái
Trong buổi tiếp kiến chung hàng tuần vào sáng thứ Tư 28/1/2026, tại Vatican Đức Giáo Hoàng Lêô đã đưa ra lời kêu gọi tha thiết chống lại sự thù hận, ngài nhắc lại rằng hôm qua là Ngày Tưởng niệm Nạn diệt chủng Quốc tế, mà ngài lưu ý, “đã mang đến cái chết cho hàng triệu người Do Thái và nhiều dân tộc khác”.
“Nhân dịp tưởng niệm sự đau thương này hàng năm”, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh, “tôi cầu xin Đấng Toàn Năng ban cho tôi món quà của một thế giới không còn bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa bài Do Thái, cũng như không còn định kiến, áp bức và đàn áp đối với bất kỳ con người nào”.
Ngài tiếp tục kêu gọi cộng đồng quốc tế, thúc giục mọi người cảnh giác để “nỗi kinh hoàng của nạn diệt chủng không bao giờ tái diễn đối với bất kỳ dân tộc nào”, và để “xây dựng một xã hội dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau và lợi ích chung”.
Vào hôm thứ Ba (27/1/2026), Đức Giáo Hoàng cũng kỷ niệm Ngày Quốc tế bằng một bài đăng trên tài khoản trang mạn @Pontifex của mình, ĐTC nhấn mạnh rằng “Giáo Hội vẫn trung thành với lập trường kiên định của Tuyên ngôn “Thời đại của chúng ta” (Nostra Aetate) chống lại mọi hình thức bài Do Thái. Giáo Hội bác bỏ mọi sự phân biệt đối xử hoặc quấy rối dựa trên dân tộc, ngôn ngữ, quốc tịch hoặc tín ngưỡng”.

Kết thúc buổi tiếp kiến chung, Đức Giáo Hoàng Lêô nhắc lại Ngày Tưởng niệm Nạn diệt chủng Quốc tế, được cử hành vào ngày 27 tháng 1, ngài cầu xin “món quà của một thế giới không có chủ nghĩa bài Do Thái”, không có định kiến, áp bức và đàn áp, và được xây dựng trên “sự tôn trọng lẫn nhau và lợi ích chung”.
(Tin Vatican - Deborah Castellano Lubov)
Đức Giáo Hoàng nói về Ngày Tưởng niệm Nạn diệt chủng: Giáo Hội bác bỏ mọi hình thức bài Do Thái
Trong buổi tiếp kiến chung hàng tuần vào sáng thứ Tư 28/1/2026, tại Vatican Đức Giáo Hoàng Lêô đã đưa ra lời kêu gọi tha thiết chống lại sự thù hận, ngài nhắc lại rằng hôm qua là Ngày Tưởng niệm Nạn diệt chủng Quốc tế, mà ngài lưu ý, “đã mang đến cái chết cho hàng triệu người Do Thái và nhiều dân tộc khác”.
“Nhân dịp tưởng niệm sự đau thương này hàng năm”, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh, “tôi cầu xin Đấng Toàn Năng ban cho tôi món quà của một thế giới không còn bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa bài Do Thái, cũng như không còn định kiến, áp bức và đàn áp đối với bất kỳ con người nào”.
Ngài tiếp tục kêu gọi cộng đồng quốc tế, thúc giục mọi người cảnh giác để “nỗi kinh hoàng của nạn diệt chủng không bao giờ tái diễn đối với bất kỳ dân tộc nào”, và để “xây dựng một xã hội dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau và lợi ích chung”.
Vào hôm thứ Ba (27/1/2026), Đức Giáo Hoàng cũng kỷ niệm Ngày Quốc tế bằng một bài đăng trên tài khoản trang mạn @Pontifex của mình, ĐTC nhấn mạnh rằng “Giáo Hội vẫn trung thành với lập trường kiên định của Tuyên ngôn “Thời đại của chúng ta” (Nostra Aetate) chống lại mọi hình thức bài Do Thái. Giáo Hội bác bỏ mọi sự phân biệt đối xử hoặc quấy rối dựa trên dân tộc, ngôn ngữ, quốc tịch hoặc tín ngưỡng”.
Đức Giáo Hoàng phát biểu trong Buổi Tiếp Kiến: Lời Chúa là kim chỉ nam cho sự hiện diện của chúng ta
Thanh Quảng sdb
14:38 28/01/2026
Đức Giáo Hoàng phát biểu trong Buổi Tiếp Kiến: Lời Chúa là kim chỉ nam cho sự hiện diện của chúng ta

Trong Buổi Tiếp Kiến Chung hôm thứ Tư, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV tiếp tục suy tư về Hiến chương Tín lý 'Dei Verbum' về Mặc Khải Thiên Chúa và nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết giữa Thánh Kinh và Truyền Thống.
(Tin Vatican - Isabella H. de Carvalho)
Đức Giáo Hoàng Lêô XIV nói trong Buổi Tiếp Kiến Chung hôm thứ Tư, ngày 28 tháng 1 năm 2026 rằng: “Kho tàng Lời Chúa vẫn còn trong tay Giáo Hội và tất cả chúng ta, trong các sứ vụ Giáo Hội khác nhau, chúng ta phải tiếp tục gìn giữ nó trong sự toàn vẹn, như một ngôi sao dẫn đường cho hành trình của chúng ta xuyên suốt qua sự phức tạp của lịch sử và sự hiện hữu.”
Tiếp tục loạt bài giáo lý về Công đồng Vatican II và các văn kiện của Công đồng, Đức Giáo Hoàng một lần nữa tập trung vào Hiến chương Tín lý Dei Verbum, về Mặc Khải Thiên Chúa. Ngài nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết giữa Thánh Kinh và Truyền Thống, nghĩa là sự truyền đạt sống động của Tin Mừng qua Chúa Thánh Thần.
Đức Giáo Hoàng Lêô nhấn mạnh: “Lời Chúa không phải là thứ hóa thạch, mà là một thực tại sống động, phát triển và lớn mạnh trong Truyền thống. Nhờ Chúa Thánh Linh, Truyền thống hiểu được Lời Chúa trong sự phong phú của chân lý và thể hiện nó trong những biến đổi của lịch sử.”
Truyền thống và Kinh Thánh cùng xuất phát từ một nguồn mạch.
Đức Giáo Hoàng Lêô đã trích dẫn hai cảnh trong Phúc Âm để giải thích “mối liên hệ mật thiết giữa những lời Chúa Kitô phán ra và sự lan truyền của chúng qua các thế kỷ.”
- Cảnh thứ nhất là khi Chúa Giêsu tâm sự với các môn đệ trong phòng Tiệc Ly trước khi Ngài chịu chết Chúa nói với họ rằng họ sẽ nhận được Thánh Linh từ Chúa, Đấng sẽ hướng dẫn họ “loan truyền mọi chân lý.”
- Cảnh thứ hai là khi Chúa Kitô phục sinh hiện ra với các môn đệ và kêu gọi họ “Hãy đi rao giảng và làm cho muôn dân trở thành môn đệ… dạy họ giữ mọi điều Chúa truyền dạy cho các con.”
Trích dẫn điểm 9 của thông điệp Dei Verbum, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh cách Công đồng Vatican II giải thích mối quan hệ mật thiết giữa Thánh Kinh và Truyền thống bằng cách cho rằng “cả hai, cùng phát xuất từ một mạch nguồn thiêng liêng, theo một cách nào đó hợp nhất thành một thể thống nhất và hướng tới cùng một mục đích.”
Đức Giáo Hoàng tiếp tục: “Truyền thống Giáo hội lan tỏa suốt chiều dài lịch sử qua Giáo hội, nơi gìn giữ, giải thích và thể hiện Lời Chúa.”
“Thánh Kinh được viết ra chủ yếu trong lòng Giáo hội hơn là trong các văn bản và hồ sơ,” ngài nói thêm, trích dẫn điểm 113 của Giáo lý Công Giáo.
Giáo hội duy trì niềm tin của mình cho mọi thế hệ.
Đức Giáo Hoàng sau đó nhấn mạnh cách Truyền thống, xuất phát từ các Tông đồ, phát triển trong Giáo hội với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần.
“Điều này diễn ra với sự hiểu biết trọn vẹn thông qua ‘sự chiêm nghiệm và học hỏi của các tín hữu’, thông qua ‘sự thấu hiểu sâu sắc về những thực tại thiêng liêng mà họ kinh nghiệm’ và, trên hết, với sự rao giảng của những người kế vị các tông đồ, những người đã nhận được ‘ân điển chắc chắn của chân lý’,” ngài giải thích, trích dẫn lại Hiến chương Tín lý.
“Tóm lại,” ngài nhắc lại, “‘Giáo hội, trong giáo huấn, đời sống và sự thờ phượng của mình, duy trì và truyền lại cho các thế hệ tất cả những gì chính mình là, tất cả những gì Giáo hội tin tưởng’.”
Để giải thích chiều kích sống động của Lời Chúa và mối quan hệ của nó với Truyền thống, Đức Giáo Hoàng đã trích dẫn lời Thánh Gioan Henry Newman, Tiến sĩ Giáo hội, người khẳng định rằng “Kitô giáo, với tư cách là một kinh nghiệm cộng đồng và một giáo lý, là một thực tại năng động, theo cách mà chính Chúa Giêsu đã chỉ ra trong các dụ ngôn về hạt giống: một thực tại sống động phát triển nhờ một sức sống nội tại.”
Một kho tàng thiêng liêng của Lời Chúa
Đức Giáo Hoàng Lêô nhấn mạnh rằng, thông điệp Dei Verbum chỉ ra rằng “‘Thánh Truyền và Thánh Kinh tạo thành một kho tàng thiêng liêng của Lời Chúa, được giao phó cho Giáo Hội’, được giải thích bởi ‘chức vụ giảng dạy sống động của Giáo Hội, mà thẩm quyền được thực thi nhân danh Chúa Giêsu Kitô’”.
Ngài tiếp tục, thuật ngữ “kho tàng” ngụ ý rằng người giữ gìn phải bảo tồn nội dung, trong trường hợp này là đức tin, và truyền lại nguyên vẹn, và do đó kêu gọi Giáo Hội và tất cả các thành viên của Giáo Hội làm như vậy.
Đức Giáo Hoàng Lêô kết luận bằng cách trích dẫn lại thông điệp Dei Verbum, giải thích rằng Thánh Kinh và Thánh Truyền “được liên kết và gắn bó với nhau đến nỗi cái này không thể tồn tại nếu thiếu cái kia, và… tất cả cùng nhau và mỗi cái theo cách riêng của mình dưới sự tác động của một Chúa Thánh Thần đều góp phần hữu hiệu vào ơn cứu độ cho các linh hồn”.

Trong Buổi Tiếp Kiến Chung hôm thứ Tư, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV tiếp tục suy tư về Hiến chương Tín lý 'Dei Verbum' về Mặc Khải Thiên Chúa và nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết giữa Thánh Kinh và Truyền Thống.
(Tin Vatican - Isabella H. de Carvalho)
Đức Giáo Hoàng Lêô XIV nói trong Buổi Tiếp Kiến Chung hôm thứ Tư, ngày 28 tháng 1 năm 2026 rằng: “Kho tàng Lời Chúa vẫn còn trong tay Giáo Hội và tất cả chúng ta, trong các sứ vụ Giáo Hội khác nhau, chúng ta phải tiếp tục gìn giữ nó trong sự toàn vẹn, như một ngôi sao dẫn đường cho hành trình của chúng ta xuyên suốt qua sự phức tạp của lịch sử và sự hiện hữu.”
Tiếp tục loạt bài giáo lý về Công đồng Vatican II và các văn kiện của Công đồng, Đức Giáo Hoàng một lần nữa tập trung vào Hiến chương Tín lý Dei Verbum, về Mặc Khải Thiên Chúa. Ngài nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết giữa Thánh Kinh và Truyền Thống, nghĩa là sự truyền đạt sống động của Tin Mừng qua Chúa Thánh Thần.
Đức Giáo Hoàng Lêô nhấn mạnh: “Lời Chúa không phải là thứ hóa thạch, mà là một thực tại sống động, phát triển và lớn mạnh trong Truyền thống. Nhờ Chúa Thánh Linh, Truyền thống hiểu được Lời Chúa trong sự phong phú của chân lý và thể hiện nó trong những biến đổi của lịch sử.”
Truyền thống và Kinh Thánh cùng xuất phát từ một nguồn mạch.
Đức Giáo Hoàng Lêô đã trích dẫn hai cảnh trong Phúc Âm để giải thích “mối liên hệ mật thiết giữa những lời Chúa Kitô phán ra và sự lan truyền của chúng qua các thế kỷ.”
- Cảnh thứ nhất là khi Chúa Giêsu tâm sự với các môn đệ trong phòng Tiệc Ly trước khi Ngài chịu chết Chúa nói với họ rằng họ sẽ nhận được Thánh Linh từ Chúa, Đấng sẽ hướng dẫn họ “loan truyền mọi chân lý.”
- Cảnh thứ hai là khi Chúa Kitô phục sinh hiện ra với các môn đệ và kêu gọi họ “Hãy đi rao giảng và làm cho muôn dân trở thành môn đệ… dạy họ giữ mọi điều Chúa truyền dạy cho các con.”
Trích dẫn điểm 9 của thông điệp Dei Verbum, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh cách Công đồng Vatican II giải thích mối quan hệ mật thiết giữa Thánh Kinh và Truyền thống bằng cách cho rằng “cả hai, cùng phát xuất từ một mạch nguồn thiêng liêng, theo một cách nào đó hợp nhất thành một thể thống nhất và hướng tới cùng một mục đích.”
Đức Giáo Hoàng tiếp tục: “Truyền thống Giáo hội lan tỏa suốt chiều dài lịch sử qua Giáo hội, nơi gìn giữ, giải thích và thể hiện Lời Chúa.”
“Thánh Kinh được viết ra chủ yếu trong lòng Giáo hội hơn là trong các văn bản và hồ sơ,” ngài nói thêm, trích dẫn điểm 113 của Giáo lý Công Giáo.
Giáo hội duy trì niềm tin của mình cho mọi thế hệ.
Đức Giáo Hoàng sau đó nhấn mạnh cách Truyền thống, xuất phát từ các Tông đồ, phát triển trong Giáo hội với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần.
“Điều này diễn ra với sự hiểu biết trọn vẹn thông qua ‘sự chiêm nghiệm và học hỏi của các tín hữu’, thông qua ‘sự thấu hiểu sâu sắc về những thực tại thiêng liêng mà họ kinh nghiệm’ và, trên hết, với sự rao giảng của những người kế vị các tông đồ, những người đã nhận được ‘ân điển chắc chắn của chân lý’,” ngài giải thích, trích dẫn lại Hiến chương Tín lý.
“Tóm lại,” ngài nhắc lại, “‘Giáo hội, trong giáo huấn, đời sống và sự thờ phượng của mình, duy trì và truyền lại cho các thế hệ tất cả những gì chính mình là, tất cả những gì Giáo hội tin tưởng’.”
Để giải thích chiều kích sống động của Lời Chúa và mối quan hệ của nó với Truyền thống, Đức Giáo Hoàng đã trích dẫn lời Thánh Gioan Henry Newman, Tiến sĩ Giáo hội, người khẳng định rằng “Kitô giáo, với tư cách là một kinh nghiệm cộng đồng và một giáo lý, là một thực tại năng động, theo cách mà chính Chúa Giêsu đã chỉ ra trong các dụ ngôn về hạt giống: một thực tại sống động phát triển nhờ một sức sống nội tại.”
Một kho tàng thiêng liêng của Lời Chúa
Đức Giáo Hoàng Lêô nhấn mạnh rằng, thông điệp Dei Verbum chỉ ra rằng “‘Thánh Truyền và Thánh Kinh tạo thành một kho tàng thiêng liêng của Lời Chúa, được giao phó cho Giáo Hội’, được giải thích bởi ‘chức vụ giảng dạy sống động của Giáo Hội, mà thẩm quyền được thực thi nhân danh Chúa Giêsu Kitô’”.
Ngài tiếp tục, thuật ngữ “kho tàng” ngụ ý rằng người giữ gìn phải bảo tồn nội dung, trong trường hợp này là đức tin, và truyền lại nguyên vẹn, và do đó kêu gọi Giáo Hội và tất cả các thành viên của Giáo Hội làm như vậy.
Đức Giáo Hoàng Lêô kết luận bằng cách trích dẫn lại thông điệp Dei Verbum, giải thích rằng Thánh Kinh và Thánh Truyền “được liên kết và gắn bó với nhau đến nỗi cái này không thể tồn tại nếu thiếu cái kia, và… tất cả cùng nhau và mỗi cái theo cách riêng của mình dưới sự tác động của một Chúa Thánh Thần đều góp phần hữu hiệu vào ơn cứu độ cho các linh hồn”.
Thông điệp mạnh mẽ của Đức Giáo Hoàng nhân Ngày Tưởng niệm Nạn nhân Diệt chủng Do Thái
Vũ Văn An
16:42 28/01/2026

Theresa Civantos Barber, trong bản tin của Aleteia ngày 28/01/2026, tường trình rằng: Tuyên bố của Đức Giáo Hoàng Leo XIV nhân Ngày Tưởng niệm Nạn nhân Holocaust và những lời ngắn gọn của ngài với các phóng viên đã củng cố thông điệp của tuyên bố mang tính bước ngoặt năm 1965 của Giáo hội.
Tám mươi mốt năm trước, lực lượng Đồng minh đã giải phóng trại tập trung và trại hủy diệt Auschwitz-Birkenau của Đức Quốc xã. Chỉ riêng tại trại đó, hơn một triệu người đã bị sát hại, phần lớn là người Do Thái.
Năm 2005, Liên Hợp Quốc đã chọn ngày 27 tháng 1 — kỷ niệm ngày giải phóng Auschwitz-Birkenau — là Ngày Tưởng niệm Nạn nhân Holocaust Quốc tế, thời điểm để tưởng nhớ sáu triệu nạn nhân Do Thái của Holocaust và hàng triệu nạn nhân khác của sự đàn áp của Đức Quốc xã.
Năm 2026 là kỷ niệm 25 năm ngày thành lập Ngày Tưởng niệm Nạn diệt chủng Quốc tế.
Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã kỷ niệm ngày này bằng một dòng tweet trên tài khoản Pontifex của ngài:
Nhân Ngày Tưởng niệm Nạn diệt chủng, tôi muốn nhắc lại rằng Giáo hội vẫn trung thành với lập trường kiên định của Tuyên bố #NostraAetate chống lại mọi hình thức bài Do Thái. Giáo hội bác bỏ mọi sự phân biệt đối xử hoặc quấy rối dựa trên dân tộc, ngôn ngữ, quốc tịch hoặc tôn giáo.
Ngài đề cập đến Nostra Aetate, một tuyên bố mang tính bước ngoặt năm 1965 từ Công đồng Vatican II, đề cập đến mối quan hệ của Giáo Hội Công Giáo với các tôn giáo không phải Kitô giáo. Tài liệu này thúc đẩy đối thoại liên tôn, bác bỏ chủ nghĩa bài Do Thái và khẳng định rằng Giáo hội tôn trọng chân lý và sự thánh thiện trong các tín ngưỡng khác.
Vào buổi tối của Ngày Tưởng niệm, Đức Thánh Cha đã nhắc lại lời kêu gọi này.
Khi rời khỏi Castel Gandoflo sau một ngày làm việc thường lệ xa Vatican, ngài đã được các phóng viên hỏi về tình hình ở Trung Đông. Ngài nói: “Tôi chỉ muốn nói rằng chúng ta phải cầu nguyện hết lòng cho hòa bình”.
Các phóng viên đã đề cập đến việc tàu USS Abraham Lincoln và ba tàu chiến hộ tống đến Trung Đông, trong bối cảnh căng thẳng giữa Mỹ và Iran đang leo thang, giữa các cuộc biểu tình ở Iran.
Ngài nói: “Chúng ta, những người nhỏ bé, có thể lên tiếng và luôn tìm kiếm đối thoại chứ không phải bạo lực để giải quyết những vấn đề này, đặc biệt vào ngày tưởng niệm thảm họa Holocaust này.”
Ngài nhấn mạnh: “Chúng ta đấu tranh chống lại mọi hình thức bài Do Thái”.
CẬP NHẬT:
Chúng tôi xin bổ sung những lời Đức Giáo Hoàng Leo đã nói vào cuối buổi tiếp kiến chung ngày 28 tháng 1:
Hôm qua là Ngày Tưởng niệm Quốc tế dành cho tất cả các nạn nhân của thảm họa Holocaust, đã cướp đi sinh mạng của hàng triệu người Do Thái và nhiều người khác. Nhân dịp tưởng niệm đau thương hàng năm này, tôi cầu xin Đấng Toàn năng ban cho tôi món quà là một thế giới không có bài Do Thái và không có định kiến, áp bức và bức hại bất cứ con người nào. Tôi nhắc lại lời kêu gọi của mình tới cộng đồng các quốc gia hãy luôn cảnh giác. Nguyện xin cho nỗi kinh hoàng của nạn diệt chủng không bao giờ tái diễn đối với bất cứ dân tộc nào và một xã hội được xây dựng trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau và lợi ích chung.
Mối liên hệ thiêng liêng
Lời của Đức Giáo Hoàng củng cố thông điệp của văn kiện Công đồng Vatican II, trong đó có đoạn viết:
Khi thánh công đồng tìm hiểu mầu nhiệm của Giáo Hội, nó ghi nhớ mối liên hệ thiêng liêng gắn kết dân Giao Ước Mới với dòng dõi Áp-ra-ham.
Như vậy, Giáo Hội của Chúa Kitô thừa nhận rằng, theo ý định cứu độ của Thiên Chúa, khởi đầu của đức tin và sự tuyển chọn của Giáo Hội đã được tìm thấy ngay giữa các Tổ Phụ, Mô-sê và các tiên tri…
Giáo Hội luôn ghi nhớ lời của Thánh Tông đồ về bà con thân thuộc của ngài: “thuộc về họ địa vị con cái, vinh quang, giao ước, luật pháp, sự thờ phượng và lời hứa; thuộc về họ là các tổ phụ và từ họ mà có Đấng Kitô theo xác thịt” (Rm 9:4-5), Con của Đức Trinh Nữ Maria. Giáo hội cũng nhắc lại rằng các Tông đồ, trụ cột và chỗ dựa chính của Giáo hội, cũng như hầu hết các môn đệ đầu tiên rao giảng Tin Mừng của Chúa Kitô cho thế giới, đều xuất thân từ dân tộc Do Thái…
Vì di sản tinh thần chung giữa Kitô hữu và Do Thái là rất lớn, nên Thánh công đồng này muốn thúc đẩy và khuyến khích sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, vốn là kết quả trên hết của việc nghiên cứu Kinh Thánh và thần học cũng như các cuộc đối thoại huynh đệ…
Hơn nữa, trong việc bác bỏ mọi sự bách hại chống lại bất cứ người nào, Giáo hội, ghi nhớ di sản mà mình chia sẻ với người Do Thái và không bị thúc đẩy bởi lý do chính trị mà bởi tình yêu thiêng liêng của Tin Mừng, lên án sự thù hận, bách hại, biểu hiện bài Do Thái, nhắm vào người Do Thái bất cứ lúc nào và bởi bất cứ ai…
Chúng ta không thể thực sự cầu nguyện với Thiên Chúa, Cha của muôn loài, nếu chúng ta từ chối đối xử một cách huynh đệ với bất cứ người nào, vì họ được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Mối quan hệ của con người với Đức Chúa Cha và mối quan hệ của con người với anh em mình gắn bó chặt chẽ đến nỗi Kinh Thánh nói rằng: "Ai không yêu thương thì không biết Đức Chúa Trời" (1 Ga 4:8).
Bài Giáo lý Hàng tuần của Đức Leo XIV: Mối quan hệ giữa Thánh Kinh và Truyền thống
Vũ Văn An
17:13 28/01/2026
Theo tin Tòa Thánh, tại Hội trường Phaolô VI, Thứ Tư, ngày 28 tháng 1 năm 2026, nhân buổi tiếp kiến chung, Đức Leo XIV đã có bài giáo lý sau đây, theo bản Tiếng Anh của Tòa Thánh:

Giáo lý. Các Văn kiện của Công đồng Vatican II. I. Hiến chương Tín lý Dei Verbum. 3. Một kho tàng thánh thiêng duy nhất. Mối quan hệ giữa Thánh Kinh và Truyền thống.
Anh chị em thân mến, chào buổi sáng và chào mừng!
Tiếp tục đọc Hiến chế Dei Verbum của Công đồng về Mặc Khải Thiên Chúa, hôm nay chúng ta sẽ suy niệm về mối quan hệ giữa Thánh Kinh và Truyền thống. Chúng ta có thể lấy hai cảnh trong Tin Mừng làm bối cảnh. Trong cảnh thứ nhất, diễn ra tại phòng trên lầu, trong bài giảng tuyệt vời dành cho các môn đệ, Chúa Giêsu khẳng định: “Ta đã nói những điều này với các con khi Ta còn ở với các con. Nhưng Đấng An ủi, là Chúa Thánh Thần, mà Cha sẽ sai đến nhân danh Ta, Người sẽ dạy dỗ các con mọi sự, và nhắc nhở các con nhớ lại mọi điều Ta đã nói với các con… Khi Thánh Thần Chân Lý đến, Người sẽ dẫn các con vào trong mọi sự chân lý” (Ga 14:25-26; 16:13).
Cảnh thứ hai đưa chúng ta đến những ngọn đồi ở Ga-li-lê. Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với các môn đệ, những người ngạc nhiên và nghi ngờ, và Người khuyên bảo họ: “Vậy hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ… dạy họ giữ mọi điều Ta đã truyền cho các con” (Mt 28:19-20). Trong cả hai cảnh này, mối liên hệ mật thiết giữa những lời Chúa Kitô phán ra và sự lan truyền của chúng qua các thế kỷ là điều hiển nhiên.
Công đồng Vatican II khẳng định điều này bằng một hình ảnh gợi cảm: “Có một mối liên hệ mật thiết và sự giao thoa giữa truyền thống thánh và Thánh Kinh. Bởi vì cả hai, cùng chảy từ một mạch nguồn thần linh, nên theo một cách nào đó, chúng hòa làm một và hướng tới cùng một mục đích” (Dei Verbum, 9). Truyền thống thánh của Giáo Hội lan tỏa suốt chiều dài lịch sử qua Giáo Hội, nơi gìn giữ, giải thích và thể hiện Lời Chúa. Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo (xem số 113) đề cập đến một phương châm của các Giáo Phụ: “Thánh Kinh được viết chủ yếu trong lòng Giáo Hội hơn là trong các bản văn và hồ sơ”, nghĩa là trong bản văn thánh.
Dựa trên lời Chúa Kitô đã trích dẫn ở trên, Công đồng khẳng định rằng “thánh truyền này, xuất phát từ các Tông đồ, phát triển trong Giáo Hội nhờ sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần” (Dei Verbum, 8). Điều này xảy ra với sự hiểu biết đầy đủ thông qua “sự chiêm niệm và học hỏi của những người tin”, thông qua “sự hiểu biết sâu sắc về những thực tại thiêng liêng mà họ trải nghiệm” và, trên hết, với sự rao giảng của những người kế vị các tông đồ, những người đã nhận được “ân tứ chắc chắn của chân lý”. Tóm lại, “Giáo hội, trong giáo huấn, đời sống và sự thờ phượng của mình, duy trì và truyền lại cho tất cả các thế hệ tất cả những gì chính Giáo hội là, tất cả những gì Giáo hội tin” (ibid.).
Về phương diện này, câu nói nổi tiếng của Thánh Grêgôriô Cả là: “Kinh Thánh phát triển cùng với người đọc chúng”. [1] Và Thánh Augustinô đã nhận xét rằng “chỉ có một Lời của Thiên Chúa được mở ra qua Kinh Thánh, và chỉ có một Lời vang lên trên môi của nhiều vị thánh”. [2] Như vậy, Lời của Thiên Chúa không phải là hóa thạch, mà đúng hơn là một thực tại sống động và hữu cơ phát triển và lớn lên trong Truyền thống. Nhờ Chúa Thánh Thần, Truyền thống hiểu được Lời ấy trong sự phong phú của chân lý và thể hiện nó trong những tọa độ thay đổi của lịch sử.
Về vấn đề này, đề xuất của Thánh Tiến sĩ Giáo hội John Henry Newman trong tác phẩm có tựa đề Sự phát triển của Giáo lý Kitô giáo rất đáng chú ý. Ngài khẳng định rằng Kitô giáo, cả với tư cách là một kinh nghiệm cộng đồng và một giáo lý, là một thực tại năng động, theo cách mà chính Chúa Giêsu đã chỉ ra trong các dụ ngôn về hạt giống (xem Mác 4:26-29): một thực tại sống động phát triển nhờ một sức sống nội tại. [3]
Thánh Tông đồ Phaolô nhiều lần khuyên môn đệ và cộng sự của mình là Ti-mô-thê: “Hỡi Ti-mô-thê, hãy giữ gìn điều đã được giao phó cho con” (1 Ti-mô-thê 6:20; xem 2 Ti-mô-thê 1:12-14). Hiến chế Tín lý Dei Verbum lặp lại bản văn của Thánh Phaolô này khi nói rằng: “Truyền thống thánh và Thánh Kinh tạo thành một kho tàng thánh của lời Chúa, được giao phó cho Giáo hội”, được giải thích bởi “chức vụ giảng dạy sống động của Giáo hội, mà thẩm quyền được thực thi nhân danh Chúa Giêsu Kitô” (số 10). “Kho tàng” là một thuật ngữ, theo nghĩa gốc, mang tính chất pháp lý và đặt lên người giữ kho tàng nghĩa vụ bảo tồn nội dung, trong trường hợp này là đức tin, và truyền lại nguyên vẹn.
“Kho tàng” Lời Chúa vẫn còn nằm trong tay Giáo hội ngày nay, và tất cả chúng ta, trong các sứ vụ khác nhau của mình trong Giáo hội, phải tiếp tục bảo tồn nó trong sự toàn vẹn, như một ngọn hải đăng dẫn đường cho hành trình của chúng ta xuyên suốt sự phức tạp của lịch sử và sự hiện hữu.
Các bạn thân mến, tóm lại, chúng ta hãy cùng lắng nghe lại một lần nữa thông điệp Dei Verbum, thông điệp đề cao sự đan xen giữa Thánh Kinh và Truyền thống: thông điệp khẳng định rằng chúng “liên kết và gắn bó chặt chẽ đến nỗi không thể đứng độc lập, và cùng nhau, mỗi bên theo cách riêng của mình, dưới sự tác động của một Chúa Thánh Thần, chúng góp phần hữu hiệu vào…” ơn cứu rỗi các linh hồn” (x. số 10).
___________________________________
[1] Homiliae in Ezechielem I, VII, 8: PL 76, 843D.
[2] Các lời tường thuật trong Thánh Vịnh 103, IV, 1
[3] Xem. J.H. Newman, Một tiểu luận về sự phát triển học thuyết Kitô giáo, Milan 2003, tr. 104.
Giám mục tiểu bang Arkansas nhận xét chua chát rằng xã hội Mỹ thời Trump cũng gần như xã hội Đức thời tiền Quốc xã Hitler.
Đặng Tự Do
19:17 28/01/2026
Giám mục Anthony Taylor của Little Rock, Arkansas, đã đưa ra một tuyên bố so sánh "sự suy thoái đạo đức của đất nước chúng ta" với những sự kiện dẫn đến sự trỗi dậy của Đức Quốc xã.
Trong tuyên bố, Đức Cha Taylor nói rằng “sự suy thoái đạo đức của đất nước chúng ta là có thật” và nhấn mạnh rằng “chúng ta sẽ lặp lại những thất bại trong quá khứ nếu không sẵn sàng ghi nhớ và học hỏi từ chúng”. Mặc dù Mỹ không phải là Đức Quốc xã và Trump không phải là Hitler, Đức Cha Taylor nói, nhưng những điểm tương đồng đáng lo ngại đang dần xuất hiện.
Ngài nói: “Sự phân cực và bè phái đang đầu độc nền tảng xã hội của đất nước chúng ta. Điều này có nhiều điểm tương đồng rõ ràng với những năm 1930, và điều đó nên khiến chúng ta phải suy ngẫm.”
Tuyên bố của giám mục Arkansas được đưa ra hai ngày trước ngày tưởng niệm nạn nhân Holocaust được quốc tế công nhận.
Sự tương đồng về chính trị
“Ông nội tôi đã mất 20 người anh em họ trong thảm họa Holocaust, và vì vậy tôi thừa nhận mình có xu hướng nhìn nhận những vấn đề đáng lo ngại trong thế giới ngày nay qua lăng kính của nước Đức những năm 1930,” Đức Cha Taylor nói. “Để tránh bất kỳ ai cho rằng phần còn lại của phát biểu của tôi là cường điệu, tôi muốn làm rõ rằng thời điểm hiện tại không giống hệt như vậy, và Tổng thống Trump không phải là Hitler.”
“Ở Hitler, nước Đức có một người hùng biện tài ba, người có khả năng khai thác nỗi sợ hãi và sự tức giận dễ hiểu của người dân sau những tổn thất thảm khốc của đất nước trong Thế chiến I và sự sụp đổ tài chính vào cuối những năm 1920. Những người này khao khát quê hương thân yêu của họ sẽ vĩ đại trở lại, và nhiều người bất mãn đã đồng cảm với những lời nói của Hitler về người Đức 'thực sự', chủng tộc Aryan, và sự chế giễu, bôi nhọ của ông ta đối với những người khác biệt về chủng tộc, tôn giáo hoặc không cùng quan điểm với ông ta.”
Theo Đức Cha Taylor, nền dân chủ của Đức vào những năm 1930 “vẫn còn non trẻ” và thiếu các cơ chế kiểm soát và cân bằng thích đáng. Ngài nói rằng các chính trị gia “quá nhanh chóng làm theo bất kỳ hướng nào mà giới lãnh đạo đề ra”, và những người cố gắng chống lại Hitler trước tiên bị bịt miệng bằng “sự hăm dọa và đe dọa”, sau đó bị đưa đến các trại tập trung.
“Trong thập niên đó, xã hội Đức đã xa rời sự tôn trọng phẩm giá con người, hòa bình và sự kiềm chế đạo đức. Tôi lo ngại rằng những động thái tương tự đang diễn ra ở đất nước chúng ta với sự suy giảm của đối thoại văn minh.”
Đức Cha Taylor cho biết, vấn đề nhập cư là "một vấn đề lớn trong những năm 1930", và lưu ý rằng trong khi Đức "vui mừng khi các nhóm thiểu số rời đi", do cuộc Đại suy thoái và căng thẳng toàn cầu leo thang, nhiều quốc gia đã từ chối tiếp nhận người tị nạn.
“Ví dụ, tàu biển MS St. Louis của Đức chở 937 người tị nạn Do Thái đã bị Cuba, Hoa Kỳ và Canada từ chối nhập cảnh và phải quay trở lại Âu Châu. Một số quốc gia Âu Châu đã tiếp nhận một số người tị nạn đó, nhưng khoảng một phần tư trong số họ đã thiệt mạng sau đó trong thảm họa Holocaust — một lời nhắc nhở đau lòng về cái giá phải trả thực sự của con người khi đóng cửa biên giới đối với những người tị nạn hợp pháp và về các chính sách nhập cư vô nhân đạo.”
Vị giám mục ở Arkansas nhớ lại tác động của tình huống này đối với gia đình mình, lưu ý rằng những người anh em họ của ông nội ngài đã cố gắng trốn khỏi Ba Lan vào năm 1939 nhưng bị chặn lại ở biên giới và buộc phải quay trở lại làng của họ ở Galicia. Ngài nói: “Điều này đã định đoạt số phận của họ. Vào tháng 7 năm 1943, tất cả họ đều bị cuốn vào một cuộc trục xuất hàng loạt và bị đưa đến trại hủy diệt ở Belzec, nơi họ bị giết bằng khí độc và hỏa táng. ”
Đức Cha lưu ý rằng “ngày nay biên giới của chúng ta vẫn phần lớn đóng cửa đối với những người đang gặp nguy hiểm nhất và phải chạy trốn khỏi sự đàn áp hoặc nghèo đói” và viện trợ nước ngoài của Mỹ phần lớn đã bị ngừng lại. Đức Cha Taylor, người vừa hoàn thành hai nhiệm kỳ trong hội đồng quản trị của Tổ chức Cứu trợ Công Giáo, gọi tắt là CRS cho biết: “Tôi hiểu rõ tác động tiêu cực” của việc đóng băng nguồn tài trợ.
“Đây là một vấn đề bảo vệ sự sống. Và nó sẽ vẫn là một vấn đề bảo vệ sự sống chừng nào hàng triệu người vẫn tiếp tục sống trong hoàn cảnh tuyệt vọng, trong khi các quốc gia có đủ nguồn lực lại từ chối giúp đỡ.”
Đức Cha Taylor nhấn mạnh rằng: “Sau khi phá bỏ và biến hệ thống pháp luật của Đức thành vũ khí, đồng thời nắm giữ quyền lực độc tài, Hitler đã có thể gia tăng quyền lực cho đến khi phe đối lập bị dập tắt không còn khả năng ngăn cản ông ta”. Đức Cha lưu ý cách Hitler tấn công và xâm lược các quốc gia khác “cho đến khi với Nga, ông ta đã tự chuốc lấy rắc rối lớn hơn khả năng giải quyết của mình”.
Vị giám mục nói rằng chính sách toàn cầu “Nước Đức trên hết” (“Deutschland Über Alles”) của Hitler “không tôn trọng chủ quyền của các quốc gia khác, không tôn trọng biên giới đã được thiết lập của họ, và không tôn trọng ý chí của người dân sống ở những quốc gia đó”. Thay vào đó, nhà độc tài Đức biện minh cho hành động của mình bằng những lý lẽ sai lầm, rằng người Do Thái phải chịu trách nhiệm cho các vấn đề của Đức, và rằng Ba Lan đã xâm lược Đức trước.
Đức Cha Taylor khuyến khích người Công Giáo đọc bài phát biểu ngày 9 Tháng Giêng của Đức Giáo Hoàng Lêô XIV trước ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh, trong đó Đức Giáo Hoàng suy ngẫm về các chủ đề chính trị trong tác phẩm “Thành phố của Chúa” của Thánh Augustinô, đồng thời cảnh báo về “những mối nguy hiểm nghiêm trọng đối với sự dối trá chính trị xuất phát từ những xuyên tạc lịch sử, chủ nghĩa dân tộc thái quá và sự bóp méo hình mẫu nhà lãnh đạo chính trị lý tưởng”.
“Tôi hi vọng và cầu nguyện rằng, cùng với Đức Giáo Hoàng Lêô, chúng ta có thể nỗ lực hướng tới hòa bình như một điều thực sự tốt đẹp. Và nếu chúng ta nghĩ rằng mình bất lực trong việc thay đổi suy nghĩ của các nhà lãnh đạo, thì đó chính xác là điều mà nhiều người đã tự nhủ với bản thân vào thời Hitler,” Đức Cha Taylor nói. “Nhưng ngoài tình hình chính trị hiện tại, tôi cầu nguyện rằng chúng ta sẽ bắt đầu nhìn nhận những người nhập cư và người tị nạn trong cộng đồng của chúng ta không phải là kẻ thù hay là 'người khác'. Không phải khác biệt về màu da hay giọng nói. Không phải là mối nguy hiểm hay rủi ro. Mà là được tạo dựng theo hình ảnh và giống với cùng một Thiên Chúa chân thật - như người lạ giữa chúng ta - như Chúa Giêsu (Mt 25:35).”
Source:EWTNArkansas bishop draws comparisons in U.S. societal dynamics to Nazi Germany
Trong tuyên bố, Đức Cha Taylor nói rằng “sự suy thoái đạo đức của đất nước chúng ta là có thật” và nhấn mạnh rằng “chúng ta sẽ lặp lại những thất bại trong quá khứ nếu không sẵn sàng ghi nhớ và học hỏi từ chúng”. Mặc dù Mỹ không phải là Đức Quốc xã và Trump không phải là Hitler, Đức Cha Taylor nói, nhưng những điểm tương đồng đáng lo ngại đang dần xuất hiện.
Ngài nói: “Sự phân cực và bè phái đang đầu độc nền tảng xã hội của đất nước chúng ta. Điều này có nhiều điểm tương đồng rõ ràng với những năm 1930, và điều đó nên khiến chúng ta phải suy ngẫm.”
Tuyên bố của giám mục Arkansas được đưa ra hai ngày trước ngày tưởng niệm nạn nhân Holocaust được quốc tế công nhận.
Sự tương đồng về chính trị
“Ông nội tôi đã mất 20 người anh em họ trong thảm họa Holocaust, và vì vậy tôi thừa nhận mình có xu hướng nhìn nhận những vấn đề đáng lo ngại trong thế giới ngày nay qua lăng kính của nước Đức những năm 1930,” Đức Cha Taylor nói. “Để tránh bất kỳ ai cho rằng phần còn lại của phát biểu của tôi là cường điệu, tôi muốn làm rõ rằng thời điểm hiện tại không giống hệt như vậy, và Tổng thống Trump không phải là Hitler.”
“Ở Hitler, nước Đức có một người hùng biện tài ba, người có khả năng khai thác nỗi sợ hãi và sự tức giận dễ hiểu của người dân sau những tổn thất thảm khốc của đất nước trong Thế chiến I và sự sụp đổ tài chính vào cuối những năm 1920. Những người này khao khát quê hương thân yêu của họ sẽ vĩ đại trở lại, và nhiều người bất mãn đã đồng cảm với những lời nói của Hitler về người Đức 'thực sự', chủng tộc Aryan, và sự chế giễu, bôi nhọ của ông ta đối với những người khác biệt về chủng tộc, tôn giáo hoặc không cùng quan điểm với ông ta.”
Theo Đức Cha Taylor, nền dân chủ của Đức vào những năm 1930 “vẫn còn non trẻ” và thiếu các cơ chế kiểm soát và cân bằng thích đáng. Ngài nói rằng các chính trị gia “quá nhanh chóng làm theo bất kỳ hướng nào mà giới lãnh đạo đề ra”, và những người cố gắng chống lại Hitler trước tiên bị bịt miệng bằng “sự hăm dọa và đe dọa”, sau đó bị đưa đến các trại tập trung.
“Trong thập niên đó, xã hội Đức đã xa rời sự tôn trọng phẩm giá con người, hòa bình và sự kiềm chế đạo đức. Tôi lo ngại rằng những động thái tương tự đang diễn ra ở đất nước chúng ta với sự suy giảm của đối thoại văn minh.”
Đức Cha Taylor cho biết, vấn đề nhập cư là "một vấn đề lớn trong những năm 1930", và lưu ý rằng trong khi Đức "vui mừng khi các nhóm thiểu số rời đi", do cuộc Đại suy thoái và căng thẳng toàn cầu leo thang, nhiều quốc gia đã từ chối tiếp nhận người tị nạn.
“Ví dụ, tàu biển MS St. Louis của Đức chở 937 người tị nạn Do Thái đã bị Cuba, Hoa Kỳ và Canada từ chối nhập cảnh và phải quay trở lại Âu Châu. Một số quốc gia Âu Châu đã tiếp nhận một số người tị nạn đó, nhưng khoảng một phần tư trong số họ đã thiệt mạng sau đó trong thảm họa Holocaust — một lời nhắc nhở đau lòng về cái giá phải trả thực sự của con người khi đóng cửa biên giới đối với những người tị nạn hợp pháp và về các chính sách nhập cư vô nhân đạo.”
Vị giám mục ở Arkansas nhớ lại tác động của tình huống này đối với gia đình mình, lưu ý rằng những người anh em họ của ông nội ngài đã cố gắng trốn khỏi Ba Lan vào năm 1939 nhưng bị chặn lại ở biên giới và buộc phải quay trở lại làng của họ ở Galicia. Ngài nói: “Điều này đã định đoạt số phận của họ. Vào tháng 7 năm 1943, tất cả họ đều bị cuốn vào một cuộc trục xuất hàng loạt và bị đưa đến trại hủy diệt ở Belzec, nơi họ bị giết bằng khí độc và hỏa táng. ”
Đức Cha lưu ý rằng “ngày nay biên giới của chúng ta vẫn phần lớn đóng cửa đối với những người đang gặp nguy hiểm nhất và phải chạy trốn khỏi sự đàn áp hoặc nghèo đói” và viện trợ nước ngoài của Mỹ phần lớn đã bị ngừng lại. Đức Cha Taylor, người vừa hoàn thành hai nhiệm kỳ trong hội đồng quản trị của Tổ chức Cứu trợ Công Giáo, gọi tắt là CRS cho biết: “Tôi hiểu rõ tác động tiêu cực” của việc đóng băng nguồn tài trợ.
“Đây là một vấn đề bảo vệ sự sống. Và nó sẽ vẫn là một vấn đề bảo vệ sự sống chừng nào hàng triệu người vẫn tiếp tục sống trong hoàn cảnh tuyệt vọng, trong khi các quốc gia có đủ nguồn lực lại từ chối giúp đỡ.”
Đức Cha Taylor nhấn mạnh rằng: “Sau khi phá bỏ và biến hệ thống pháp luật của Đức thành vũ khí, đồng thời nắm giữ quyền lực độc tài, Hitler đã có thể gia tăng quyền lực cho đến khi phe đối lập bị dập tắt không còn khả năng ngăn cản ông ta”. Đức Cha lưu ý cách Hitler tấn công và xâm lược các quốc gia khác “cho đến khi với Nga, ông ta đã tự chuốc lấy rắc rối lớn hơn khả năng giải quyết của mình”.
Vị giám mục nói rằng chính sách toàn cầu “Nước Đức trên hết” (“Deutschland Über Alles”) của Hitler “không tôn trọng chủ quyền của các quốc gia khác, không tôn trọng biên giới đã được thiết lập của họ, và không tôn trọng ý chí của người dân sống ở những quốc gia đó”. Thay vào đó, nhà độc tài Đức biện minh cho hành động của mình bằng những lý lẽ sai lầm, rằng người Do Thái phải chịu trách nhiệm cho các vấn đề của Đức, và rằng Ba Lan đã xâm lược Đức trước.
Đức Cha Taylor khuyến khích người Công Giáo đọc bài phát biểu ngày 9 Tháng Giêng của Đức Giáo Hoàng Lêô XIV trước ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh, trong đó Đức Giáo Hoàng suy ngẫm về các chủ đề chính trị trong tác phẩm “Thành phố của Chúa” của Thánh Augustinô, đồng thời cảnh báo về “những mối nguy hiểm nghiêm trọng đối với sự dối trá chính trị xuất phát từ những xuyên tạc lịch sử, chủ nghĩa dân tộc thái quá và sự bóp méo hình mẫu nhà lãnh đạo chính trị lý tưởng”.
“Tôi hi vọng và cầu nguyện rằng, cùng với Đức Giáo Hoàng Lêô, chúng ta có thể nỗ lực hướng tới hòa bình như một điều thực sự tốt đẹp. Và nếu chúng ta nghĩ rằng mình bất lực trong việc thay đổi suy nghĩ của các nhà lãnh đạo, thì đó chính xác là điều mà nhiều người đã tự nhủ với bản thân vào thời Hitler,” Đức Cha Taylor nói. “Nhưng ngoài tình hình chính trị hiện tại, tôi cầu nguyện rằng chúng ta sẽ bắt đầu nhìn nhận những người nhập cư và người tị nạn trong cộng đồng của chúng ta không phải là kẻ thù hay là 'người khác'. Không phải khác biệt về màu da hay giọng nói. Không phải là mối nguy hiểm hay rủi ro. Mà là được tạo dựng theo hình ảnh và giống với cùng một Thiên Chúa chân thật - như người lạ giữa chúng ta - như Chúa Giêsu (Mt 25:35).”
Source:EWTN
Đức Giáo Hoàng không phải là một Führer: Hồng Y Müller nói về chủ nghĩa cực đoan Montergan.
Đặng Tự Do
19:57 28/01/2026
Một Hồng Y hàng đầu và cựu tổng trưởng của Giáo triều Rôma đã trả lời phỏng vấn tờ Catholic Herald về tình trạng của Giáo hội, vai trò của Giáo hoàng và cách người Công Giáo nên hiểu về quyền bính của Đức Giáo Hoàng.
Đức Hồng Y Gerhard Ludwig Müller, cựu trưởng ban của Thánh bộ Giáo lý Đức tin, đã mô tả việc tôn sùng các quan điểm cá nhân và chính trị của Đức Cố Giáo hoàng Phanxicô là một “lạc giáo” và nói rằng việc chỉ trích điều đó là “bổn phận” của ngài. Vị giám mục người Đức nhấn mạnh rằng người Công Giáo không nên rơi vào tư thế tâm linh nghiêng về lạc giáo được gọi là “chủ nghĩa cực đoan”, vốn phóng đại vai trò và các giáo lý xung quanh chức vụ Giáo hoàng, và nói rằng họ nên luôn ý thức được bối cảnh lịch sử mà những thái độ như vậy đã xuất hiện vào thế kỷ 19.
Khi được hỏi liệu ngài có nhận thấy sự dư thừa đáng kể các vật phẩm lưu niệm về Giáo hoàng Phanxicô trong các cửa hàng lưu niệm dọc theo Via della Consolazione trước Vatican, so với Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16, và liệu có bóng ma của vị giáo hoàng tiền nhiệm còn vương vấn trong các phiên họp của Công Nghị Hồng Y Ngoại thường hồi đầu tháng Giêng hay không, Đức Hồng Y Müller cho biết cả hai điều đó đều đúng và bày tỏ sự không hài lòng của mình.
“Tôi có bổn phận phải chỉ trích sự sùng bái cá nhân này,” ngài nói. “Nó không liên quan gì đến Giáo Hội Công Giáo… Một số người bạn của Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói về một 'Giáo hội mới'. Đối với tôi, đây là một điều lạc giáo khi nói về 'Giáo hội của Đức Phanxicô'.”
Chẳng ai nói đến cụm từ “Giáo hội của Đức Bênêđíctô” cả, Đức Hồng Y Müller nói.
“Những người Tin Lành đã từng chỉ trích rằng chúng ta đã tôn Đức Giáo Hoàng lên làm vị thần thứ hai”. Đức Hồng Y Müller cảnh báo rằng “giờ đây, năm trăm năm sau”, một số người Công Giáo, do thiếu kiềm chế, đã chứng minh những lời chỉ trích của những người Tin Lành là đúng.
“Từ trước đến nay, người ta vẫn hiểu rằng Đức Giáo Hoàng là một giám mục giữa các giám mục khác, nhưng Ngài có một đặc sủng đặc biệt, đó là Ngài, vị Giám mục Roma, là người kế vị cá nhân của Thánh Phêrô và là nguyên tắc thống nhất của Giáo Hội, không phải là sự thống nhất do con người tạo ra mà là sự thống nhất do Đức Tin, do Chúa Giêsu Kitô và chân lý mặc khải ban cho.”
“Và Giáo hoàng có một danh hiệu rất tốt, được ban bởi Đức Giáo Hoàng Thánh Grêgôriô I, servus servorum Dei, tôi tớ của các tôi tớ Chúa,” ngài nói thêm, và nhấn mạnh rằng Giáo hoàng không phải là một vị vua chuyên chế tuyệt đối không bị ràng buộc bởi bất kỳ giới hạn hay ràng buộc nào.
“Ngài là Tôi Tớ Đầu Tiên của Giáo Hội, với một vai trò đặc biệt, nhưng chúng ta không có một Giáo Hội lấy Đức Giáo Hoàng làm trung tâm. Trong giáo phận, chúng ta không có một Giáo Hội lấy Đức Giám Mục làm trung tâm. Và trong giáo xứ, chúng ta không có một Giáo Hội lấy linh mục quản xứ làm trung tâm. Các ngài phải dẫn dắt giáo dân nhưng các ngài không thể ban ân sủng. Các ngài chỉ là những công cụ của ân sủng.”
Đức Hồng Y Müller cho rằng Đức Giáo Hoàng danh dự Bênêđíctô XVI có thể “quá uyên bác” khi thu hút được sự ngưỡng mộ tương tự từ công chúng, nhưng chính vị Giáo Hoàng người Đức đã kêu gọi các tín hữu Công Giáo hãy lắng nghe và đọc các tác phẩm của ngài nếu muốn hiểu tại sao thái độ thái quá đối với Giáo hoàng lại sai lầm.
“Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16 đã chỉ trích các hình thái sùng bái Giáo hoàng đã hình thành từ thế kỷ 19,. Điều này có liên quan đến truyền thông đại chúng. Chúng ta phải tránh điều đó. Đức Giáo Hoàng không phải là một nhà lãnh đạo độc tài.”
Đức Hồng Y Müller cũng cảnh báo về những hành vi củng cố đường lối sai lệch này đối với Đức Giáo Hoàng.
“Khi ngài đi dạo trên Quảng trường Thánh Phêrô bằng xe hơi, ngài không phải là một Caesar. Ngài ở đó để ban phước lành cho mọi người nhân danh Chúa Giêsu Kitô, chứ không phải vì [đám đông và khách du lịch] muốn chụp ảnh với Giáo hoàng.”
Đức Hồng Y Müller cho rằng việc Đức Bênêđíctô “nói rất nhiều về Chân lý và tính siêu việt của Giáo hội” có thể đã khiến ngài xa lánh và tạo ra kẻ thù, nhưng Đức Hồng Y lập luận rằng sự nhấn mạnh này là cần thiết. Ngài nói thêm rằng việc coi Đức Giáo Hoàng như một người nổi tiếng phản ánh một thứ bậc ưu tiên sai lệch, lẽ ra phải đặt Chúa Giêsu Kitô ở vị trí trung tâm.
“Khi ngài bước vào Đền Thờ Thánh Phêrô, mọi người đều chụp ảnh ngài. Không, họ nên làm dấu thánh giá khi được ban phước. Đó là một vấn đề,” ngài nói.
“Trong Năm Thánh, chúng ta đã đón gần 40 triệu khách hành hương và khách du lịch, và con số này chẳng là gì nếu họ không có sự tiếp xúc với Chúa Giêsu Kitô, không có sự biến đổi trong cuộc sống của họ.”
Trên mạng, trên các phương tiện truyền thông và trong giới học thuật, thường có những người bênh vực Giáo hoàng với thiện chí, tìm cách biện minh và coi mọi lời nói và hành động của một vị Giáo hoàng đương nhiệm hoặc tiền nhiệm là bất khả xâm phạm. Trong thế giới nói tiếng Anh, họ đôi khi được gọi một cách thông tục là “popesplainers” (những người giải thích về Giáo hoàng), một nhãn hiệu mà họ có thể chấp nhận hoặc không. Đức Hồng Y Müller đồng ý rằng những nhân vật như vậy đang sai lầm khi tiếp tục di sản của chủ nghĩa cực đoan Giáo hoàng, một phong trào bắt nguồn từ Pháp, nơi vai trò của Giáo hoàng trước đây đã bị đánh giá thấp và sau đó bị phóng đại.
Để khắc phục xu hướng này, Đức Hồng Y Müller nói rằng người Công Giáo cần hiểu rõ hơn về lịch sử và phải nhận ra bối cảnh bấp bênh mà trong đó sự sùng bái Giáo hoàng đã xuất hiện.
“Trước thời các nhà độc tài vô thần vĩ đại của thế kỷ 20, ở Ý và Đức đã từng diễn ra một cuộc chiến tranh văn hóa, do Bismarck và những người khác khởi xướng. Họ là kẻ thù lớn của Giáo Hội Công Giáo. Ở Pháp, người ta có sự phân lập giữa Giáo hội và Nhà nước.”
Ngài nói: “Đây không phải là sự tách rời giữa Giáo hội và nhà nước, mà là sự đàn áp các quyền và tự do của Giáo hội cho đến nay. Chúng ta phải phê phán quan niệm này, khi mà các ý thức hệ phi Kitô giáo và chống Kitô giáo hiện diện trong đời sống công cộng và nhà nước, và chỉ có quan điểm Kitô giáo bị loại trừ.”
“Điều đó hoàn toàn sai lầm,” Đức Hồng Y Müller nói thêm. “Do đó, để bảo vệ Đức Giáo Hoàng, người Công Giáo đã phát triển một hình thức sùng bái Giáo hoàng nhất định.”
“Quan điểm cho rằng mọi ý nghĩ riêng tư của Đức Giáo Hoàng đều là tín điều hoặc là sự giải thích về chân lý mặc khải là một sự phóng đại,” ngài nói. “Cho đến thời của Đức Phanxicô, khi một số người nói, với sự hiểu biết không sâu sắc lắm, về ‘đạo lý của Đức Giáo Hoàng Phanxicô’. Không có đạo lý nào của Đức Phanxicô, chỉ có đạo lý của Giáo hội, mà Giáo hoàng có thể diễn đạt.”
Source:Catholic Herald“The Pope is not a Führer”: Cardinal Müller on ultramontanism
Đức Hồng Y Gerhard Ludwig Müller, cựu trưởng ban của Thánh bộ Giáo lý Đức tin, đã mô tả việc tôn sùng các quan điểm cá nhân và chính trị của Đức Cố Giáo hoàng Phanxicô là một “lạc giáo” và nói rằng việc chỉ trích điều đó là “bổn phận” của ngài. Vị giám mục người Đức nhấn mạnh rằng người Công Giáo không nên rơi vào tư thế tâm linh nghiêng về lạc giáo được gọi là “chủ nghĩa cực đoan”, vốn phóng đại vai trò và các giáo lý xung quanh chức vụ Giáo hoàng, và nói rằng họ nên luôn ý thức được bối cảnh lịch sử mà những thái độ như vậy đã xuất hiện vào thế kỷ 19.
Khi được hỏi liệu ngài có nhận thấy sự dư thừa đáng kể các vật phẩm lưu niệm về Giáo hoàng Phanxicô trong các cửa hàng lưu niệm dọc theo Via della Consolazione trước Vatican, so với Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16, và liệu có bóng ma của vị giáo hoàng tiền nhiệm còn vương vấn trong các phiên họp của Công Nghị Hồng Y Ngoại thường hồi đầu tháng Giêng hay không, Đức Hồng Y Müller cho biết cả hai điều đó đều đúng và bày tỏ sự không hài lòng của mình.
“Tôi có bổn phận phải chỉ trích sự sùng bái cá nhân này,” ngài nói. “Nó không liên quan gì đến Giáo Hội Công Giáo… Một số người bạn của Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói về một 'Giáo hội mới'. Đối với tôi, đây là một điều lạc giáo khi nói về 'Giáo hội của Đức Phanxicô'.”
Chẳng ai nói đến cụm từ “Giáo hội của Đức Bênêđíctô” cả, Đức Hồng Y Müller nói.
“Những người Tin Lành đã từng chỉ trích rằng chúng ta đã tôn Đức Giáo Hoàng lên làm vị thần thứ hai”. Đức Hồng Y Müller cảnh báo rằng “giờ đây, năm trăm năm sau”, một số người Công Giáo, do thiếu kiềm chế, đã chứng minh những lời chỉ trích của những người Tin Lành là đúng.
“Từ trước đến nay, người ta vẫn hiểu rằng Đức Giáo Hoàng là một giám mục giữa các giám mục khác, nhưng Ngài có một đặc sủng đặc biệt, đó là Ngài, vị Giám mục Roma, là người kế vị cá nhân của Thánh Phêrô và là nguyên tắc thống nhất của Giáo Hội, không phải là sự thống nhất do con người tạo ra mà là sự thống nhất do Đức Tin, do Chúa Giêsu Kitô và chân lý mặc khải ban cho.”
“Và Giáo hoàng có một danh hiệu rất tốt, được ban bởi Đức Giáo Hoàng Thánh Grêgôriô I, servus servorum Dei, tôi tớ của các tôi tớ Chúa,” ngài nói thêm, và nhấn mạnh rằng Giáo hoàng không phải là một vị vua chuyên chế tuyệt đối không bị ràng buộc bởi bất kỳ giới hạn hay ràng buộc nào.
“Ngài là Tôi Tớ Đầu Tiên của Giáo Hội, với một vai trò đặc biệt, nhưng chúng ta không có một Giáo Hội lấy Đức Giáo Hoàng làm trung tâm. Trong giáo phận, chúng ta không có một Giáo Hội lấy Đức Giám Mục làm trung tâm. Và trong giáo xứ, chúng ta không có một Giáo Hội lấy linh mục quản xứ làm trung tâm. Các ngài phải dẫn dắt giáo dân nhưng các ngài không thể ban ân sủng. Các ngài chỉ là những công cụ của ân sủng.”
Đức Hồng Y Müller cho rằng Đức Giáo Hoàng danh dự Bênêđíctô XVI có thể “quá uyên bác” khi thu hút được sự ngưỡng mộ tương tự từ công chúng, nhưng chính vị Giáo Hoàng người Đức đã kêu gọi các tín hữu Công Giáo hãy lắng nghe và đọc các tác phẩm của ngài nếu muốn hiểu tại sao thái độ thái quá đối với Giáo hoàng lại sai lầm.
“Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16 đã chỉ trích các hình thái sùng bái Giáo hoàng đã hình thành từ thế kỷ 19,. Điều này có liên quan đến truyền thông đại chúng. Chúng ta phải tránh điều đó. Đức Giáo Hoàng không phải là một nhà lãnh đạo độc tài.”
Đức Hồng Y Müller cũng cảnh báo về những hành vi củng cố đường lối sai lệch này đối với Đức Giáo Hoàng.
“Khi ngài đi dạo trên Quảng trường Thánh Phêrô bằng xe hơi, ngài không phải là một Caesar. Ngài ở đó để ban phước lành cho mọi người nhân danh Chúa Giêsu Kitô, chứ không phải vì [đám đông và khách du lịch] muốn chụp ảnh với Giáo hoàng.”
Đức Hồng Y Müller cho rằng việc Đức Bênêđíctô “nói rất nhiều về Chân lý và tính siêu việt của Giáo hội” có thể đã khiến ngài xa lánh và tạo ra kẻ thù, nhưng Đức Hồng Y lập luận rằng sự nhấn mạnh này là cần thiết. Ngài nói thêm rằng việc coi Đức Giáo Hoàng như một người nổi tiếng phản ánh một thứ bậc ưu tiên sai lệch, lẽ ra phải đặt Chúa Giêsu Kitô ở vị trí trung tâm.
“Khi ngài bước vào Đền Thờ Thánh Phêrô, mọi người đều chụp ảnh ngài. Không, họ nên làm dấu thánh giá khi được ban phước. Đó là một vấn đề,” ngài nói.
“Trong Năm Thánh, chúng ta đã đón gần 40 triệu khách hành hương và khách du lịch, và con số này chẳng là gì nếu họ không có sự tiếp xúc với Chúa Giêsu Kitô, không có sự biến đổi trong cuộc sống của họ.”
Trên mạng, trên các phương tiện truyền thông và trong giới học thuật, thường có những người bênh vực Giáo hoàng với thiện chí, tìm cách biện minh và coi mọi lời nói và hành động của một vị Giáo hoàng đương nhiệm hoặc tiền nhiệm là bất khả xâm phạm. Trong thế giới nói tiếng Anh, họ đôi khi được gọi một cách thông tục là “popesplainers” (những người giải thích về Giáo hoàng), một nhãn hiệu mà họ có thể chấp nhận hoặc không. Đức Hồng Y Müller đồng ý rằng những nhân vật như vậy đang sai lầm khi tiếp tục di sản của chủ nghĩa cực đoan Giáo hoàng, một phong trào bắt nguồn từ Pháp, nơi vai trò của Giáo hoàng trước đây đã bị đánh giá thấp và sau đó bị phóng đại.
Để khắc phục xu hướng này, Đức Hồng Y Müller nói rằng người Công Giáo cần hiểu rõ hơn về lịch sử và phải nhận ra bối cảnh bấp bênh mà trong đó sự sùng bái Giáo hoàng đã xuất hiện.
“Trước thời các nhà độc tài vô thần vĩ đại của thế kỷ 20, ở Ý và Đức đã từng diễn ra một cuộc chiến tranh văn hóa, do Bismarck và những người khác khởi xướng. Họ là kẻ thù lớn của Giáo Hội Công Giáo. Ở Pháp, người ta có sự phân lập giữa Giáo hội và Nhà nước.”
Ngài nói: “Đây không phải là sự tách rời giữa Giáo hội và nhà nước, mà là sự đàn áp các quyền và tự do của Giáo hội cho đến nay. Chúng ta phải phê phán quan niệm này, khi mà các ý thức hệ phi Kitô giáo và chống Kitô giáo hiện diện trong đời sống công cộng và nhà nước, và chỉ có quan điểm Kitô giáo bị loại trừ.”
“Điều đó hoàn toàn sai lầm,” Đức Hồng Y Müller nói thêm. “Do đó, để bảo vệ Đức Giáo Hoàng, người Công Giáo đã phát triển một hình thức sùng bái Giáo hoàng nhất định.”
“Quan điểm cho rằng mọi ý nghĩ riêng tư của Đức Giáo Hoàng đều là tín điều hoặc là sự giải thích về chân lý mặc khải là một sự phóng đại,” ngài nói. “Cho đến thời của Đức Phanxicô, khi một số người nói, với sự hiểu biết không sâu sắc lắm, về ‘đạo lý của Đức Giáo Hoàng Phanxicô’. Không có đạo lý nào của Đức Phanxicô, chỉ có đạo lý của Giáo hội, mà Giáo hoàng có thể diễn đạt.”
Source:Catholic Herald
Văn Hóa
Tin mừng Gia Đình trong nền văn hóa bão hòa về tình dục, Chương ba
Vũ Văn An
18:34 28/01/2026
Chương Ba: Kinh nghiệm của Giáo hội Nguyên thủy: Trung thành với Tin Mừng Gia đình (tiếp theo)
Bình luận của Origen về Ngoại lệ Mátthêu
Bản văn lời bình luận của Origen về ngoại lệ Mátthêu là điều quan trọng thứ hai, vì vị Hồng Y sử dụng nó để diễn đạt luận lý học khoan dung cần được chấp nhận. Ngài đề cập đến nó hai lần trong tập sách nhỏ của mình, lần thứ hai rõ ràng hơn, vì ngài khẳng định: “Luật lệ này đã được Origen chứng thực rõ ràng, người cho rằng nó không phải là vô lý (Chú giải về Mátthêu, 1 4:23). Và một số người khác cũng đề cập đến nó. Họ biện minh cho tuyên bố ‘không phải là vô lý’ với mục đích mục vụ là ‘ngăn chặn điều gì đó tồi tệ hơn’.” (31)
Chúng tôi thấy cần trích dẫn đầy đủ đoạn văn được đề cập:
Trái ngược với Kinh Thánh, một số nhà lãnh đạo Giáo hội đã cho phép tái hôn với một người phụ nữ có chồng vẫn còn sống. Họ đã làm như vậy bất chấp những gì đã được viết: “Người vợ gắn bó với chồng mình bao lâu chồng còn sống” (1 Cr 7:39) và “một người phụ nữ đã kết hôn… sẽ bị gọi là ngoại tình nếu… bà sống với một người đàn ông khác khi chồng bà còn sống” (Rô-ma 7:3) Tuy nhiên, họ không hành động hoàn toàn vô lý (ou mēn pántē alógōs). Có lẽ sự yếu đuối này [Symperiphora, sự khoan dung] được cho phép khi xét đến những điều ác lớn hơn, trái với luật nguyên thủy được ghi lại trong Kinh Thánh (32).
Thật đáng ngạc nhiên khi Kasper luôn cẩn thận tránh trích dẫn toàn bộ đoạn văn, trong đó Origen ba lần làm rõ rằng đây là một hành vi trái với Kinh Thánh, mà ông coi là thẩm quyền cao nhất.(33) Do đó, lời chứng của Origen về hành vi này, mà theo quan điểm của ông là bất hợp pháp, hoàn toàn không thể được coi là đồng tình với sự khoan dung nói trên. Thật vậy, xét toàn bộ đoạn văn này đặc biệt sáng tỏ. Cách hành động của họ được xem xét với một số hiểu biết: “họ không hành động hoàn toàn vô lý (ou mēn pántē alógōs). Tuy nhiên, điều này khác với việc nói rằng những gì họ làm “không phải là vô lý”. Thay vào đó, Origen thực sự chỉ đơn giản thừa nhận sự hiện hữu của một số lý do (nó không hoàn toàn phi lý), xuất phát từ luận lý học của con người, mà phải được lồng ghép vào một luận lý học cao hơn xuất phát từ Kinh Thánh. Theo hướng này, bản thân “những điều ác lớn hơn” có thể được hiểu là ám chỉ những vi phạm tồi tệ hơn khiến chúng có vẻ ít phi lý hơn,(34) và không nhất thiết là những điều ác sẽ xảy ra nếu chúng không được dung thứ. Do đó, từ đoạn văn này, một điều gì đó hoàn toàn khác với những gì được Kasper đề xuất như một nguyên tắc trong bài diễn văn của ngài, và tất nhiên điều này khiến cách trích dẫn của ngài trở nên không thể chấp nhận được. Tương tự, việc ngài lạc đề về việc tránh “những điều ác lớn hơn” tỏ ra không đủ nếu không xem xét đến điều ác thực sự xảy ra.
Thực ra, Đức Hồng Y sử dụng nó như một bản tóm tắt lý do cho mọi sự khoan dung mục vụ khi ngài nói: “Vì mối quan tâm mục vụ ‘để ngăn chặn điều gì đó tồi tệ hơn, những giáo phụ này đã sẵn sàng dung thứ cho một điều mà tự thân nó là không thể chấp nhận được’.”(35) Do đó, Đức Hồng Y dễ dàng biến điều này thành một đề xuất cho đời sống Giáo hội đương thời, dựa trên một cách tiếp cận duy hiệu quả (consequentialist):
Con đường đang bàn sẽ không phải là một giải pháp chung. Nó không phải là một con đường rộng mở cho đại đa số quần chúng, mà là một con đường hẹp cho một bộ phận nhỏ hơn, thực sự, những người đã ly hôn và tái hôn, những người thực sự quan tâm đến các bí tích. Chẳng phải chính ở đây cần phải ngăn chặn điều gì đó tồi tệ hơn sao? Bởi vì khi con cái trong gia đình của những người ly hôn và tái hôn không bao giờ thấy cha mẹ mình tham dự các bí tích, thì thông thường chúng cũng sẽ không tìm được đường đến nơi xưng tội và rước lễ. Vậy thì chúng ta có chấp nhận hậu quả là chúng ta cũng sẽ mất đi thế hệ tiếp theo, và có lẽ cả thế hệ sau đó nữa không? Chẳng phải tập quán được gìn giữ tốt của chúng ta sẽ trở nên phản tác dụng sao? (36)
Bất cứ sự khoan dung nào của người có thẩm quyền đối với một điều xấu đều bắt nguồn từ nỗi sợ hãi về những hậu quả tồi tệ hơn, nhưng trong trường hợp của Giáo hội, không thể phủ nhận sự bất công mà điều này ngụ ý - tức là, thực tại tội lỗi - và không thể trì hoãn hậu quả của nó.
Quy luật Thánh Basiliô
Giờ đây, chúng ta hãy chuyển sang Quy luật Thánh Basiliô, một trong những bản văn hiện đang được tranh luận nhiều nhất, vì chắc chắn nó nói trực tiếp về sự khoan dung đối với một cá nhân đã ly hôn và tái hôn. Thật vậy, đây chính là bản văn được các nhà giáo luật Chính thống giáo sử dụng để biện minh cho thực hành của họ, (37)
Đoạn văn này viết như sau: “Lời buộc tội ở đây liên quan đến người phụ nữ đã ly dị chồng—theo lý do khiến cô ấy ly dị chồng. [Người phụ nữ] đã ly dị là một người ngoại tình nếu cô ấy đến với một người đàn ông khác. Nhưng người đàn ông bị bỏ rơi thì phải được tha thứ, và người phụ nữ sống với người như vậy thì không bị lên án.” (38)
Chắc chắn đây là một đoạn văn khó hiểu; nó nói về việc bào chữa chứ không phải lên án, nhưng không dễ để hiểu chính xác tình huống mà nó đề cập đến. Về người phụ nữ không bị lên án, mọi thứ dường như chỉ ra rằng điều này liên quan đến một người phụ nữ không biết về tình trạng trước đây của chồng mình, như trường hợp này đã được chứng minh sau này. (39)
Do đó, nó khác với lời bào chữa liên quan đến người đàn ông, mặc dù không nói rõ cụ thể điều gì được bào chữa, liệu tác giả có ý nói đến tội ly thân cho phép ăn năn, hay tội tái hôn sau đó vốn được coi là có thể hiểu được- mặc dù không được mô tả là hợp pháp - hay vấn đề về sự thiếu hiểu biết liên quan đến việc không biết gì về người vợ trước, thậm chí không biết liệu cô ấy còn sống hay không. Đoạn văn khiến người đọc khá bối rối, bởi vì khi nói về một hình thức khoan dung, nó không làm rõ các điều khoản cũng như giới hạn trong đó nó diễn ra. Bối cảnh là một tập hợp các “quy tắc” rất đa dạng, đề cập đến những trường hợp cụ thể và khó đánh giá. Điều này hoàn toàn khác với một chuẩn mực đã được thiết lập nhằm mục đích coi một người đã ly hôn và tái hôn như có một tư thế được chấp nhận bên trong Giáo hội.
Dù sao, lời khuyên đặc thù này phải được hiểu trong bối cảnh của sự bác bỏ rõ ràng đối với bất cứ hình thức ly hôn nào, mà vị giáo phụ Cappadocia đã diễn đạt một cách vô điều kiện và với ý thức lên án rõ ràng trong một tác phẩm khác: Một người đàn ông đã ly dị vợ mình thì không được phép kết hôn với người khác, và người phụ nữ đã bị chồng ruồng bỏ cũng không được phép tái hôn với người khác. (41)
Tuy nhiên, sự khoan dung không liên quan đến việc phán quyết rằng cuộc hôn nhân là hợp pháp, mà đúng hơn là quyết định không áp đặt một hình phạt nào. (42) Thực tế, việc sám hối thích hợp là lý do tại sao Giám mục Iconium yêu cầu Thánh Basiliô ban cho những “quy tắc” hay luật lệ này, về mặt văn phong, chúng giống một bức thư hơn là một bản văn pháp lý. (43)
Việc đề cập đến Thánh Gregory thành Nazianzen
Trong trường hợp đề cập đến Thánh Gregory Nazianzen, chúng ta đang xem xét một ghi chú bên lề, một nhận xét được đưa ra thoáng qua, thực ra chỉ nói về cách các Giáo phụ đã giải thích điều gọi là ngoại lệ theo Tin mừng Mátthêu hay ngoại lệ “vì lý do không khiết tịnh” (Mt 5:3). (44) Nó không được hiểu là lý do để ly hôn và để có thể tái hôn, mà là một mệnh lệnh phải ly thân vì người vợ phóng đãng (tuy nhiên, điều này không bao gồm việc cho phép tái hôn). Chúng ta hãy xem xét chính xác lời của Thánh Gregory: “Luật pháp cho phép ly dị vì mọi lý do; nhưng Chúa Kitô không cho phép ly dị vì mọi lý do; nhưng Người chỉ cho phép ly thân với gái điếm; và trong mọi điều khác, Người truyền lệnh phải kiên nhẫn.”(45) Do đó, ngài nói về việc ly thân, nhưng không bao giờ nói về bất cứ việc cho phép một cuộc hôn nhân thứ hai nào. Lập luận từ sự im lặng cho phép này, trong trường hợp này, là khó hiểu, vì chúng ta thấy ngay trước đó, ngài nói: “Nhưng nếu Chúa Kitô là Một, là Đầu duy nhất của Hội Thánh, thì cũng phải có một xương một thịt, và phải từ chối cuộc hôn nhân thứ hai; và nếu nó cản trở cuộc hôn nhân thứ hai, thì còn nói gì đến cuộc hôn nhân thứ ba? Thứ nhất là luật pháp, thứ hai là sự khoan dung, thứ ba là sự vi phạm, và bất cứ điều gì vượt quá điều này đều là dơ bẩn (swinish).” (46)
Chúng ta có thể nghĩ rằng sự từ chối này, được trình bày theo những đường lối chung, cuối cùng sẽ cho phép bằng cách “khoan dung” khả năng tái hôn cho một người góa bụa do người phối ngẫu qua đời, nhưng phải nói gì về những cuộc hôn nhân trực tiếp trái ngược với Kinh Thánh? Điều này thậm chí còn đúng hơn nếu chúng ta nhớ lại rằng Giám mục Cappadocia tuyên bố rằng “ly hôn... hoàn toàn trái với luật pháp của chúng tôi, mặc dù luật pháp La Mã có thể quyết định khác.” (47)
Ngoại lệ khả hữu của Thánh Augustinô
Tham chiếu giáo phụ cuối cùng mà chúng ta tìm thấy trong bài diễn văn trích dẫn Thánh Augustinô, không ai khác chính là vị Giáo phụ, người được cho là đã đưa ra khái niệm coi mối liên kết hôn nhân như là bất khả phân ly. Nếu tác giả này, bất chấp quan điểm cứng ngắc của ngài, đã thừa nhận một số ngoại lệ, tại sao bây giờ lại không làm như vậy?
Chúng ta hãy xem xét lời của vị Tiến sĩ Giáo hội này:
“Trong những lời lẽ thần linh thực tế, cũng có một sự không chắc chắn tương tự về việc liệu một người như vậy, người chắc chắn được phép ly dị người phụ nữ ngoại tình, vẫn bị coi là kẻ ngoại tình nếu anh ta tái hôn, đặc biệt là khi lỗi lầm trong trường hợp đó, theo quan điểm của tôi, là một lỗi lầm nhẹ [venial].” (48)
Bản văn này được trích dẫn vì nó mô tả ly hôn là “[lỗi] nhẹ”, mặc dù thuật ngữ của Thánh Augustinô về các tội “nhẹ” rất phức tạp và ít nhất sẽ hàm ý một số nghi ngờ, xét đến lập trường cứng rắn của ngài chống lại việc chấp nhận bất cứ cuộc hôn nhân nào sau khi ly hôn.
Cách giải thích sẽ thay đổi khi chúng ta xem xét bối cảnh của điều kiện này, tức là trường hợp chấp nhận một người dự tòng đã ly dị được rửa tội, (49) nói cách khác, một người đã kết hôn hai lần trước khi rửa tội. Quan điểm của Thánh Augustinô, vốn chấp nhận ứng viên với những điều kiện nhất định để bảo đảm người đó không phải chịu lỗi về việc ly hôn, do đó giả định một sự hiểu biết đặc biệt tinh vi về sự khác biệt giữa ly hôn nơi những người dự tòng và hôn nhân giữa những người đã chịu phép rửa tội, điều này hoàn toàn không phổ biến vào thời đó.(50)
Một lần nữa, những gì xuất hiện từ việc phân tích bản văn hoàn toàn khác với những gì Đức Hồng Y muốn chúng ta giả định trong bài phát biểu của ngài.
Kết luận
Việc đề cập đến các Giáo phụ có hai tầm quan trọng, và từ góc nhìn hai mặt này, chúng ta nên trình bày kết luận cho lời giải thích nhanh chóng của chúng ta.
Về thái độ của Giáo hội nguyên thủy đối với vấn đề ly hôn trong một xã hội mà mức độ của hiện tượng này rất giống với xã hội chúng ta, chúng ta thấy rằng cách đối diện với nó chứa đựng một giá trị pháp lý trong Giáo hội, được phát biểu chính vào thời điểm sự phát triển định chế của Giáo hội đang bắt đầu. Các can thiệp luôn có xu hướng đánh giá tình hình một cách khách quan, phân biệt giữa các trường hợp và đưa ra những hướng dẫn khách quan theo nghĩa cũng mang tính quy phạm.
Cùng với quan điểm này, con đường mà việc chăm sóc mục vụ cần theo đuổi đã được xác định; dựa trên những lập luận thực sự cơ bản, con đường này hướng đến một sự đồng thuận thực tế tập trung vào những lập luận có khả năng làm nền tảng cho hoạt động mục vụ có nguyên tắc.
Trên thực tế, nếu chúng ta xem xét tất cả các lời chứng về vấn đề này, thật đáng ngạc nhiên khi thấy rất ít tài liệu nhắc đến bất cứ hình thức khoan dung nào. Các trường hợp cho phép sự khoan dung tối đa đều liên quan đến những tình huống rất cụ thể, đặc thù và phù hợp với một cách tiếp cận sám hối rất nghiêm khắc, bao gồm, như một điều kiện thông thường, là kiêng quan hệ tình dục. Trong bối cảnh môi trường dễ xảy ra ly hôn, lập trường khoan dung thực sự hiếm hoi này là một bài học quan trọng về cách thức vấn đề này được xem xét - không phải như một vấn đề thứ yếu, mà là một điều rất quan trọng liên quan đến Tin Mừng và do đó phải được bảo vệ mạnh mẽ vì áp lực to lớn mà các Kitô hữu phải chịu đựng. Bằng chứng về lập trường cụ thể của họ trong việc bảo vệ tính bất khả phân ly, trái ngược với các phong tục xã hội thời bấy giờ, là sự nhận thức về giá trị tiên tri của hôn nhân Kitô giáo đã thay đổi xã hội thời bấy giờ.
______________________________________________________
Ghi chú
1. Tin Mừng Gia Đình, Lời Giới Thiệu, tr.2
2. Xem Tomás Rincón El Matrimonio: Mysterio y signo [Hôn phối: Mầu nhiệm và dấu chỉ] (Pamplona: EUNSAP 1971)
3. Bài thảo luận của Henri, "Divorce et remarriage dans l'Église: Quelques réflections de methodologie historique" (Ly hôn và tái hôn trong Giáo hội: Những suy tư về phương pháp luận lịch sử), trong Nouvelle Revue Théologique 98 (1976): 891-917, là một ví dụ điển hình về sự rõ ràng và nghiên cứu lịch sử nghiêm ngặt theo hướng này.
4. Xem Thánh Anphôngsô đệ Liguori, Theoligia Moralis I, Cuốn I, c.2, số 22 (Rome:Typographia Vaticana, 1905) tr. 11 “numquam esse licitum cum conscientia practica dubia operari” (không bao giờ hợp pháp khi hành động với một lương tâm thự tế trong tình trạng hoài nghi)
5.Xem Theologia Moralis I, cuốn I, c.3 số 55 tr.25: “Nam ad licite operandum sola non sufficit probabilitas; sed requiritur moralis certitudo de honestitate actionis (vì để hành động một cách hợp pháp, cái nhiên mà thôi không đủ mà đúng hơn phải có sự chắc chắn tinh thần về tính đoan chính của hành động].
6. Walter Kasper, Thần học về Hôn nhân Ki-tô giáo, David Smith dịch (New York: Seabury Press, 1980) tr. 54.
7. Tin mừng Gia Đình tr. 31; nhấn mạnh.
8.Ibid
9. Ibid. tr. 37-38
10. Ibid. tr. 38
11. Hãy nghĩ đến công trình đồ sộ của Hugh of Saint Victor trong De Sacramentis Christianae fidei [Về bí tích của đức tin Ki-tô giáo] (Munster: Monasterii Westfalorum, 2008)
(12). Để có một nghiên cứu có tính quyết định và được ghi chép đầy đủ, hãy xem Luigi Bresan Il divorzio nell Chiese Orientali [ly dị trong giáo hội đông phương] (Bologna: EDB 1976)97
(13) Xem Tin Mừng Gia Đình, tr. 38: “Tuy nhiên, kể từ thế kỷ thứ sáu, theo luật lệ của đế quốc Byzantine, họ đã vượt ra ngoài lập trường khoan dung, khoan hồng và kiên nhẫn của mục vụ và họ thừa nhận - bên cạnh các điều khoản liên quan đến ngoại tình - các căn cứ bổ sung cho việc ly hôn, dựa trên cái chết về mặt đạo đức chứ không chỉ là cái chết về mặt thể xác của mối quan hệ hôn nhân”. Mặc dù cách trình bày đầu tiên có vẻ có tính phê phán, nhưng việc đề cập đến phép loại suy về “cái chết về mặt đạo đức” của một cuộc hôn nhân, mà như chúng ta đã thấy được lấy từ Pavel Evdokimov, dường như không có sự hạn chế, trong khi nó cần được giải thích, vì đây là một phép loại suy không phù hợp (xem Pavel Evdokimov, Le Sacrement de l'action: Le mystère conjugal à la lumière de la tradition orthodoxe [Bí tích hành động: Mầu nhiệm phu phụ dưới ánh sáng truyền thống chính thống] ( Paris Edition de l'Epi, 1962). Khía cạnh này đã được làm rõ trong phần trả lời của Basilio Petra, người, về phần mình, chấp nhận lập trường này; xem Angel Rodriguez Luño, “L'estinzione del matrimonio a causa della morte: Obiezioni alla tesi di B. Petra [Sự chấm dứt hôn nhân do cái chết: Những phản đối đối với luận án của B. Petra]” trong Rivista di Teologia Morale [Tạp chí Thần học Đạo đức]130 (2001): 237- 48. Petra trả lời trong Basilio Petri, “Risposta a Rodriguez -Luno” trong Rivista di Teologia Morale 140 (2001) 249-58.
14. Muốn biết quan điểm lịch sử của khoa học thần học này, xem Gifler Pelland, “Le dossier patristique relatif au divorce: Revue de quelques travaux récents [Hồ sơ Giáo phụ về ly hôn: Đánh giá một số tác phẩm gần đây] (2)”, trong Science et Esprit 25 (1973) 99-119
15. Tin mừng Gia đình, tr.31. Kasper lại nhắc tới điều luật này trong bài trình bầy thêm (excursus) thứ hai trong cuốn sách nhỏ của ngài (tr. 37) mặc dù một cách có sắc thái hơn, chỉ như một khả thể, minh giải rằng điều luật này chống lại chủ nghĩa nghiêm ngặt và không ủng hộ thực hành đang bàn. “Chính chống lại hậu cảnh của thực hành này mà điều 8 của Công đồng Nixêa (325), một điều nhằm chống lại chủ trương nghiêm ngặt của phái Novatianô, [có lẽ nên] được hiểu”. ( Bản tiếng Anh đọc là “must surely” [chắc chắn phải]; trong khi bản tiếng Ý là "va force" [có lẽ nó đang diễn ra].
16. Giovanni Cerati, Divorzio, nuove nozze e penitenza nella chiesa primitiva [Ly dị, Hôn nhân Mới và Sám hối trong Giáo hội Nguyên thủy] (Bologna: EDB, 1977). Được trích dẫn trong bài bàn thêm 2 của Tin mừng Gia đình, tr.36; sự kiện ít nhất trong ấn bản tiếng Ý cuốn sách nhỏ của ngài, Kasper trích dẫn cả ba ấn bản cuốn sách của Cereti (ấn bản thứ hai, 1988, ấn bản thứ ba, 2013) cho thấy tầm quan trọng gán cho cuốn sách này. Cereti trước đây từng giới thiệu chủ đề một cách chung chung trong Giovanni Cereti, Matrimonio e indissolubilita: nuove prospettive [Hôn phối và tính bất khả tiêu: quan điểm mới] (Bologna: EDB, 1971)
17. Xem Cereti, Divorzio, nuove nozze e penitenza, các tr.371-79
18. Xem cuộc tranh luận tiếp theo về bản văn có phê phán do P. Nautin thực hiện, “Divorce et remarriage chez saint Épiphane [Ly dị và tái hôn theo thánh Épiphane]” trong Vigilae Christianae 37 (1983): 157-73; Henri Crouzel, “Encore sur divorce et remarriage selon Épiphane [nói thêm về ly dị và tái hôn theo Épiphane]” trong Vigilae Christianae 38 (1984): 271-80.
19. Công đồng Nixêa thứ nhất, điều 8, được trích dẫn trong Tin mừng Gia đình, bàn thêm 2, tr.40, số 20.
20. Heinrich Denzinger-Peter Hunermann, Enchiridion Symbolorum: Compendium of Creeds, Definitions and Declarations on Matters of Faith and Morals [Tuyển tập Tín liệu: Tuyển tập các Điều tin, Các Định nghĩa và Tuyên bố về các Vấn đề Đức tin và Luân lý] (San Francisco: Ignatius Press, 2012), tr.52, số 127, thêm nhấn mạnh.
21. Tức là, điều đã nói rõ trong Henri Crouzel, “Les diganoi visés par le Concile de Nicée dans son canon 8” [các diganoi được Công đồng Nixêa nhắm trong điều luật 8] trong Augustianum 18 (1978): 541-45.
22. So sánh Cereti, Divorzio, nuove nozze e penitenza nella chiesa primitiva, tr.300
23. Ibid. tr. 325
24. Xem đặc biệt tuyên bố của Socrates trong Historia ecclesiastica 5.22 (PG 67:641; NPNF-2 2:132b-133a): "Người Novantianô ở Phrygia không chấp nhận những người đã kết hôn hai lần; nhưng những người ở Constantinople không công khai thừa nhận cũng không bác bỏ chúng, trong khi ở các vùng phía Tây, chúng được đón nhận công khai" (trích dẫn trong ibid. tr. 311).
25. Dịch từ tiếng Latinh: Thánh Augustine, Về các lạc giáo 38 (NBA, XII/1:90-91): "Cathari, qui seipsos isto nomine quasi propter munditiam super bissime atque odiosissime nominant, secundas nuptias non admittunt, paenitentiam denegant, Novatum sectantes hereticum, unde etiam Novatiani appellantur ".
26.Thánh Augustinô, Về Thiện ích của Bậc Góa bụa 4.6 (NPNF-1 3:443a). “Non damnat unas nuptias tuas, sic nec viduatis tua cujusquam secundas. Hinc enim maxime Cataphrygarum ac Novatianorum haereses tumuerunt, quas buccis sonantibus, non sapientibus etiam Tertullianus inflavit”
27. “Mala sunt enim adulterium vel fornacatio” (ibid.)
28. Cereti, Divorzio, nuove nozze e penitenza, tr. 318.
29. Xem Gilles Pelland, “La pratica della Chiesa antica relativa ai fideli divorziati risposati” trong Bộ Giáo lý Đức tin, Sulla Pastorale dei divorziati risposati (Thành phố Vatican, Libreria Editrice Vaticana, 1998), 99-131. Tác giả minh nhiên thảo luận cuốn sách của Cereti ở các tr.115-21. Trong một ít đoạn tiếp theo, các trích đoạn sẽ dựa vào bản dịch của Pelland, vì chúng chặt chẽ hơn các lối dịch thông thường.
30. Để bảo vệ quan điểm của mình, Đức Hồng Y Kasper cũng trích dẫn một bài viết của Joseph Ratzinger, tuy nhiên, bài viết này không đề cập đến Công đồng Nixêa; hơn nữa, bản thân tác giả đã rõ ràng tách mình khỏi lập trường mà ngài đã đưa ra trong bài viết này (xem Joseph Ratzinger, “Giáo hội, Giáo hoàng và Tin mừng”, trong The Tablet 245 [ngày 26 tháng 10 năm 1991), trang 14–15). Kasper có thể muốn đề cập đến điều này.
31. Tin mừng Gia đình, bàn thêm 2, trang 37. Tài liệu tham khảo khác nằm trong bản văn bài phát biểu của ngài, trang 31: “Origen báo cáo về phong tục này và mô tả nó là ‘không vô lý'"
32. Xem Pelland, “Pratica della Chiesa”, các trang 106-7; thêm nhấn mạnh. Bản văn gốc tìm thấy nơi PG 13:1245-46.
33. Xem Henri Crouzel, L’Église Primitive face au divorce (Paris: Beauchesne, 1971), tr. 83: “Three times he underscores the fact that they acted in this way contrary to Scripture: despite the moderate tone, the rebuke is clear, since for him Scripture is the highest norm”.
34. Điều này được ngụ ý bởi Crouzel trong Đã dẫn, các tr. 83-84: “They allowed this liaison or this weakness, or employed this indulgence, so as to avoid greater evils. These are therfore attenuating circumstances which do not eliminate his basic disapproval”.
35. Tin mừng Gia đình, tr.31
36. Ibid., các tra 32-33.
37. So sánh Henri Crouzel, “Encore sur divorce et remarriage selon Épiphane [nói thêm về ly dị và tái hôn theo Épiphane]” trong Vigilae Christianae 38 (1984): 279; Pavel Evdokimov, Sacramento dell’amore Il mistero conjugale alla luce della tradizione ortodossa [Bí tích hành động: Mầu nhiệm phu phụ dưới ánh sáng truyền thống chính thống] (Sotto il Monte, Bergamo:Servitium Editrice, 1999) tr. 251.
38.Thánh Basiliô, Thư 188, 9 (FOC, 28:20); so sánh Pelland, “La pratica della Chiesa” tr, 113. Ngyên bản trong PG 32:677-80.
39. Thánh Basiliô, Thư 199, 46 (PG 32:738-39) trong đó, bản dịch Latinh đọc là “Quae viro ad ipsum tempus ab uxore derelicto insciens nupsit, ac deide dimissa est, quod prior ad ipsum reversa sit, fornicata quidem est, sed imprudens.” (Người đàn bà, vô tình cưới người đàn ông bị vợ bỏ vào lúc ấy, và sau đó bị rẫy bỏ, vì người vợ cũ trở về với ông ta, đã phạm tội gian dâm, nhưng vô ý [NPNF-2 8:239b]. Người ta không thể hiểu tại sao Đức Hồng Y, trong Tin Mừng Gia đình cũng trích dẫn Thánh Basiliô, Thư 199, 18 (PG 32:719-20), thư này viết: “Quemadmodum igitur eumqui cum aliena est muliere, adulterum nominamus, non prius admittentes ad communionem, quam a peccato cessaverit” (chúng tôi gọi người đàn ông sống với vợ của một người đà ông khác là kẻ ngoại tình, và không tiếp nhận nhận vào hiệp lễ cho tới khi ông ta ngưng phạm tội của mình [NPNF-2 8:237a}, một đoạn văn rõ ràng trái ngược với chủ trương của ngài, hơn là phần khác trong lá thư mà ngài thường nhắc đến: “điều luật” 35 (PG 32:727-28) (NPNF-2 8:239a).
40. Tất cả các khả thể này, liên quan tới “các quy luật” khác, đã được F. Cayré xem xét cẩn thận, “Ly dị ở thế kỷ thứ 4 trong luật dân sự và các quy luật của Thánh Basil” trong Éthos d’Orient 19 (1920): 295-321.
41: Thánh Basiliô, Moralia, reg. 73, 2; so sánh Pelland, “Pratica della Chiesa” tr. 115. Nguyên bản có thể thấy trong PG 31:851-52.
42. Sau đây là một bản tóm tắt của điều có thể diễn dịch từ việc phân tích bản văn của Pelland, “Pratica della Chiesa”, các tr. 114-15 (nhấn mạnh trong nguyên bản): Theo phương diện khách quan, người đàn bà trong điều luật 46 gian dâm bằng tham gia cuộc hôn nhân với một người đàn ông đã có vợ, nhưng theo phương diện chủ quan , chúng ta không thể qui lỗi cho cô ta, vì cô ta không biết điều ấy. Người đan bà trong điều luật 9, về phần cô ta, không phải là không biết, và do đó, chúng ta càng có thể nói tới tội khách quan. Giống như thế, người đàn bà trong điều luật 46 sẽ có thể lấy người đàn ông khác sau “một thời gian chờ đợi”, vì cuộc kết hợp đầu của cô không phải là một cuộc hôn nhân. Điều này cũng đúng đối với người đàn bà trong điều luật 9, vì cả cô này nữa cũng đã lấy một người chồng đã bị bỏ. Tại sao chúng ta không giả thiết rằng có một cuộc hôn nhân trong trường hợp này (điều luật 9) nhưng không có cuộc hôn nhân nào trường hợp kia (điều luật 46)?
Nói tóm lại, điều không rõ là điều luật 9 cho phép cuộc hôn nhân thứ hai của một người đàn ông bị vợ bỏ. Đọc cẩn thận bản văn chỉ gợi ý rằng việc này chứng thực một việc khoan dung nào đó đối với anh ta: anh ta sẽ không phải chịu đền tội như thể không có các nhân tố giam khinh.
43. So sánh Pelland, “Pratica della Chiesa”, tr.113: “Mục đích chuyên biệt của các văn kiện này, như Thánh Basiliô ghi nhận trong thư 27, là xác định các hình phạt do các sai phạm nào đó”.
44. So sánh Henri Crouzel, “Bản văn Giáo phụ của Máttthêu V.32 và XIX.9” New Testament Studies 19 (1972-1973): 98-119.
45. Thánh Gregory thành Nazianzen, Oration 37.8 (NPNF-2 7:340 b).
46. Ibid. NPNF-2 7:340 a-b.
47. Thánh Gregory thành Nazianzen, Thư 144 (NPNF-2 7:480b), được trích dẫn trong Pelland, “Pratica della Chiesa”, tr.117.
48. Thánh Augustinô, Về Đức tin và Việc làm 19.34 (ACW 48). Nguyên bản: (CSEL 41/5:81): “et in ipsis divinis sententiis ita obscurum est utrum etiste, cui quidem sine dubio adulteram licet dimittere, adulter tamen habeatur si alteram duxerit, ut, quan tim existimo, venialiter ibi quisque fallatur.”
49. Ngay sau đó, ngài nói: “Vì lý do này, những người, vốn là các tội nhân một cách tỏ tường bởi việc không khiết tịnh tuyệt đối phải bị loại trừ khỏi phép rửa” (ibid.). Nguyên bản trong CSEL 41/5:81: “quamobrem quae manifesta sunt impudicitiae crimina, omni modo a Bappppptismo prohibenda sunt.”
50. Đây là lối giải thích được các bình luận gia đưa ra; xem J. Pegon, “Các ghi chú bổ túc” trong Các Tác phẩm của Thánh Augustinô, loạt đầu tiên, VIII: Đức tin Kitô Giáo, “Thư viện Augustinô” (Bar le Duc: Desclée de Brouwer, 1982) tr. 508. “Điểm duy nhất trong đó ngài biểu lộ một tính độc đáo nào đó, xem ra, trong chiều hướng khoan dung, là giải pháp ngài đưa ra cho các trường hợp của một nàng thiếp (concubine) đã tan vỡ và của người chồng đã rẫy vợ sau khi nàng bị kết tội ngoại tình, nhưng sau đó không tái hôn...Tính rộng rãi trong tâm trí đó, vốn không hề thông dụng vào thời ấy, cho thấy không những linh hồn nhân từ của ngài, mà trên hết, một sự đáng trông cậy hiếm hoi về tín lý”.
VietCatholic TV
Tổn thất nặng, Putin sa thải đô đốc Hải Quân, thay toàn bộ phái đoàn hòa đàm. Iran dọa Hải Quân Mỹ
VietCatholic Media
03:14 28/01/2026
1. Biển quảng cáo của Iran mô tả Hàng Không Mẫu Hạm Mỹ nhuộm đầy máu.
Một bảng quảng cáo lớn ở thủ đô Tehran của Iran đã được khánh thành, mô tả một Hàng Không Mẫu Hạm của Mỹ với các máy bay chiến đấu bị phá hủy trên boong và những vệt máu.
Dòng chữ trên bảng quảng cáo ghi: “Gieo gió gặt bão.”
Việc khánh thành bảng quảng cáo này diễn ra trong bối cảnh Ông Donald Trump đang ca ngợi sự hiện diện quân sự ngày càng tăng của Mỹ ở Trung Đông, bao gồm cả Hàng Không Mẫu Hạm USS Abraham Lincoln và các tàu chiến hỗ trợ, mà tổng thống Mỹ cho rằng đang được điều động đến khu vực này “phòng trường hợp” ông quyết định hành động.
Tấm biển quảng cáo là một thông điệp gửi tới Mỹ trong bối cảnh căng thẳng leo thang với Iran sau những lời đe dọa can thiệp của Tổng thống Trump vào cuộc đàn áp các cuộc biểu tình khiến hàng ngàn người thiệt mạng và hàng chục ngàn người bị bắt giữ.
Vệt khói dài trên mặt nước phía sau con tàu, tạo thành hình dạng giống như các sọc trên quốc kỳ Mỹ. Dòng chú thích được viết bằng tiếng Ba Tư và tiếng Anh, có nghĩa là “Gieo gió gặt bão”.
Câu nói này là lời cảnh báo về hậu quả của những hành động thiếu suy nghĩ, bắt nguồn từ sách Hô-sê 8:7 trong Kinh Thánh, có câu: “Vì chúng gieo gió, nên chúng sẽ gặt bão”.
Hàng Không Mẫu Hạm USS Abraham Lincoln và các tàu chiến hỗ trợ đã đến Trung Đông hôm thứ Hai để chuẩn bị cho các cuộc tập trận quân sự. Trong một cuộc phỏng vấn với Axios, Tổng thống Trump nói rằng Iran đã sẵn sàng đạt được thỏa thuận với Mỹ sau khi “hạm đội lớn” đến, tiếp nối những cảnh báo trước đó của ông về việc Mỹ can thiệp vào các cuộc biểu tình đã khiến hàng ngàn người thiệt mạng.
Việc công bố bảng quảng cáo diễn ra sau khi chỉ huy Lực lượng Vệ binh Cách mạng Iran, gọi tắt là IRGC tuyên bố hôm thứ Bảy rằng lực lượng của ông “sẵn sàng hơn bao giờ hết, luôn sẵn sàng chiến đấu”.
Tổng thống Trump đã ra lệnh tấn công các cơ sở hạt nhân của Iran vào tháng 6 năm 2025, và mặc dù ông không loại trừ khả năng can thiệp quân sự vào các cuộc biểu tình ở Iran, ông đã ám chỉ một giải pháp ngoại giao, nói rằng “Họ muốn đạt được một thỏa thuận”, điều mà đối với Mỹ có thể bao gồm việc loại bỏ toàn bộ uranium làm giàu cho Iran và hạn chế tầm bắn của hỏa tiễn tầm xa của nước này.
[Newsweek: Iran Billboard Depicts US Aircraft Carrier Streaked in Blood]
2. Theo các phóng viên Ukraine, Nga đang chuẩn bị thay thế chỉ huy Hạm đội Hắc Hải sau những thất bại trong phòng thủ máy bay điều khiển từ xa.
Theo thông tin tình báo từ mạng lưới du kích Atesh, lãnh đạo quân đội Nga đang chuẩn bị cách chức Đô đốc Sergei Pinchuk, chỉ huy Hạm đội Hắc Hải, sau những thất bại mang tính hệ thống trong việc bảo vệ các căn cứ hải quân và tàu chiến trước các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của Ukraine.
Atesh—một phong trào kháng chiến bí mật của người Tatar Ukraine-Crimea hoạt động bên trong Ukraine bị Nga xâm lược và cả nước Nga—cho biết Đề đốc Akhmerov, cấp phó thứ nhất của Pinchuk, là ứng cử viên hàng đầu để thay thế ông.
Các chiến binh du kích Ukraine tuyên bố trực tiếp tham gia vào việc tấn công vào các cơ sở của Hạm đội Hắc Hải và cung cấp thông tin tình báo cho Lực lượng Quốc phòng Ukraine từ năm 2022.
“Chỉ trong sáu tháng qua, ít nhất tám cuộc tấn công bằng thuyền điều khiển từ xa của hải quân Ukraine đã thành công nhằm vào các cơ sở của Hạm đội Hắc Hải. Hệ thống phát hiện đã hoàn toàn thất bại trong một số trường hợp, và lực lượng làm nhiệm vụ đã phản ứng chậm từ 20 đến 40 phút.” — Mạng lưới du kích Atesh
Một chỉ huy khác thiệt mạng trong chiến dịch máy bay điều khiển từ xa của Ukraine.
Việc Pinchuk có khả năng bị cách chức sẽ đánh dấu vị chỉ huy thứ ba của Hạm đội Hắc Hải bị sa thải kể từ khi cuộc xâm lược toàn diện của Nga bắt đầu - một tỷ lệ thay đổi phản ánh những tổn thất thảm khốc của hạm đội.
Igor Osipov chỉ huy hạm đội khi hỏa tiễn Neptune của Ukraine đánh chìm soái hạm Moskva vào ngày 14 tháng 4 năm 2022 - chiến hạm lớn nhất bị mất trong chiến đấu kể từ Chiến tranh Falklands. Bộ Quốc phòng Anh đánh giá việc ông bị cách chức vào tháng 8 năm 2022 “rất có thể” liên quan đến vụ mất tàu này.
Viktor Sokolov thay thế Osipov nhưng cũng không khá hơn. Các blogger quân sự Nga ủng hộ chiến tranh đã đưa tin về việc ông bị cách chức vào giữa tháng 2 năm 2024, vài ngày sau khi một loạt thuyền điều khiển từ xa Magura V5 đánh chìm tàu đổ bộ Caesar Kunikov gần Alupka. Bộ Quốc phòng Anh đã xác nhận sự thay đổi này vài tuần sau đó. Tòa án Hình sự Quốc tế sau đó đã ban hành lệnh bắt giữ Sokolov vào tháng 3 năm 2024, với lý do phạm tội ác chiến tranh liên quan đến các cuộc tấn công nhằm vào thường dân Ukraine.
Sergei Pinchuk—sinh ra ở Sevastopol, cựu chỉ huy Hạm đội Caspian—là lựa chọn của Putin để ổn định hạm đội. Bộ Quốc phòng Anh lưu ý vào tháng 3 năm 2024 rằng ông đã “tìm cách cải thiện cơ hội sống sót của các tàu Nga bằng cách áp dụng thêm các biện pháp phòng ngừa và phòng thủ, bao gồm thu hẹp lối vào các cơ sở cảng”. Ông được thăng cấp lên đô đốc vào tháng 2 năm 2025. Rõ ràng là những biện pháp đó đã thất bại.
Chiến dịch máy bay điều khiển từ xa của Ukraine đã từng bước phá hủy vị thế của Nga ở Hắc Hải. Hạm đội máy bay điều khiển từ xa đã hoàn toàn rút khỏi Crimea vào giữa năm 2024, quay trở lại Novorossiysk—cách tiền tuyến 600 km.
Nhưng ngay cả ở đó, không bến cảng nào là an toàn.
Tháng 12 năm 2025, một máy bay điều khiển từ xa dưới nước Sub Sea Baby của Ukraine đã tấn công một tàu ngầm lớp Kilo tại khu neo đậu Novorossiysk, điều mà các chuyên gia gọi là một kỳ tích “bất khả thi” trước hệ thống phòng thủ nhiều lớp. Hình ảnh vệ tinh cho thấy con tàu vẫn không di chuyển ba ngày sau đó.
Các điệp viên của ATES đã thâm nhập sâu vào cơ sở hạ tầng hải quân Nga. Mới đây, phong trào này báo cáo đã xâm nhập vào Trung tâm Thông tin Liên lạc Đặc biệt Độc lập số 37 ở Novorossiysk - hệ thống thần kinh trung ương điều phối các hoạt động của Hạm đội Hắc Hải với Mạc Tư Khoa.
Hạm đội Hắc Hải bị tàn phá của Nga
Theo đánh giá của Bộ Quốc phòng Anh và các quan chức Hải quân Ukraine, chiến dịch tấn công bằng hỏa tiễn và máy bay điều khiển từ xa của Ukraine đã phá hủy hoặc làm hư hại khoảng một phần ba Hạm đội Hắc Hải của Nga kể từ tháng 2 năm 2022. Bộ Quốc phòng Anh tuyên bố hạm đội này “không còn hoạt động hiệu quả” vào mùa xuân năm 2024.
Nhóm 13, đơn vị thuyền điều khiển từ xa bí mật của Ukraine, vận hành các thuyền điều khiển từ xa Magura có giá khoảng 50.000 đô la mỗi chiếc - một con số nhỏ so với chi phí phá hủy các tàu chiến mà chúng tiêu diệt.
[Kyiv Independent: Russia moves to replace Black Sea Fleet commander after drone defense failures, Ukrainian partisans report]
3. Ukraine coi sự thay đổi trong phái đoàn đàm phán hòa bình của Nga là dấu hiệu chấm dứt “những bài giảng mang tính lịch sử giả tạo”.
Phái đoàn Nga trong các cuộc đàm phán hòa bình đang diễn ra với Ukraine đã chứng kiến một “sự thay đổi về chất”, Ngoại trưởng Ukraine Andrii Sybiha cho biết trong một cuộc phỏng vấn với tờ European Pravda được đăng tải vào ngày 27 tháng Giêng.
Những bình luận này được đưa ra trong bối cảnh Ukraine, Nga và Hoa Kỳ nối lại các cuộc đàm phán mà Sybiha mô tả là ngoại giao “phức tạp” giữa lúc Tổng thống Trump đang thúc đẩy mạnh mẽ việc chấm dứt chiến tranh, với vòng đàm phán tiếp theo dự kiến diễn ra vào ngày 1 tháng 2.
Phái đoàn Ukraine bao gồm các quan chức cao cấp như Thư ký Hội đồng An ninh và Quốc phòng Rustem Umerov và nhà lãnh đạo Văn phòng Tổng thống Kyrylo Budanov.
Phía Nga hiện do Đô đốc Igor Kostyukov, nhà lãnh đạo cơ quan tình báo quân sự Nga, dẫn đầu, cùng với các đại diện cao cấp của Bộ Quốc phòng.
“Chúng ta có thể thấy một sự thay đổi về phẩm chất trong thành phần tham gia,” Sybiha nói. “Đây là những người khác nhau, và không còn những bài giảng mang tính giả lịch sử nữa. Các cuộc thảo luận rất tập trung.”
Trong các cuộc đàm phán trước đây, phái đoàn Nga do Vladimir Medinsky, trợ lý của Putin, dẫn đầu. Ông Medinsky nổi tiếng với những lời lan man dài dòng về lịch sử trong các cuộc đàm phán.
Trong các cuộc đàm phán trực tiếp năm 2025, Medinsky được tường trình đã đe dọa Ukraine bằng việc xâm lược thêm lãnh thổ và cảnh báo rằng Nga sẵn sàng chiến đấu vô thời hạn nếu Kyiv bác bỏ các yêu cầu cực đoan của Mạc Tư Khoa.
Medinsky cũng là người dẫn đầu vòng đàm phán trực tiếp cuối cùng giữa Ukraine và Nga, được tổ chức tại Istanbul vào tháng 3-4 năm 2022, trong những tuần đầu tiên của cuộc xâm lược toàn diện của Nga.
Những phát biểu của Ngoại trưởng lặp lại những bình luận công khai gần đây của Tổng thống Volodymyr Zelenskiy, người đã mô tả cuộc đàm phán ngày 23-24 Tháng Giêng giữa Ukraine, Mỹ và Nga là “mang tính xây dựng”.
Sybiha nói thêm rằng Tổng thống Zelenskiy sẵn sàng gặp Putin để giải quyết hai vấn đề cốt lõi trong tiến trình hòa bình: vấn đề lãnh thổ và tương lai của nhà máy điện hạt nhân Zaporizhzhia bị Nga tạm chiếm.
“ Chính vì những vấn đề này mà tổng thống sẵn sàng gặp gỡ và thảo luận với Putin”, Sybiha nói, đồng thời cho biết thêm rằng ông không thấy lý do gì để gặp Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov.
Tờ Kyiv Independent được biết Washington hy vọng sẽ thúc đẩy các cuộc đàm phán “đến giai đoạn kết thúc cuối cùng” trong vòng đàm phán tiếp theo, mặc dù Mạc Tư Khoa vẫn chưa ra tín hiệu sẵn sàng chấp nhận các đề xuất hiện có.
Các vấn đề gây tranh cãi nhất — yêu cầu của Nga về việc Ukraine rút quân khỏi một phần Donbas và các tuyên bố chủ quyền của Mạc Tư Khoa đối với nhà máy điện hạt nhân Zaporizhzhia — dự kiến sẽ chi phối chương trình nghị sự.
[Kyiv Independent: Ukraine sees shift in Russia's peace talks delegation as 'pseudo-historical lectures' end, foreign minister says]
4. Thuế quan của Tổng thống Trump đẩy Ấn Độ và Liên Hiệp Âu Châu vào một liên minh thương mại lịch sử.
Chính sách thương mại “Nước Mỹ trên hết” và “Nước Mỹ vĩ đại trở lại” của Tổng thống Mỹ Donald Trump dường như vô tình đã làm cho các quốc gia đối thủ của Mỹ vĩ đại trở lại thay vì nước Mỹ. Ví dụ gần đây nhất là chính sách thương mại này đã tạo ra chất xúc tác cho thỏa thuận thương mại tự do lịch sử giữa Ấn Độ và Liên minh Âu Châu; ngay lập tức được mệnh danh là “thỏa thuận lớn nhất từ trước đến nay”, một động thái định hình lại trật tự kinh tế toàn cầu.
Sau gần hai thập niên đàm phán gián đoạn, hiệp định này đã kết nối hai thị trường lớn nhất thế giới trong một khu vực thương mại tự do với khoảng hai tỷ người, chiếm khoảng một phần tư GDP toàn cầu.
“Thời điểm này không phải là trùng hợp ngẫu nhiên: cả Ấn Độ và Liên Hiệp Âu Châu đều đẩy nhanh các cuộc đàm phán trong bối cảnh cùng thất vọng với cuộc chiến thuế quan của Tổng thống Trump và mong muốn cân bằng sự thống trị của Trung Quốc trong chuỗi cung ứng toàn cầu”, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi hoan hỉ cho biết như trên.
Các chuyên gia nói với Newsweek rằng thuế quan 25-50% của Mỹ đối với thép, nhôm và các mặt hàng xuất khẩu khác của Ấn Độ, cùng với sự đổ vỡ của các cuộc đàm phán thương mại Mỹ-Ấn năm ngoái, đã buộc New Delhi phải tìm cách phòng ngừa rủi ro.
Trong khi đó, các đồng minh Âu Châu cảm nhận được áp lực từ những tranh chấp xuyên Đại Tây Dương (có lúc Tổng thống Trump thậm chí còn đe dọa áp thuế đối với việc Âu Châu từ chối bán Greenland). Một nhà ngoại giao Liên Hiệp Âu Châu nói với Newsweek rằng: “Thuế quan của Tổng thống Trump đã tạo cho chúng tôi một động lực hữu ích trong giai đoạn nước rút”, cho thấy nỗi lo sợ về các cuộc chiến thương mại của Mỹ đã giúp Ấn Độ và Liên Hiệp Âu Châu vượt qua những điểm vướng mắc cuối cùng.
Ngoài khía cạnh kinh tế, thời điểm chiến lược và ý nghĩa ngầm của thỏa thuận này là không thể phủ nhận tại New Delhi. Các cuộc đàm phán được khởi động lại vào năm 2022 đã trở nên cấp thiết hơn trong sáu tháng qua khi các mối đe dọa thương mại của Tổng thống Trump leo thang. Chủ tịch Hội đồng Âu Châu António Costa, người được mời làm khách danh dự tại Lễ kỷ niệm Ngày Cộng hòa của Ấn Độ, đã coi thỏa thuận này như một sự đối trọng trực tiếp với cuộc chiến thuế quan của Washington.
Ông Costa cho biết thỏa thuận này gửi một “thông điệp chính trị quan trọng tới thế giới rằng Ấn Độ và Liên Hiệp Âu Châu tin tưởng vào các thỏa thuận thương mại hơn là thuế quan”, đồng thời lưu ý rằng nó được ký kết “vào thời điểm chủ nghĩa bảo hộ đang gia tăng và một số quốc gia đã quyết định tăng thuế quan”. Ông ca ngợi đây là một “yếu tố ổn định địa chính trị” giúp duy trì trật tự thương mại quốc tế dựa trên luật lệ trong thời đại chủ nghĩa đơn phương.
Hiệp định này như một phản ứng trước chính sách thương mại mới của Mỹ: thay vì đi theo Washington vào chủ nghĩa bảo hộ, Brussels và New Delhi đã chọn ký kết thỏa thuận thương mại tự do lớn nhất từ trước đến nay; nhấn mạnh rằng nền kinh tế toàn cầu sẽ không chờ đợi. Tương tự, các chuyên gia ở New Delhi cho rằng sự hợp tác này nhằm mục đích đối trọng với ảnh hưởng của Trung Quốc. Cả Ấn Độ và Liên Hiệp Âu Châu đều ngày càng cảnh giác với vị thế gần như độc quyền của Trung Quốc trong các chuỗi cung ứng quan trọng và chủ nghĩa bành trướng của nước này ở Á Châu.
“Chúng ta sẽ phát triển mối quan hệ chiến lược của mình trở nên mạnh mẽ hơn nữa”, bà Ursula von der Leyen nhấn mạnh, đồng thời khẳng định việc đa dạng hóa nguồn cung khỏi các nguồn phụ thuộc đơn lẻ là động lực chính. Hiệp định mới bao gồm Quan hệ Đối tác An ninh và Quốc phòng, gọi tắt là SDP giữa Ấn Độ và Liên Hiệp Âu Châu lần đầu tiên, một thỏa thuận song song được ký kết cùng với thỏa thuận thương mại.
Khuôn khổ an ninh “toàn diện” này sẽ tăng cường hợp tác trong an ninh hàng hải, công nghệ quốc phòng, an ninh mạng, không gian và chống khủng bố, cùng nhiều lĩnh vực khác. Trên thực tế, nó mở đường cho các cuộc tập trận hải quân chung và phối hợp hoạt động ở Ấn Độ Dương, nơi sự hiện diện hải quân của Trung Quốc đã tăng lên, cũng như hợp tác nghiên cứu và phát triển quốc phòng và chia sẻ thông tin tình báo.
Brussels chỉ có những hiệp định tương tự với một vài đồng minh Á Châu (Nhật Bản và Nam Hàn), khiến Hiệp định Đối tác An ninh, gọi tắt là SDP giữa Ấn Độ và Liên Hiệp Âu Châu trở thành một bước tiến quan trọng trong việc hội nhập Ấn Độ vào cấu trúc an ninh phương Tây. Điều này cũng đánh dấu một bước ngoặt đối với Ấn Độ, quốc gia trong nhiều thập niên dựa vào vũ khí của Nga; nay đang đa dạng hóa các mối quan hệ quốc phòng trong bối cảnh Trung Quốc trỗi dậy.
Các chuyên gia thương mại tại Ấn Độ đang ca ngợi tầm quan trọng chiến lược của thỏa thuận này. “Hiệp định thương mại lịch sử giữa Ấn Độ và Liên Hiệp Âu Châu mang lại cho cả hai bên sự tăng cường lẫn nhau về lợi ích thương mại và chiến lược”, Siddharth N., cựu Giám đốc Chiến lược của Invest India, người nhận thấy sự kết hợp độc đáo giữa kinh tế và an ninh trong FTA, nói với Newsweek. “Thỏa thuận ‘quan trọng nhất’ này cũng bao gồm Quan hệ Đối tác An ninh & Quốc phòng đầu tiên. Tác động tiềm tàng đối với chuỗi cung ứng điện tử, quốc phòng, xe hơi và hóa chất là vô cùng thú vị, đây là sự khởi đầu thực sự của việc giảm thiểu rủi ro chuỗi cung ứng của Liên Hiệp Âu Châu khỏi Trung Quốc trong các lĩnh vực này. Các điều khoản về quy tắc xuất xứ sẽ thiết lập Ấn Độ như một cơ sở cung ứng đáng tin cậy”, ông nói.
Hiệp định mới bao gồm Thỏa thuận Đối tác An ninh và Quốc phòng, gọi tắt là SDP đầu tiên giữa Ấn Độ và Liên Hiệp Âu Châu, một thỏa thuận song song được ký kết cùng với thỏa thuận thương mại.
Nhờ các quy định nghiêm ngặt về nguồn gốc xuất xứ trong thỏa thuận, các công ty Âu Châu có thể tự tin chuyển một phần sản xuất sang Ấn Độ (ví dụ, trong lĩnh vực pin hoặc hóa chất chuyên dụng) mà không lo ngại phụ tùng Trung Quốc xâm nhập làm giảm hiệu quả của các ưu đãi thuế quan. Cựu quan chức của Invest India dự đoán xuất khẩu của Ấn Độ sang Liên Hiệp Âu Châu có thể tăng vọt lên 150 tỷ đô la, trong khi xuất khẩu của Liên Hiệp Âu Châu sang Ấn Độ có thể vượt mốc 120 tỷ đô la trong vòng 5 năm theo FTA, một sự mở rộng mạnh mẽ sẽ đưa Ấn Độ trở thành một trong những đối tác thương mại hàng đầu của Liên Hiệp Âu Châu.
Ông Alexander Gerding, Giám đốc điều hành của BASF Ấn Độ và nhà lãnh đạo các công ty thuộc Tập đoàn BASF tại Ấn Độ, chia sẻ với Newsweek: “Hiệp định thương mại tự do Ấn Độ - Liên Hiệp Âu Châu đưa hai khu vực kinh tế quan trọng xích lại gần nhau hơn. Hiệp định này có tiềm năng thúc đẩy mạnh mẽ thương mại, mở ra những cơ hội mới và củng cố chuỗi giá trị ở cả hai phía. BASF đã hoạt động kinh doanh tại Ấn Độ hơn 130 năm và Ấn Độ vẫn luôn là thị trường chiến lược quan trọng đối với chúng tôi.” Ông nói thêm: “Hiệp định sẽ khuyến khích hoạt động kinh tế, đầu tư và hợp tác mạnh mẽ hơn giữa Ấn Độ và Liên Hiệp Âu Châu, và ngành hóa chất chắc chắn sẽ được hưởng lợi từ động lực tích cực này.”
Ông Modi lên ngôi, Liên minh Âu Châu thống nhất.
Việc công bố thỏa thuận đã tạo ra một diễn đàn hùng hồn cho các nhà lãnh đạo đưa ra tuyên bố đó. Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi tuyên bố một thắng lợi ngoại giao quan trọng trên sân nhà. “Hôm qua, một thỏa thuận lớn đã được ký kết giữa Liên minh Âu Châu và Ấn Độ,” ông Modi nói với một đám đông hân hoan, “Người dân trên khắp thế giới đang gọi đây là thỏa thuận lớn nhất từ trước đến nay. Thỏa thuận này sẽ mang lại những cơ hội lớn cho 1,4 tỷ người dân Ấn Độ và hàng triệu người dân ở Âu Châu.” Ông ca ngợi hiệp định thương mại tự do này là “thỏa thuận thương mại tự do lớn nhất trong lịch sử”, nhấn mạnh quy mô và tầm quan trọng của nó. Ông Modi nhấn mạnh cách thức hiệp định này sẽ mang lại lợi ích cho người dân Ấn Độ bình thường; từ nông dân và các doanh nghiệp nhỏ có được quyền xuất khẩu, đến người tiêu dùng được hưởng lợi từ hàng hóa giá rẻ hơn, từ đó củng cố hình ảnh của ông như một nhà lãnh đạo có thể nâng cao vị thế kinh tế của Ấn Độ trên toàn cầu.
“Một Ấn Độ thành công sẽ làm cho thế giới ổn định hơn, thịnh vượng hơn và an toàn hơn, và tất cả chúng ta đều được hưởng lợi,” Chủ tịch Ủy ban Âu Châu Ursula von der Leyen nhận xét, ca ngợi sự lãnh đạo kinh tế của ông Modi trong chuyến thăm của mình.
Đối với Liên minh Âu Châu, khoảnh khắc đó là thời điểm hiếm hoi của sự đoàn kết và lạc quan trên trường quốc tế. Chủ tịch Ủy ban Âu Châu von der Leyen và Chủ tịch Hội đồng Âu Châu Costa đã sát cánh cùng Modi tại New Delhi, mỗi người đều ca ngợi thỏa thuận này là một “thỏa thuận đôi bên cùng có lợi” cho hai cường quốc dân chủ.
Bà von der Leyen tuyên bố: “Âu Châu và Ấn Độ đang làm nên lịch sử ngày hôm nay”, gọi thỏa thuận này là một thành tựu “lịch sử” sẽ “mang lại lợi ích cho cả hai bên”. Bà lưu ý rằng khi Ấn Độ thành công, “thế giới sẽ ổn định hơn, thịnh vượng hơn và an toàn hơn”, đồng thời liên kết sự trỗi dậy của Ấn Độ với sự thịnh vượng toàn cầu.
Hình ảnh các nhà lãnh đạo Liên Hiệp Âu Châu cùng nhau ăn mừng một thỏa thuận thương mại, sau nhiều năm bất đồng nội bộ về chính sách thương mại, đã thể hiện quyết tâm thống nhất của Âu Châu trong việc hợp tác với các đối tác mới. Ursula von der Leyen và António Costa thậm chí còn tham gia lễ hội diễn hành Ngày Cộng hòa của Ấn Độ, như một cử chỉ hữu nghị. Các nhà bình luận Âu Châu chỉ ra rằng khả năng của Liên Hiệp Âu Châu trong việc đạt được một thỏa thuận tầm cỡ này, và thậm chí là đồng ý một hiệp ước an ninh riêng biệt, báo hiệu một mức độ tự tin chiến lược mới ở Brussels. “Khi Ấn Độ thành công, thế giới sẽ được hưởng lợi”, bà von der Leyen nói, coi Ấn Độ là trụ cột trong tương lai chiến lược của chính Liên Hiệp Âu Châu.
Về phía Ấn Độ, chính phủ của ông Modi đang ăn mừng thỏa thuận này như một cú hích kinh tế lớn và là sự khẳng định chiến lược chính sách đối ngoại của họ. Trong 18 tháng qua, Ấn Độ đã ký kết các thỏa thuận thương mại với nhiều đối tác khác nhau, từ Vương quốc Anh đến Úc và Oman, theo đuổi phương pháp “hướng tới thị trường nội địa” để đa dạng hóa thương mại. Thỏa thuận với Liên Hiệp Âu Châu là thỏa thuận quan trọng nhất cho đến nay, củng cố vị thế của Ấn Độ như một đối tác được ưu tiên lựa chọn bởi các nền kinh tế phát triển đang tìm kiếm các lựa chọn thay thế cho Trung Quốc.
“Một Ấn Độ thành công sẽ làm cho thế giới ổn định hơn, thịnh vượng hơn và an toàn hơn, và tất cả chúng ta đều được hưởng lợi”, Chủ tịch Ủy ban Âu Châu Ursula von der Leyen phát biểu.
Thỏa thuận này cũng củng cố vị thế của ông Modi trước thềm cuộc bầu cử quốc gia sắp tới vào năm 2029, cho phép ông vận động tranh cử dựa trên việc đã mở cửa thị trường Âu Châu cho các sản phẩm của Ấn Độ và bảo đảm các cam kết về việc cấp thị thực dễ dàng hơn cho các chuyên gia Ấn Độ, một kết quả được lòng dân về mặt chính trị. Thủ tướng Ấn Độ đã đặc biệt chúc mừng các nhà đàm phán và các bộ trưởng vì đã “đạt được sự cân bằng đúng đắn” trong thỏa thuận, và các nhà phân tích ở New Delhi đã mô tả đây là một thành tựu đỉnh cao trong chính sách đối ngoại của ông Modi, nâng tầm ông như một kiến trúc sư của trật tự thế giới đa cực đang nổi lên.
Phản ứng từ giới kinh doanh rất nhanh chóng và phần lớn là nhiệt tình; ít nhất là ở Âu Châu và Ấn Độ. Các nhà lãnh đạo ngành công nghiệp Âu Châu hoan nghênh thỏa thuận này như một sự mở cửa được chờ đợi từ lâu đối với thị trường rộng lớn của Ấn Độ. “Đây là tin rất tốt cho chúng tôi,” Ola Källenius của Mercedes-Benz cho biết, lưu ý rằng thuế quan cao của Ấn Độ là một trở ngại lớn đối với các nhà sản xuất xe hơi Đức.
“Hiệp định thương mại tự do Ấn Độ - Liên Hiệp Âu Châu là một cột mốc lịch sử, tạo ra thị trường tiêu dùng gần hai tỷ người và củng cố vị thế của Ấn Độ như một cường quốc kinh tế toàn cầu. Bằng cách giảm bớt các rào cản thương mại, thỏa thuận này sẽ thúc đẩy đổi mới và tăng trưởng bền vững trong ngành công nghiệp xe hơi của Ấn Độ, đồng thời tăng cường hội nhập công nghiệp giữa Âu Châu và Ấn Độ”, ông Santosh Iyer, giám đốc điều hành kiêm CEO của Mercedes-Benz Ấn Độ, viết trong một bài đăng.
Audi Ấn Độ cũng thể hiện thái độ lạc quan thận trọng, nhấn mạnh sự ổn định lâu dài hơn là lợi ích thương mại trước mắt.
“Chúng tôi hoan nghênh Hiệp định Thương mại Tự do Ấn Độ - Liên Hiệp Âu Châu được đề xuất và nhận thấy tiềm năng của nó trong việc tăng cường mối quan hệ kinh tế với một trong những khối thương mại lớn nhất thế giới. Mặc dù tác động thương mại sẽ phụ thuộc vào các điều khoản cuối cùng và tiến độ thực hiện, nhưng thỏa thuận này có tiềm năng tạo ra một môi trường ổn định và dễ dự đoán hơn cho các nhà sản xuất xe hơi Âu Châu đầu tư, đổi mới và phục vụ khách hàng tốt hơn tại Ấn Độ”, ông Balbir Singh Dhillon, giám đốc thương hiệu của Audi Ấn Độ, chia sẻ với Newsweek.
Các nhà sản xuất xe hơi Âu Châu sẽ có được lợi thế tiên phong tại Ấn Độ so với các đối thủ Mỹ và Á Châu. Theo hiệp định thương mại tự do, gọi tắt là FTA, thuế nhập khẩu đối với xe hơi Đức sẽ giảm từ 110% xuống còn 10%.
Các tiếng nói trong ngành công nghiệp Ấn Độ cũng hoan nghênh thỏa thuận này. Liên đoàn Phòng Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ, gọi tắt là FICCI cho biết trong một tuyên bố rằng, FTA “mở ra những cơ hội thương mại và đầu tư chưa được khai thác đáng kể” cho Ấn Độ, cho phép hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Các lĩnh vực như điện tử, dược phẩm và năng lượng tái tạo dự kiến sẽ được hưởng lợi từ các khoản đầu tư mới của Âu Châu và chuyển giao công nghệ, vì thỏa thuận này cải thiện việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và giảm bớt các rào cản pháp lý.
Trong khi đó, bên kia Đại Tây Dương, thỏa thuận này lại gây ra cảm giác bất an và bỏ lỡ cơ hội. Do không có thỏa thuận thương mại tương đương nào với Ấn Độ, các nhà xuất khẩu Mỹ hiện đang phải đối mặt với bất lợi tại thị trường đông dân nhất thế giới. Các công ty Mỹ bán máy móc, nông sản hoặc hàng hóa xa xỉ sang Ấn Độ vẫn sẽ phải trả thuế quan cao, trong khi các đối thủ cạnh tranh Âu Châu được hưởng quyền tiếp cận miễn thuế hoặc ưu đãi đối với tới 99% sản phẩm của họ.
Sự tương phản này không hề bị các nhà quan sát kinh doanh ở Washington bỏ qua. Một báo cáo của Phòng Thương mại Hoa Kỳ cảnh báo: “Các nhà xuất khẩu Mỹ hiện đang gặp bất lợi cạnh tranh tại thị trường Ấn Độ đang bùng nổ”, đồng thời lưu ý rằng các nhà nhập khẩu Ấn Độ đương nhiên sẽ ưu tiên các nhà cung cấp Âu Châu để tiết kiệm chi phí. Các lĩnh vực như nông nghiệp Mỹ (ví dụ như nông dân trồng đậu nành và chăn nuôi bò sữa đang nhắm đến thị trường tiêu dùng khổng lồ của Ấn Độ) và sản xuất công nghiệp (máy móc công nghiệp, phụ tùng hàng không vũ trụ, v.v.) có thể mất thị phần vào tay các nước Âu Châu do khoảng cách thuế quan.
Ngoài những lợi ích tài chính trước mắt, các quan chức ở Washington còn phải đối mặt với một xu hướng địa chính trị phức tạp. Quan hệ đối tác đang phát triển mạnh mẽ giữa Ấn Độ và Liên Hiệp Âu Châu, hiện bao gồm thương mại, công nghệ và an ninh, có khả năng làm giảm sự phụ thuộc của Ấn Độ vào Mỹ và các đồng minh của nước này.
Trong những năm gần đây, Mỹ coi Ấn Độ là đối tác chủ chốt trong chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương nhằm đối phó với Trung Quốc, thậm chí còn nâng tầm đối thoại an ninh nhóm Bộ tứ (với Nhật Bản và Australia). Tuy nhiên, khả năng tìm kiếm những “lựa chọn thay thế mạnh mẽ” ở Âu Châu của Ấn Độ có thể làm suy yếu ảnh hưởng của Mỹ. Đặc biệt, Quan hệ Đối tác An ninh Ấn Độ - Liên Hiệp Âu Châu cho phép New Delhi tiếp cận công nghệ quốc phòng tiên tiến hoặc hợp tác hàng hải từ Âu Châu, làm giảm tính độc quyền của mối quan hệ chiến lược Mỹ - Ấn Độ.
Tất cả những điều này không hàm ý một sự đổ vỡ sắp xảy ra trong quan hệ Mỹ-Ấn; nhưng nó báo hiệu một sự thay đổi tinh tế.
Các nhà lãnh đạo Âu Châu cho rằng thuế quan của Tổng thống Trump đã củng cố quyết tâm của họ trong việc đạt được thỏa thuận. “Thế giới không chờ đợi Mỹ; mà đang thích nghi xung quanh Mỹ”, một quan chức Liên Hiệp Âu Châu tham gia đàm phán nói với Newsweek với điều kiện giấu tên, nhấn mạnh rằng cả Brussels và New Delhi đều quyết tâm chứng minh rằng thương mại mở có thể thắng thế chủ nghĩa bảo hộ.
Tính đến thời điểm bài báo này được đăng tải, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vẫn chưa phản hồi yêu cầu bình luận về thỏa thuận thương mại này. Bài viết sẽ được cập nhật ngay khi nhận được phản hồi.
[Newsweek: Trump Tariffs Push India-EU Into Historic Trade Alliance]
5. Nguồn tin Mỹ phủ nhận việc ‘ép buộc’ Ukraine nhượng lại lãnh thổ, trong khi các báo cáo cho rằng việc bảo đảm an ninh gắn liền với việc nhượng lại Donbas.
Theo báo cáo của Financial Times, gọi tắt là FT ngày 27 tháng Giêng, dẫn lời tám người quen thuộc với các cuộc đàm phán, chính quyền Tổng thống Trump một lần nữa đang gây áp lực lên Kyiv bằng cách tìm cách ràng buộc các bảo đảm an ninh của Mỹ với thỏa thuận của Ukraine về việc nhượng lại các khu vực không bị tạm chiếm ở Donbas cho Nga.
Động thái này diễn ra trong bối cảnh Ukraine, Nga và Mỹ nối lại các hoạt động ngoại giao tích cực giữa lúc Tổng thống Trump đang nỗ lực chấm dứt chiến tranh, với vòng đàm phán tiếp theo dự kiến diễn ra vào ngày 1 tháng 2.
Theo các nguồn tin, Washington đã nói với Kyiv rằng các bảo đảm an ninh sẽ chỉ được cấp sau khi Ukraine đạt được thỏa thuận hòa bình với Nga - một thỏa thuận có khả năng bao gồm việc nhượng bộ lãnh thổ ở Donbas.
Kyiv đã thúc đẩy việc phải có được những bảo đảm chắc chắn trước khi đồng ý nhượng lại bất kỳ lãnh thổ nào.
Một nguồn tin của Mỹ quen thuộc với vấn đề này nói với tờ Kyiv Independent rằng Washington “không cố gắng ép buộc Ukraine nhượng bộ bất kỳ lãnh thổ nào”.
“Cả hai bên phải đồng ý một thỏa thuận hòa bình, nhưng nội dung của thỏa thuận hòa bình là do Nga và Ukraine quyết định”, nguồn tin cho biết thêm mà không nêu rõ chi tiết.
[Kyiv Independent: US source denies 'forcing' Ukraine on territory as reports tie security guarantees to Donbas ceding]
6. ‘Lần đầu tiên kể từ Thế chiến thứ hai’ – Cuộc không kích của Nga gây thiệt hại cho địa điểm linh thiêng nhất của Kyiv.
Ngày 26 tháng Giêng, một quan chức cho biết cuộc không kích của Nga vào ngày 24 Tháng Giêng đã gây hư hại cho Kyiv Pechersk Lavra, một địa điểm linh thiêng của Chính thống giáo Đông phương và là di sản thế giới được UNESCO công nhận.
“Lần đầu tiên kể từ thời Chiến tranh thế giới thứ hai, do hoạt động quân sự mà Tu viện Kyiv Pechersk Lavra bị tấn công”, giám đốc khu bảo tồn lịch sử Maksym Ostapenko nói với Interfax-Ukraine. “Mỗi lần như vậy, Mạc Tư Khoa đều đứng sau, như năm 1918; như khi nhà thờ Uspensk (Đức Mẹ Lên Trời) bị đánh bom theo lệnh của Mạc Tư Khoa năm 1941, và hiện nay, theo lệnh của Mạc Tư Khoa, máy bay Shahed và hỏa tiễn bay khắp Kyiv, bao gồm cả những thứ đang gây thiệt hại cho Tu viện Kyiv Pechersk Lavra.”
Các vụ nổ ngày 24 Tháng Giêng đã làm vỡ cửa kính và làm hư hại lớp vữa trát tường trên hai tòa nhà của Lavra, nơi bao gồm các quần thể hang động ngầm rộng lớn và có tầm nhìn ra sông Dnipro.
Ông Ostapenko đã được bổ nhiệm lại làm tổng giám đốc của Kyiv-Pechersk Lavra vào đầu tháng này sau vụ sa thải gây tranh cãi năm ngoái. Bản thân Lavra từ lâu đã là một khu vực căng thẳng do cáo buộc ảnh hưởng của Nga thông qua Giáo hội Chính thống giáo.
[Kyiv Independent: 'First time since the second world war' – Russia's air attack damages Kyiv's holiest site]
7. Pháp cấm các quan chức sử dụng các công cụ video của Mỹ, bao gồm Zoom và Teams.
Thủ tướng Pháp, Sébastien Lecornu, cho biết nước này sẽ cấm các quan chức nhà nước sử dụng các nền tảng của Mỹ, bao gồm Google Meet, Zoom và Teams, để hội nghị trực tuyến.
Quyết định này, một phần trong nỗ lực chuyển các hoạt động của chính phủ sang nền tảng công nghệ nội địa, được đưa ra trong bối cảnh sự nhạy cảm ngày càng gia tăng ở Âu Châu về sự phụ thuộc quá lớn vào các dịch vụ của Mỹ.
Văn phòng thủ tướng đã chuẩn bị một thông báo yêu cầu các quan chức nhà nước sử dụng Visio, một nhu liệu hội nghị truyền hình do Cơ quan Kỹ thuật số Liên bộ (Dinum) của nước này thiết kế. Nhu liệu này hoạt động trên cơ sở hạ tầng do công ty Outscale của Pháp cung cấp.
Phát ngôn nhân của Dinum cho biết thông báo sẽ được đăng tải “trong vài ngày tới”.
Điều này diễn ra sau thông báo hôm Chúa Nhật của Bộ trưởng Cải cách Nhà nước David Amiel rằng Pháp sẽ đặt mục tiêu áp dụng một nền tảng hội nghị truyền hình do nước này tự phát triển vào năm 2027.
Mùa hè năm ngoái, Pháp đã ban hành quy định yêu cầu các quan chức ngừng sử dụng WhatsApp và Telegram và thay vào đó sử dụng Tchap, một dịch vụ nhắn tin tức thời được thiết kế dành riêng cho công chức nhà nước.
Visio hiện đang được 40.000 nhân viên sử dụng — bao gồm hầu hết các bộ và một số cơ quan trực thuộc, chẳng hạn như Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp.
Dinum đặt mục tiêu đạt 250.000 người dùng. Cơ quan này sẽ giám sát việc tuân thủ quá trình chuyển đổi và có thể, trong những tháng tới, sẽ chặn luồng dữ liệu từ các công cụ video khác thông qua mạng internet của tiểu bang, theo thông báo.
[Politico: France to ban officials from US video tools including Zoom, Teams]
8. Cuộc tấn công của Nga đã gây hư hại cho tu viện Pechersk Lavra cổ kính ở Kyiv lần đầu tiên kể từ Thế chiến II.
Tu viện Kyiv-Pechersk Lavra, một Di sản Thế giới được UNESCO công nhận, đã bị hư hại trong một cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa và hỏa tiễn quy mô lớn của Nga vào thủ đô Ukraine đêm 24 tháng Giêng, theo lời giám đốc khu bảo tồn Maksym Ostapenko.
“Đây là lần đầu tiên kể từ Thế chiến II, do các hoạt động quân sự, một công trình thuộc Tu viện Kyiv-Pechersk Lavra bị trúng đạn”, Ostapenko nói với Interfax-Ukraine.
Hai công trình bị hư hại trong vụ tấn công: tòa nhà số 66, là lối vào khu phức hợp Hang động Xa xôi, và tòa nhà số 67, Nhà thờ Truyền Tin. Sóng xung kích đã làm vỡ cửa sổ và cửa ra vào, đồng thời làm hư hại các chi tiết trang trí bằng thạch cao ở nhiều vị trí trong cả hai công trình.
Ông Ostapenko xác nhận rằng bản thân các hang động không bị ảnh hưởng.
Ông lưu ý rằng đây là lần đầu tiên Lavra bị hư hại trực tiếp do mục tiêu trên không phát nổ. Các sự việc trước đây liên quan đến thiệt hại do mảnh vỡ hoặc mảnh vụn từ các đối tượng bị bắn rơi.
Ostapenko đã đưa ra một sự so sánh lịch sử với các cuộc tấn công trước đây vào tu viện. Ông nói: “Mỗi lần như vậy, Mạc Tư Khoa đều đứng sau vụ việc này, giống như năm 1918; giống như khi, theo lệnh của Mạc Tư Khoa, Nhà thờ Đức Mẹ Lên Trời bị đánh bom năm 1941, và giờ đây, theo lệnh của Mạc Tư Khoa, máy bay Shahed và hỏa tiễn bay về phía Kyiv, và trong số những thứ khác, giờ đây cũng gây thiệt hại cho Tu viện Kyiv-Pechersk Lavra.”
Tổng giám đốc cũng báo cáo rằng sự việc mất điện đã khiến cảm biến địa chấn không hoạt động, dẫn đến việc không thể xác định đầy đủ tác động của vụ nổ lên các công trình trong khu bảo tồn.
[Kyiv Independent: Russian strike damages Kyiv’s ancient Pechersk Lavra for first time since World War II]
9. Tàu Trung Quốc khảo sát vùng biển gần khu vực Hàng Không Mẫu Hạm Mỹ đang tiến đến.
Một tàu nghiên cứu khoa học của Trung Quốc có khả năng lập bản đồ đáy biển để hỗ trợ các hoạt động hải quân đã được theo dõi hoạt động trong vùng biển gần Trung Đông suốt một tháng, trong khi một Hàng Không Mẫu Hạm của Hoa Kỳ đã đến khu vực này trong bối cảnh căng thẳng leo thang với Iran.
Bộ Chỉ huy Trung ương Hoa Kỳ, chịu trách nhiệm về các hoạt động quân sự của Mỹ ở Trung Đông, hôm thứ Hai thông báo rằng một nhóm tác chiến hải quân do Hàng Không Mẫu Hạm USS Abraham Lincoln dẫn đầu đã được triển khai đến khu vực để thúc đẩy an ninh và ổn định.
Để hỗ trợ các hoạt động hải quân ở xa hơn, đặc biệt là ở Ấn Độ Dương, nơi có các tuyến đường biển liên lạc của nước này, Trung Quốc đã áp dụng đường lối lưỡng dụng bằng cách triển khai các tàu nghiên cứu hải dương học dân sự có thể cung cấp dữ liệu hàng hải quan trọng cho quân đội nước này, lực lượng hải quân lớn nhất thế giới về số lượng tàu.
Sự hiện diện của một tàu nghiên cứu Trung Quốc gần Trung Đông diễn ra sau khi Tổng thống Trump đe dọa lật đổ chế độ ở Iran trong bối cảnh Tehran đàn áp bạo lực các cuộc biểu tình chống chính phủ. Ông cũng ra lệnh cho quân đội Mỹ chuẩn bị cho một cuộc tấn công tiềm tàng, theo báo cáo của tờ Wall Street Journal, và đây có thể là lần thứ hai trong vòng chưa đầy một năm nếu điều đó xảy ra.
SeaLight, một nhóm phân tích hàng hải trực thuộc Đại học Stanford, hôm Chúa Nhật đưa tin rằng tàu nghiên cứu Thái Dương Nhất Hào (Da Yang Yi Hao, 大洋一号) của Trung Quốc đã tiến hành khảo sát Biển Ả Rập ngoài khơi bờ biển bán đảo Ả Rập, Ấn Độ và Pakistan kể từ ngày 19 tháng 12.
Nằm ở vị trí chiến lược, Biển Ả Rập kết nối hai khu vực hàng hải lớn ở Trung Đông: Vịnh Ba Tư ở phía tây bắc thông qua Vịnh Oman và Eo biển Hormuz, và Biển Đỏ ở phía tây thông qua Vịnh Aden và Eo biển Bab el-Mandeb.
Sử dụng dữ liệu theo dõi tàu biển nguồn mở, bản đồ của Newsweek cho thấy con tàu đã rời bờ biển phía đông bắc Trung Quốc và tiến vào Ấn Độ Dương qua Biển Đông và eo biển Malacca. Sau đó, nó đi về phía nam Ấn Độ băng qua đại dương để đến vị trí hiện tại.
Khi tàu Thái Dương Nhất Hào đến Ấn Độ Dương vào giữa tháng 12, có tới bốn tàu nghiên cứu khác của Trung Quốc đang hoạt động trong khu vực, theo Damien Symon, một nhà phân tích tình báo nguồn mở trên nền tảng mạng xã hội X.
Theo SeaLight, tàu Thái Dương Nhất Hào được trang bị “hệ thống chụp ảnh đáy biển tiên tiến” và các phương tiện dưới nước điều khiển từ xa để lấy mẫu, cho phép nó lập bản đồ địa hình dưới biển và chặn bắt các liên lạc dưới nước.
Theo Tân Hoa Xã, tàu Thái Dương Nhất Hào, là tàu nghiên cứu khoa học biển hiện đại toàn diện đầu tiên của Trung Quốc được thiết kế để khám phá vùng biển sâu. Tàu được thiết kế để tiến hành các nghiên cứu về địa vật lý, hóa học biển, sinh học và âm học.
Báo cáo tháng 2 năm 2025, trích dẫn cơ quan quản lý các vấn đề đại dương của quốc gia, lưu ý rằng con tàu đã được nâng cấp để lắp đặt các phương tiện dưới nước điều khiển từ xa, điều này sẽ tăng cường khả năng của nó và cung cấp hỗ trợ đáng tin cậy cho các hoạt động khảo sát biển sâu trong tương lai.
[Newsweek: Chinese Ship Surveys Waters Near US Aircraft Carrier’s Approach]
10. Tổng thống Zelenskiy cho biết: “926 tòa nhà thuộc nhiều quận ở bờ trái sông Seine của Kyiv vẫn chưa có hệ thống sưởi ấm.”
Tổng thống Volodymyr Zelenskiy cho biết tính đến ngày 27 tháng Giêng, 926 tòa nhà thuộc nhiều quận ở bờ trái Kyiv vẫn chưa có hệ thống sưởi ấm.
Ông cho biết thêm Bộ Năng lượng và Bộ Nội vụ đang triển khai thêm máy phát điện, và nguồn dự trữ từ khắp Ukraine đang được điều chuyển để hỗ trợ thủ đô.
Nga đã nhiều lần tấn công vào cơ sở hạ tầng của Ukraine kể từ khi bắt đầu cuộc xâm lược toàn diện, với các cuộc tấn công tăng cường trong những tháng mùa đông nhằm mục đích làm gián đoạn nguồn cung cấp điện và năng lượng.
Chính quyền Ukraine đã dựa vào máy phát điện khẩn cấp, các đội sửa chữa nhanh và nguồn dự trữ năng lượng khu vực để duy trì các dịch vụ thiết yếu trong bối cảnh các cuộc tấn công đang diễn ra.
[Kyiv Independent: '926 buildings across several districts on the left bank of Kyiv remain without heating,' Zelensky says]
11. Máy bay điều khiển từ xa của Nga tấn công một đoàn tàu chở khách ở tỉnh Kharkiv, 4 người thiệt mạng, 2 người bị thương.
Các quan chức Ukraine cho biết, ngày 27 tháng Giêng, máy bay điều khiển từ xa của Nga đã tấn công một đoàn tàu chở khách ở tỉnh Kharkiv, làm hư hại đầu máy và toa hành khách, gây ra hỏa hoạn.
Oleh Syniehubov, nhà lãnh đạo Cơ quan Hành chính tỉnh Kharkiv, thông báo vào tối cùng ngày rằng ít nhất bốn người đã thiệt mạng và hai người khác bị thương trong vụ tấn công.
Theo Ukrzaliznitsia và các quan chức khu vực, chuyến tàu – hoạt động trên tuyến Barhinkove-Lviv-Chop – đang chở 291 hành khách vào thời điểm xảy ra cuộc tấn công.
Thống đốc Syniehubov xác nhận rằng vụ tấn công xảy ra tại khu dân cư Barvinkove.
Ông cho biết Nga đã phóng ba máy bay điều khiển từ xa loại Geran-2 Shahed vào đoàn tàu, một trong số đó bắn trúng Hàng Không Mẫu Hạm, và hai chiếc khác rơi xuống khu vực gần đoàn tàu.
Ông nhấn mạnh rằng: “Các cú đánh trúng phần đầu của đầu máy và một toa xe chở khách, gây ra hỏa hoạn. Hành khách đã được di tản càng sớm càng tốt.”
Các dịch vụ khẩn cấp, bao gồm nhân viên y tế, cấp cứu và nhân viên hỏa xa, đã có mặt tại hiện trường. Giới chức trách cho biết đã điều động xe buýt dự phòng để vận chuyển hành khách, cũng như những người đang chờ chuyến trở về.
“Vụ tấn công vào một đoàn tàu chở khách là hành động khủng bố trực tiếp của Nga nhằm vào thường dân. Không có mục tiêu quân sự nào cả”, ông nói.
Lực lượng Nga đã nhiều lần tấn công vào cơ sở hạ tầng dân sự trên khắp Ukraine, bao gồm hỏa xa, các cơ sở năng lượng và khu dân cư, bất chấp tuyên bố của Mạc Tư Khoa rằng họ không tấn công các mục tiêu dân sự.
Chính quyền Ukraine và các tổ chức quốc tế đã mô tả những cuộc tấn công như vậy là vi phạm luật nhân đạo quốc tế.
[Kyiv Independent: Russian drones strike passenger train in Kharkiv Oblast, 4 killed, 2 injured]
Mưu toan đảo chính Tập: Hai tướng chóp bu TQ bị bắt thẩm vấn. Hệ thống phòng không TOR-M2 tan tành
VietCatholic Media
16:44 28/01/2026
1. Pháp đáp trả gay gắt lãnh đạo NATO Rutte trong cuộc tranh chấp về sức mạnh quốc phòng của Âu Châu.
Chính phủ Pháp đã đáp trả bài phát biểu của Mark Rutte sau khi tổng thư ký NATO nói rằng Âu Châu không thể tự vệ nếu không có Mỹ.
“Không, thưa ông Mark Rutte. Người Âu Châu có thể và phải tự chịu trách nhiệm về an ninh của mình. Ngay cả Hoa Kỳ cũng đồng ý như vậy. Đây là trụ cột của NATO ở Âu Châu”, Ngoại trưởng Pháp Jean-Noël Barrot tuyên bố.
Hôm thứ Hai, trả lời câu hỏi của Dân biểu cánh hữu người Pháp Pierre-Romain Thionnet, ông Rutte nói với Nghị viện Âu Châu rằng lục địa này không thể tự vệ nếu không có sự hỗ trợ của Mỹ. Ông cũng phản đối ý tưởng về một đội quân Âu Châu - một khái niệm được Ủy viên Quốc phòng Liên Hiệp Âu Châu Andrius Kubilius khôi phục gần đây - và nói rằng “trụ cột Âu Châu của NATO là một từ ngữ khá sáo rỗng”.
Tuy nhiên, kể từ khi Tổng thống Donald Trump trở lại nắm quyền, chính quyền của ông đã khẳng định rằng Washington sẽ ít can thiệp hơn vào an ninh của Âu Châu. Chiến lược Quốc phòng Quốc gia mới của Mỹ được công bố tối thứ Sáu cho biết người Âu Châu sẽ phải đóng vai trò chủ đạo trong việc chống lại các mối đe dọa, lập luận rằng Âu Châu có khả năng về kinh tế và quân sự để tự vệ trước Nga.
Năm ngoái, Tổng thống Trump đã thuyết phục được các nước Âu Châu tăng chi tiêu quốc phòng lên 5% GDP.
Barrot không phải là người duy nhất ở Pháp phản đối những bình luận của Rutte.
Muriel Domenach, cựu đại sứ Pháp tại NATO, đã đăng trên X rằng “với tất cả sự tôn trọng dành cho Tổng thư ký NATO, đây không phải là: câu hỏi đúng... câu trả lời đúng: việc lợi dụng điểm yếu của Âu Châu để bảo đảm sự bảo lãnh của Mỹ là một đường lối lỗi thời và gửi đi thông điệp sai lầm tới Nga.”
Không nhắc đến ông Rutte một cách cụ thể, Bộ trưởng Quân đội Pháp Catherine Vautrin đã nói với đài phát thanh Pháp rằng “những gì chúng ta thấy ngày nay là sự cần thiết của trụ cột Âu Châu trong NATO”. Ý tưởng làm cho người Âu Châu mạnh mẽ hơn về mặt tập thể trong liên minh quân sự, lần đầu tiên được Pháp đề xuất cách đây vài năm, hiện đã được các quốc gia khác, bao gồm cả Đức, ủng hộ.
Dân biểu Nghị viện Âu Châu Nathalie Loiseau, cựu bộ trưởng Pháp hiện đang là thành viên của ủy ban nơi Rutte đưa ra những phát ngôn gây tranh cãi, đã lặp lại lời chỉ trích của Barrot: “Đó là một khoảnh khắc đáng hổ thẹn. Rutte nghĩ rằng việc thô lỗ với người Âu Châu sẽ làm hài lòng Tổng thống Trump. Chúng ta không cần một người cuồng tín Tổng thống Trump. NATO cần tái cân bằng giữa nỗ lực của Mỹ và Âu Châu.”
Những phát ngôn của Rutte cũng trái ngược với nhận định của Tổng thống Phần Lan Alexander Stubb, người đã nói tại Davos tuần trước rằng người Âu Châu có thể tự bảo vệ mình.
[Politico: France snaps back at NATO chief Rutte in feud over Europe’s defense muscle]
2. Ukraine phá hủy hệ thống phòng không Tor-M2 của Nga tại Crimea bị tạm chiếm.
Bộ Tổng tham mưu Quân đội Ukraine cho biết Quân đội Ukraine đã phá hủy một hệ thống hỏa tiễn phòng không Tor-M2 gần làng Kacha ở Crimea, khu vực bị tạm chiếm tạm thời, vào đêm 27 tháng Giêng.
Cuộc tấn công được thực hiện như một phần của nỗ lực lớn hơn nhằm làm suy yếu khả năng tấn công của Nga, Bộ Tổng tham mưu cho biết, đồng thời nói thêm rằng mức độ thiệt hại vẫn đang được đánh giá.
Theo báo cáo của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Ukraine ngày 27 tháng Giêng, Nga đã mất khoảng 1.235.880 binh sĩ tại Ukraine kể từ khi bắt đầu cuộc xâm lược toàn diện vào ngày 24 tháng 2 năm 2022.
Con số này bao gồm 820 thương vong mà lực lượng Nga phải gánh chịu trong ngày hôm qua.
Theo báo cáo, Nga cũng đã mất 11.609 xe tăng, 23.954 xe chiến đấu bọc thép, 76.025 xe và xe chở nhiên liệu, 36.691 hệ thống pháo binh, 1.628 hệ thống phóng rocket đa nòng, 1.286 hệ thống phòng không, 434 máy bay, 347 máy bay trực thăng, 116.712 máy bay điều khiển từ xa, 28 tàu chiến và hai tàu ngầm.
[Kyiv Independent: Ukraine destroys Russian Tor-M2 anti-aircraft system in occupied Crimea]
3. Nhiều câu hỏi đang được đặt ra xung quanh “cuộc đảo chính” của ông Tập Cận Bình nhằm lật đổ vị tướng cao cấp.
Thông báo này là một trận động đất chính trị ở Trung Quốc, làm rung chuyển người dân địa phương và giới quan sát Bắc Kinh trên toàn thế giới.
Bộ Quốc phòng Trung Quốc cuối tuần qua tuyên bố vị tướng quyền lực nhất của họ đang bị điều tra.
Trương Du Hạ sẽ bị gạt ra ngoài lề trong khi chính quyền điều tra ông và một quan chức cao cấp khác trong Quân Ủy Trung ương, gọi tắt là CMC vô cùng quan trọng của đất nước.
Phải chăng đây là một cuộc đảo chính chính trị do lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình tiến hành nhằm chống lại một đối thủ hùng mạnh?
Hay đó chỉ là một nỗ lực khác nhằm loại bỏ tham nhũng trong chiến dịch chống tham nhũng kéo dài một thập niên rưỡi của Tập Cận Bình; một nỗ lực nhằm củng cố Quân Giải phóng Nhân dân, gọi tắt là PLA để chuẩn bị cho trường hợp lực lượng này có thể sử dụng vũ lực chống lại Đài Loan, như Tập Cận Bình đã cảnh báo?
Sau cuộc thanh trừng năm ngoái loại bỏ hai vị chỉ huy khác, Quân ủy Trung ương hiện chỉ còn hai thành viên—chủ tịch Trung Quốc và “người thi hành kỷ luật” của ông, tướng Trương Sinh Minh, nhà lãnh đạo đơn vị kỷ luật của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.
Số lượng người ít ỏi như vậy ở vị trí lãnh đạo cao nhất của quân đội cho thấy sự tập trung quyền lực khổng lồ vào tay ông Tập Cận Bình. Ngay cả cố Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông cũng chỉ có năm người trong ủy ban quân sự của mình. Ở Trung Quốc, Quân Giải phóng Nhân dân là quân đội của đảng, nhưng theo truyền thống, họ cũng được trao quyền tự chủ trong công việc. Quân ủy Trung ương là nơi họ tương tác với nhau.
Đây cũng là nơi Đảng Cộng sản Trung Quốc khẳng định quyền kiểm soát chính trị của mình. Ông Tập Cận Bình là chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương và Trương Du Hạ là phó chủ tịch thứ nhất, trên thực tế là người đứng thứ hai.
Vì vậy, các nhà phân tích đang theo dõi sát sao để tìm hiểu xem sự thay đổi đột ngột ở cao cấp nhất trong quân đội Trung Quốc thực sự có ý nghĩa gì.
Phải chăng ông Tập Cận Bình đang chống lại một cuộc đảo chính?
Trong tuyên bố ngắn gọn hôm thứ Bảy, Bộ Quốc phòng Trung Quốc cho biết Trương Du Hạ và Lưu Chấn Lợi, Tham mưu trưởng Liên quân, đang bị điều tra vì “vi phạm kỷ luật và pháp luật nghiêm trọng”.
Thông báo này nhanh chóng được tiếp nối bằng một bài xã luận dài hơn trên tờ Nhật báo Quân Giải phóng Nhân dân, cáo buộc hai người này tham nhũng “nghiêm trọng”. Bài báo - có lẽ đã được chính ông Tập Cận Bình phê duyệt - cũng cáo buộc hai người này phạm sai lầm, cho thấy vấn đề có thể mang tính chính trị sâu xa.
Tờ báo cho rằng Trương Du Hạ và Lưu Chấn Lợi đã “nghiêm trọng chà đạp và phá vỡ hệ thống trách nhiệm của chủ tịch CMC”, ám chỉ đến sự phân bổ quyền lực ở cao cấp nhất.
Họ đã “tấn công nghiêm trọng vào nền tảng chính trị và tư tưởng cho sự đoàn kết và tiến bộ của tất cả sĩ quan và binh lính trong toàn quân”. Việc điều tra hai người này sẽ “củng cố thêm nền tảng chính trị và loại bỏ những độc tố và tệ nạn tư tưởng”.
Trong nhiều năm qua, dư luận vẫn chưa hết đồn đoán liệu ông Tập Cận Bình có chịu áp lực nào không khi tiến hành nhiều cuộc thanh trừng các tướng lĩnh cao cấp, bao gồm cả cựu Bộ trưởng Quốc phòng Lý Thượng Phủ và các nhân vật chính trị có liên quan đến hệ thống an ninh Trung Quốc. Các cuộc thanh trừng này đã ảnh hưởng đến hàng loạt quan chức.
“Hệ thống giáo dục Trung Quốc vô cùng cứng nhắc,” Francesco Sisci, giám đốc viện nghiên cứu Appia có trụ sở tại Rôma, người đã sống ở Trung Quốc 30 năm, cho biết. Vì quá cứng nhắc, nó có những “quy tắc ngữ pháp” rất dễ nhận ra khi bị vi phạm.
“Khi bạn chứng kiến một cuộc thanh trừng quy mô lớn như vậy, với hàng loạt tướng lĩnh bị giáng chức hoặc bị điều tra, thì đó không phải là chuyện nhỏ - nó phải cực kỳ nghiêm trọng. Vì vậy, tôi cho rằng đã có một âm mưu đảo chính, bởi vì quy mô của nó quá lớn.”
Điều đó sẽ biến hành động của Tập Cận Bình thành một dạng phản đảo chính. Nhưng đó chỉ là một cách giải thích.
Tờ Wall Street Journal đưa tin rằng các sĩ quan quân đội ở Bắc Kinh đã được thông báo rằng Trương đã làm rò rỉ dữ liệu kỹ thuật về vũ khí hạt nhân của Trung Quốc cho Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, một số chuyên gia nghi ngờ giả thuyết đó, đặt câu hỏi làm thế nào mà trong một bộ máy quan liêu phân cấp như Trung Quốc, Trương có thể tiếp cận được những tài liệu chi tiết như vậy, hoặc tại sao ông ta lại làm như vậy. Thay vào đó, họ cho rằng cáo buộc này có thể là một nỗ lực của Tập Cận Bình nhằm củng cố quyền lực của mình.
“Có hàng ngàn lý do để vu khống Trương,” Henry Gao, giáo sư luật tại Đại học Quản lý Singapore, nói. “Nhưng không một lý do nào trong số đó thực sự liên quan đến việc làm rò rỉ bí mật nhà nước cho Mỹ.”
“Lời giải thích hợp lý nhất là đây là một trường hợp chiến tranh thông tin cao cấp: tung tin giả cho truyền thông nước ngoài để gây áp lực lên các đồng minh của Trương, đặc biệt là trong giới lãnh đạo cao cấp của đảng và quân đội,” Gao tiếp tục.
Sisci đồng ý. “Lỗi chính của ông ta không phải là gián điệp hay chuyển giao bí mật cho người Mỹ. Đó là điều có thể đã xảy ra hoặc không. Mà là ông ta đã tổ chức một phe nhóm,” ông nói với Newsweek, đưa ra bằng chứng là những cáo buộc của truyền thông nhà nước và đảng về những thiệt hại chính trị mang tính hệ thống do Trương gây ra.
“Hoặc ít nhất là ông Tập Cận Bình cho rằng đã có một âm mưu đảo chính.”
Ông Tập Cận Bình đã khiến nhiều người ở Trung Quốc phẫn nộ với chiến dịch chống tham nhũng của mình. Nền kinh tế Trung Quốc ngày càng bất ổn do ảnh hưởng nặng nề bởi sự suy thoái nghiêm trọng của thị trường bất động sản và tình trạng nợ nần chồng chất ở nhiều địa phương.
[Newsweek: Questions Swirl Over Xi’s ‘Coup’ Against Top General]
4. Lực lượng Nga tăng cường áp lực theo hướng Pokrovsk, theo thông báo của quân đội.
Ngày 27 tháng Giêng, Quân đoàn phản ứng nhanh số 7 của Ukraine báo cáo rằng lực lượng Nga đã tăng cường áp lực theo hướng Pokrovsk, tỉnh Donetsk.
Theo thông báo từ đơn vị này, lực lượng Nga đã tập trung nỗ lực chính vào việc chiếm giữ làng Hryshyne, phía tây bắc Pokrovsk. Họ cho biết thêm, quân đội Nga đã tận dụng điều kiện thời tiết và triển khai xe cộ cùng binh lính tại một khu công nghiệp ở phía tây bắc thành phố. Từ đó, quân đội Nga đang cố gắng tiến về Hryshyne thông qua nhiều tuyến đường khác nhau.
Quân đội Nga cũng tăng cường áp lực ở vùng ngoại ô phía bắc Myrnohrad, nơi giao tranh bằng súng trường đang diễn ra ác liệt ở trung tâm thành phố, theo thông báo của quân đội Ukraine. Các đơn vị Ukraine đang nỗ lực ngăn chặn bước tiến của quân Nga dọc theo tuyến phía đông Myrnohrad, Krasnyi Lyman và Rodynske.
Quân đoàn phản ứng nhanh số 7 báo cáo sự gia tăng mạnh mẽ các hoạt động điều khiển từ xa và trên không của Nga trong khu vực trách nhiệm của họ, bao gồm việc sử dụng rộng rãi các máy bay điều khiển từ xa “Molniya”, có khả năng triển khai nhiều máy bay điều khiển từ xa FPV trong các cuộc tấn công liên tiếp, cũng như các máy bay điều khiển từ xa quang học có khả năng vươn tới hơn 20 km (12,5 dặm) vào hệ thống phòng thủ của Ukraine.
Lực lượng không quân chiến thuật Nga cũng đã tăng cường hoạt động, với gần 360 quả bom được thả xuống khu vực Pokrovsk trong tuần qua, tăng 20% so với tuần trước đó.
Luôn là khu vực nóng nhất trên chiến tuyến trong suốt năm 2025, thành phố công nghiệp Pokrovsk đã cầm chân các cuộc tấn công của Nga tại tỉnh Donetsk trong hơn một năm trước khi bị tạm chiếm phần lớn vào cuối mùa thu.
[Kyiv Independent: Russian forces intensify pressure in Pokrovsk direction, military says]
5. Theo Sybiha, Lukashenko phải chịu trách nhiệm về tội “đồng lõa” trong cuộc chiến của Nga.
Ngoại trưởng Andrii Sybiha cho biết Belarus đồng lõa trong cuộc xâm lược Ukraine của Nga và Kyiv đang chuẩn bị các biện pháp trừng phạt đối với Tổng thống Belarus Alexander Lukashenko - một động thái nhằm buộc ông phải chịu trách nhiệm về vai trò của đất nước mình trong việc hỗ trợ cuộc chiến.
“Chính quyền Lukashenko, và bản thân Lukashenko, phải chịu trách nhiệm về sự đồng lõa của họ trong hành động gây hấn của Nga”, Sybiha nói trong một cuộc phỏng vấn với tờ European Pravda vào ngày 27 tháng Giêng.
Khi được hỏi về Lukashenko, ông nói rằng Ukraine, giống như nhiều quốc gia Âu Châu khác, không coi nhà lãnh đạo Belarus là người được bầu cử hợp pháp.
Lukashenko đã cai trị Belarus từ năm 1994, biến đất nước này thành một chế độ độc tài. Ngoài Nga, Belarus được coi là quốc gia kém dân chủ nhất ở Âu Châu và chưa từng tổ chức các cuộc bầu cử tự do hoặc công bằng kể từ khi giành độc lập khỏi Liên Xô—ngoại trừ cuộc bầu cử đầu tiên của Lukashenko.
Năm 2020, Lukashenko phải đối mặt với thách thức từ lãnh đạo phe đối lập Sviatlana Tsikhanouskaya, người được nhiều người coi là người chiến thắng hợp pháp trong cuộc bầu cử tổng thống năm đó.
Sybiha nói thêm rằng chính phủ Belarus hiện tại phải chịu trách nhiệm ngang bằng với Nga về cuộc chiến ở Ukraine, lưu ý rằng Lukashenko đã cho phép lực lượng Nga sử dụng Belarus - quốc gia có chung biên giới phía bắc với Ukraine - làm bàn đạp cho cuộc xâm lược.
Trong suốt cuộc chiến, Belarus đã hỗ trợ các hoạt động di chuyển quân đội, phóng hỏa tiễn và tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của Nga - thậm chí còn là địa điểm phóng tiềm năng cho hỏa tiễn Oreshnik của Nga, được tường trình được thiết kế để mang đầu đạn hạt nhân.
[Politico: Lukashenko must be held accountable for 'complicity' in Russia's war, Sybiha says]
6. Cơ quan An ninh Ukraine, gọi tắt là SBU cho biết một điệp viên Nga bị kết án 15 năm tù vì điều phối các cuộc tấn công của Nga.
Cơ quan An ninh Ukraine, gọi tắt là SBU cho biết ngày 27 Tháng Giêng rằng một người đàn ông Ukraine 20 tuổi đã bị kết án 15 năm tù vì điều phối các cuộc tấn công bằng hỏa tiễn và máy bay điều khiển từ xa của Nga vào miền nam nước này.
Theo SBU, cư dân của Tatarbunary này trước đó đã bị kết tội phản quốc trong thời kỳ thiết quân luật. Các nhà điều tra cho biết người đàn ông này được các cơ quan đặc biệt của Nga tuyển mộ sau khi tìm kiếm “kiếm tiền dễ dàng” trên các kênh Telegram.
Theo thông tin từ cơ quan chức năng, nghi phạm bị bắt giữ vào Tháng Giêng năm 2025 tại tỉnh Odessa khi đang tích cực phối hợp một cuộc Dù vào khu vực này. Một chiếc điện thoại chứa tọa độ các cơ sở của Lực lượng Quốc phòng Ukraine đã bị thu giữ trong quá trình bắt giữ.
Thông tin thu thập được đã được đánh dấu trên Google Maps và gửi đến Nga thông qua các dịch vụ nhắn tin mã hóa.
Trong một vụ việc khác, cơ quan này cho biết họ cũng đã vạch trần một đặc vụ FSB bị cáo buộc chỉ đạo các vụ pháo kích ở vùng Poltava và lan truyền thông tin sai lệch về Quân đội Ukraine.
Theo các nhà điều tra, nghi phạm đã tiến hành giám sát ban đêm gần các khu vực đông dân cư trong thời gian báo động không kích, ghi lại các tuyến đường di chuyển và vị trí chiến đấu của các nhóm hỏa lực cơ động. Lực lượng Nga dự định sử dụng thông tin này để “vượt qua” hệ thống phòng không của Ukraine trong các cuộc tấn công trong tương lai, SBU cho biết.
Người đàn ông này đã bị buộc tội phản quốc theo luật thiết quân luật và thông đồng với kẻ thù. Ông ta đang bị giam giữ mà không được tại ngoại, đối mặt với án tù chung thân kèm theo tịch thu tài sản.
[Kyiv Independent: Russian agent sentenced to 15 years for coordinating Russian strikes, SBU says]
7. Rạn nứt trong chính phủ Tiệp ngày càng sâu sắc khi tổng thống cáo buộc ngoại trưởng “tống tiền”.
Hôm thứ Ba, Tổng thống Tiệp Petr Pavel cáo buộc Ngoại trưởng Petr Macinka tống tiền trong một cuộc tranh chấp bất thường liên quan đến việc chính phủ lựa chọn nhà lãnh đạo bộ trưởng môi trường gây tranh cãi.
Sự rạn nứt giữa Pavel và Macinka cho thấy một sự chia rẽ sâu sắc hơn trong chính trường Tiệp, đối lập chính phủ liên minh cánh hữu chống lại giới cầm quyền của Thủ tướng Andrej Babiš với một tổng thống kiên quyết thân phương Tây và là cựu tướng NATO, người cam kết với liên minh và Liên Hiệp Âu Châu.
“Ông ta có thể yên tâm nếu tôi đưa được Turek vào Bộ Môi trường. Nếu không, tôi sẽ phá vỡ mọi mối quan hệ theo cách mà cuối cùng sẽ được ghi vào sách giáo khoa chính trị học như một trường hợp chung sống cực đoan,” Macinka viết trong một tin nhắn gửi cho cố vấn của Pavel, đồng thời cho biết thêm rằng ông được sự ủng hộ của thủ tướng theo chủ nghĩa dân túy và đảng cực hữu Tự do và Dân chủ Trực tiếp, gọi tắt là SPD, đối tác liên minh còn lại.
Filip Turek là nhà chính trị theo chủ nghĩa dân túy cánh hữu gây ra nhiều tranh cãi tại Tiệp.
Macinka nói thêm rằng tổng thống sẽ “bất ngờ trước hậu quả” nếu ông “không làm gì cả, hoặc ít nhất là từ chối tham gia đàm phán về Turek”, đồng thời khẳng định “ông sẵn sàng chiến đấu quyết liệt với tổng thống trong việc bổ nhiệm Turek”.
Ông Pavel, người có quyền phủ quyết đối với các bổ nhiệm bộ trưởng, đã ngăn cản ông Turek trở thành bộ trưởng môi trường vì vướng vào nhiều vụ bê bối.
“Tôi cho rằng những lời lẽ của Ngoại trưởng trong tin nhắn là một nỗ lực tống tiền. Tôi coi đó là điều không thể chấp nhận được và, trong điều kiện dân chủ của chúng ta, hoàn toàn không thể dung thứ”, ông Pavel nói trong một cuộc họp báo hôm thứ Ba.
Pavel, người đã công bố các tin nhắn gửi cho cố vấn của mình, cho biết ông sẽ liên hệ với cảnh sát, và cảnh sát đã xác nhận rằng họ đã nhận được báo cáo.
Phát biểu tại một cuộc họp báo hôm thứ Ba, Macinka bác bỏ các cáo buộc tống tiền, cáo buộc tổng thống vượt quá giới hạn hiến pháp khi phủ quyết Turek và đe dọa việc Pavel tham gia hội nghị thượng đỉnh NATO vào tháng 7.
Turek, chủ tịch danh dự của đảng dân túy cánh hữu Motorists for Themselves (Đảng Những người lái xe vì chính mình) mà Macinka cũng là thành viên, đang bị điều tra về tội tấn công tình dục, các bài đăng trên Facebook mang tính phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính và kỳ thị đồng tính, cũng như một bức ảnh ông ta giơ tay chào kiểu Đức Quốc xã, tất cả đều bị ông ta phủ nhận.
“Nếu ông ấy thực sự nhận được sự ủng hộ của Thủ tướng… thì những tuyên bố của Petr Macinka không chỉ minh họa cho đường lối của chính phủ mới đối với việc chia sẻ quyền lực trong trật tự hiến pháp của chúng ta, mà còn là bằng chứng cho thấy các vấn đề cơ bản trong chính sách đối ngoại và an ninh của chúng ta đã trở thành con tin của những hiềm khích và lợi ích cá nhân”, tổng thống nói hôm thứ Ba.
Trước đó, Pavel đã lưu ý rằng lập trường ủng hộ mạnh mẽ NATO và Liên Hiệp Âu Châu, cùng với việc bảo vệ các thể chế dân chủ của đất nước và tôn trọng hiến pháp, sẽ là những yếu tố then chốt trong quyết định của ông về nội các được đề xuất.
Babiš đăng tải trên X cho biết những lời của Macinka là “đáng tiếc” nhưng bác bỏ cáo buộc tống tiền. “Đó là cuộc trao đổi riêng với cố vấn của ông ấy, vì vậy chắc chắn đó không phải là tống tiền,” Babiš nói.
Văn phòng của Pavel không phản hồi yêu cầu bình luận. Văn phòng của Macinka cho biết bộ trưởng sẽ phát biểu tại một cuộc họp báo sau đó.
[Politico: Czech rift deepens as president accuses foreign minister of ‘blackmail’]
8. Cảnh báo an toàn công cộng được ban hành sau vụ tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của Nga vào kho dầu ở tỉnh Lviv.
Vụ tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của Nga vào một kho chứa dầu ở tỉnh Lviv đêm 27 Tháng Giêng đã gây ra hỏa hoạn và khói dày đặc ở các khu vực lân cận, khiến chính quyền địa phương phải đưa ra cảnh báo an toàn công cộng và tạm thời đình chỉ các lớp học.
Các quan chức địa phương cho biết máy bay điều khiển từ xa đã tấn công vào một cơ sở hạ tầng dầu khí ở quận Zolochiv. Cư dân thị trấn Brody và các làng xung quanh cho biết có khói dày đặc và mùi nồng nặc sau vụ tấn công, mà theo nhà chức trách là do sự cháy của các sản phẩm dầu mỏ.
Các dịch vụ khẩn cấp đã được điều động đến hiện trường và tiếp tục làm việc suốt buổi sáng trong bối cảnh lo ngại về phẩm chất không khí. Thống đốc tỉnh Lviv, ông Maksym Kozytskyi, cho biết tình hình đã được kiểm soát và đang được theo dõi chặt chẽ.
“Tình hình đã được kiểm soát. Mức độ phóng xạ nền nằm trong giới hạn cho phép”, ông Kozytskyi cho biết, đồng thời nói thêm rằng các đội cấp cứu vẫn đang có mặt tại hiện trường.
Không có thương vong nào được báo cáo.
[Kyiv Independent: Public safety warnings issued after Russian drone strike on Lviv Oblast oil terminal]
9. Thủ tướng Carney phản bác lại nhóm của Tổng thống Trump về bài phát biểu tại Davos.
Thủ tướng Mark Carney vẫn giữ nguyên quan điểm trong bài phát biểu tại Davos, vốn đã khiến Tổng thống Trump khó chịu và gây xáo trộn các cuộc đàm phán thương mại giữa Canada và Mỹ.
Thủ tướng Carney bác bỏ tuyên bố của chính quyền Tổng thống Trump rằng ông đã “quyết liệt” rút lại những phát ngôn của mình hôm thứ Hai trong một cuộc trò chuyện riêng với tổng thống.
“Để nói rõ ràng hơn — và tôi đã nói điều này với tổng thống — tôi thực sự nghiêm chỉnh với những gì tôi đã nói ở Davos. Điều đó rất rõ ràng,” ông Carney nói với các phóng viên hôm thứ Ba trên Đồi Quốc hội trước cuộc họp Nội閣.
“Canada là quốc gia đầu tiên hiểu được sự thay đổi trong chính sách thương mại của Mỹ mà ông ấy đã khởi xướng, và chúng tôi đang đáp trả lại điều đó.”
Thủ tướng Carney cho biết Canada đang tăng cường quan hệ quốc tế và đầu tư trong nước, đồng thời vẫn sẵn sàng định hình lại mối quan hệ với Mỹ theo Hiệp định Mỹ-Mexico-Canada.
“Ông ấy hiểu điều đó, và đó là một cuộc trò chuyện tốt đẹp,” Thủ tướng Carney nói.
Văn phòng Thủ tướng từ chối công bố nội dung cuộc trò chuyện, trái với thông lệ đối với các cuộc gọi giữa ông Carney và các lãnh đạo chính trị.
Tuần trước, Carney đã có bài phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ, khuyến khích các quốc gia tầm trung đứng lên chống lại “sự bá quyền” của Mỹ. Bài phát biểu này đã lan truyền rộng rãi và gây ra sự chỉ trích từ chính quyền Tổng thống Trump.
Kể từ đó, tổng thống đã chỉ trích ông Carney về thỏa thuận với Trung Quốc, đe dọa áp thuế 100% đối với Canada và loại bỏ ông Carney khỏi “Hội đồng Hòa bình” của mình. Tổng thống Trump cũng gọi ông Carney là “thống đốc”, một thuật ngữ mà ông từng sử dụng để chế giễu cựu Thủ tướng Justin Trudeau khi nói về việc biến Canada thành “tiểu bang thứ 51”.
Bộ trưởng Tài chính Scott Bessent cho rằng Thủ tướng Canada nên làm những gì tốt nhất cho người dân Canada “thay vì thúc đẩy chương trình nghị sự toàn cầu hóa của riêng ông ấy”.
“ Hôm nay tôi đã ở trong Phòng Bầu dục với tổng thống,” Bessent nói hôm thứ Hai trên chương trình “Hannity” của Fox News. “Ông ấy đã nói chuyện với Thủ tướng Carney, người đang rất quyết liệt rút lại một số phát ngôn không hay mà ông ấy đã đưa ra tại Davos.”
Ông nói thêm: “Tôi không chắc thủ tướng đang nghĩ gì. Tất nhiên Canada phụ thuộc vào Mỹ. Thương mại giữa hai miền Bắc và Nam Mỹ nhiều hơn rất nhiều so với thương mại giữa hai miền Đông và Tây.”
[Politico: Carney pushes back on Trump team over Davos speech]
10. Các quốc gia ven biển Âu Châu cảnh báo về hạm đội bí mật của Nga, đồng thời tăng cường an toàn hàng hải.
Ngày 26 tháng Giêng, 14 quốc gia Âu Châu cảnh báo rằng các tàu thuyền hoạt động trên Biển Baltic và Biển Bắc dưới nhiều quốc kỳ có thể bị coi là tàu không quốc tịch, một phần trong chiến dịch trấn áp hạm đội ngầm của Mạc Tư Khoa.
Theo tuyên bố chung của Đức, Pháp, các nước Bắc Âu và Baltic, Hòa Lan, Bỉ, Anh và Ba Lan, tất cả các tàu thuyền phải duy trì giấy tờ hợp lệ, liên lạc với các cơ quan chức năng có liên quan và tuân thủ các quy tắc an toàn cũng như các quy định quốc tế.
Các biện pháp này được thiết kế để “duy trì và tăng cường an ninh hàng hải ở khu vực Biển Baltic và Biển Bắc”, các nước cho biết vài ngày sau khi lực lượng Pháp lên tàu một tàu chở dầu thuộc hạm đội bí mật ở Địa Trung Hải.
Hạm đội ngầm là một nhóm các tàu chở dầu cũ kỹ, bảo hiểm kém mà Mạc Tư Khoa sử dụng để né tránh các lệnh trừng phạt quốc tế.
Các chính phủ phương Tây đã liên kết hạm đội này với các hoạt động lai ghép do Nga hậu thuẫn, trong khi các chuyên gia cho rằng nó tiềm ẩn rủi ro môi trường do làm tăng khả năng xảy ra sự việc tràn dầu.
Trong những tuần gần đây, Mỹ đã bắt giữ một số tàu chở dầu bí mật có liên hệ với Nga như một phần trong chiến dịch trấn áp hoạt động buôn bán dầu mỏ của Venezuela. Trong số đó có một tàu treo cờ Nga mà Mỹ cho là đang sử dụng cờ giả và do đó là một tàu không quốc tịch.
Các quốc gia ven biển Âu Châu cũng cảnh báo về sự can thiệp ngày càng tăng từ phía Nga vào Hệ thống Vệ tinh Định vị Toàn cầu, gọi tắt là GNSS trong khu vực Biển Baltic.
“Những hành động gây rối này, xuất phát từ Liên bang Nga, làm suy giảm an ninh hàng hải quốc tế. Tất cả các tàu thuyền đều đang gặp nguy hiểm”, tuyên bố cho biết.
Các quốc gia Âu Châu kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận việc gây nhiễu hệ thống định vị toàn cầu, gọi tắt là GNSS và thao túng hệ thống nhận dạng tự động, gọi tắt là AIS là “mối đe dọa đối với an ninh và an toàn hàng hải” và phát triển các hệ thống thay thế trong trường hợp xảy ra sự việc với GNSS.
Các quan chức phương Tây đã nhiều lần cảnh báo về việc Nga tiến hành gây nhiễu GPS và gây nhiễu radar dọc theo sườn phía đông của NATO, một động thái được xem là một phần trong chiến tranh hỗn hợp của Mạc Tư Khoa.
[Kyiv Independent: European coastal countries warn Russia's shadow fleet, step up maritime safety]
11. Ít nhất 8 người thiệt mạng, 53 người bị thương trong các cuộc tấn công của Nga vào Ukraine trong ngày hôm qua.
Các cuộc tấn công của Nga đã khiến ít nhất 8 người Ukraine thiệt mạng và 53 người khác bị thương trong ngày hôm qua, chính quyền địa phương cho biết vào ngày 27 tháng Giêng.
Theo báo cáo của Không quân Ukraine, Nga đã phóng 165 máy bay điều khiển từ xa các loại vào Ukraine đêm qua, trong đó có khoảng 135 máy bay điều khiển từ xa loại Shahed. Hệ thống phòng không Ukraine đã đánh chặn được 110 chiếc, nhưng 24 chiếc đã rơi xuống 14 địa điểm trên khắp cả nước, và mảnh vỡ máy bay điều khiển từ xa được ghi nhận tại chín địa điểm khác.
Vào đêm 27 tháng Giêng, tỉnh Odesa chịu tổn thất nặng nề nhất về dân thường do các cuộc tấn công của Nga. Nga đã điều một đàn 50 máy bay điều khiển từ xa vào thành phố ngay sau 2 giờ sáng. Thống đốc tỉnh Odesa, Oleh Kiper, cho biết các vụ nổ đã khiến 3 người thiệt mạng và 35 người bị thương.
Tại tỉnh Donetsk, một phụ nữ và một người đàn ông sinh năm 1980 và 1977 đã thiệt mạng, và một người đàn ông sinh năm 2005 bị thương trong các cuộc tấn công của Nga vào Sloviansk, theo báo cáo của Thống đốc địa phương Vadym Filaskin. Hai người khác bị thương ở Druzhkivka và Oleksiivo-Druzhkivka.
Tại tỉnh Kherson, Thống đốc Oleksandr Prokudin báo cáo một thường dân thiệt mạng và hai người bị thương trong các cuộc tấn công của Nga, nhắm vào 25 đô thị, bao gồm cả thành phố Kherson.
Tại tỉnh Kharkiv, các cuộc tấn công của Nga, bao gồm hàng chục máy bay điều khiển từ xa, đã khiến một người đàn ông 35 tuổi thiệt mạng và 8 người bị thương, Thống đốc Oleh Syniehubov cho biết. Các cuộc tấn công cũng gây thiệt hại cho 20 nhà ở và chung cư, 2 cơ sở giáo dục, lưới điện và xe hơi trên toàn tỉnh.
Tại tỉnh Zaporizhzhia, các cuộc không kích của Nga đã khiến một phụ nữ thiệt mạng và hai người khác bị thương, trong đó có một phụ nữ 18 tuổi, theo báo cáo của Thống đốc Ivan Fedorov.
Tại tỉnh Sumy, hai người bị thương do các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của Nga, nhắm vào 25 đô thị, theo báo cáo của Thống đốc Oleh Hryhorov.
Tại tỉnh Mykolaiv, máy bay điều khiển từ xa của Nga đã tấn công cơ sở hạ tầng năng lượng, và mảnh vỡ từ những chiếc máy bay điều khiển từ xa bị bắn rơi đã làm hư hại ba ngôi nhà ở cộng đồng Olshanska, Thống đốc Vitalii Kim cho biết. Hậu quả của vụ tấn công là một phụ nữ 59 tuổi bị thương, ông Kim nói thêm.
Tại tỉnh Dnipropetrovsk, một máy bay điều khiển từ xa của Nga đã tấn công một tòa nhà chung cư nhiều tầng ở Kryvii Rih, nhưng may mắn là không có ai bị thương, theo báo cáo của Thống đốc Oleksandr Handza.
[Kyiv Independent: At least 8 killed, 53 injured in Russian attacks on Ukraine over past day]
Giữ vững nhân tính thời trí tuệ nhân tạo: Đức Giáo Hoàng Lêô cảnh báo về sự tầm thường và tin giả
VietCatholic Media
18:14 28/01/2026
1. Đức Giáo Hoàng Lêô XIV cảnh báo về sự tầm thường và tin giả
Đức Giáo Hoàng Lêô XIV cảnh báo về những rủi ro đi kèm với thông tin trong thời đại kỹ thuật số và kêu gọi các nhà báo không bao giờ khuất phục trước “sự cám dỗ của những điều tầm thường” hoặc tin giả gây nhầm lẫn về điều gì là đúng hay sai.
Đức Giáo Hoàng đã đưa ra những nhận xét này trong một thông điệp gửi nhân dịp kỷ niệm 30 năm chương trình “Porta a Porta” (“Từ cửa đến cửa”) trên kênh truyền hình công cộng RAI 1 của Ý, trong đó ngài gửi lời đến người dẫn chương trình Bruno Vespa, đội ngũ biên tập và khán giả.
Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã nhắc lại ba thập niên lịch sử của chương trình “Porta a Porta” như một giai đoạn được đánh dấu bởi “chiến tranh và hiệp định hòa bình, khủng hoảng và phục hồi, những biến cố vui buồn”.
Đồng thời, ngài nhấn mạnh rằng chính phương tiện truyền thông cũng đã thay đổi: truyền hình và cùng với nó là tất cả các hình thức truyền thông. “Ngày nay chúng ta có những công cụ mới và những khả năng mới để tiếp nhận thông tin, học hỏi và tương tác”, Đức Giáo Hoàng viết, “nhưng cùng với nó, những rủi ro mới cũng xuất hiện”.
Trong số những mối nguy hiểm này, Đức Thánh Cha đã liệt kê việc thay thế tin thật bằng tin giả, “lướt kênh liên tục” thay vì lắng nghe chăm chú, “lướt tin tức tiêu cực” thay vì đọc có chủ đích, sự tò mò hời hợt thay vì khát vọng học hỏi thực sự, và những cuộc độc thoại thay vì những cuộc đối thoại trong đó không ai thực sự lắng nghe.
“Truyền hình phẩm chất cao”
Trước những xu hướng này, Đức Giáo Hoàng chủ trương sự kiên nhẫn và tầm nhìn dài hạn là điều kiện cần thiết để xây dựng các mối quan hệ bền vững. Ngài cũng kêu gọi để những đổi mới kỹ thuật không dẫn đến sự mất mát “tính độc đáo của nhân tính chúng ta”.
“Truyền thông thách thức tất cả chúng ta không bao giờ khuất phục trước cám dỗ của sự tầm thường”, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV nhấn mạnh. Cuối cùng, ngài khuyến khích các nhà làm phim truyền hình “luôn luôn cung cấp cho thế giới, nơi khao khát cái đẹp và sự thật, những chương trình truyền hình phẩm chất cao”.
Source:EWTN
2. Giữ vững nhân tính trong thời đại trí tuệ nhân tạo
Tôi không nhớ lần đầu tiên mình dùng ChatGPT là khi nào, vậy mà đến nay tôi vẫn dùng nó gần như mỗi ngày: như một công cụ tìm kiếm tương tác, một cách để chuyển những ghi âm giọng nói lan man thành văn xuôi mạch lạc, hỗ trợ lên kế hoạch bữa ăn, hoặc một công cụ để tìm các nghiên cứu để trích dẫn trong bài viết của mình.
Không thể phủ nhận tốc độ phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo, từ một tin đồn kỳ lạ, mang tính viễn tưởng trở thành người bạn đồng hành hàng ngày; từ một công cụ kỹ thuật số trở thành một trợ lý cá nhân; và giờ đây từ một điều mới lạ trở thành gần như một nhu cầu thiết yếu.
Chỉ trong vài năm ngắn ngủi, những cỗ máy từng chỉ đơn thuần truy xuất thông tin giờ đây đã có thể tạo ra ngôn ngữ và mô phỏng quá trình suy luận. Vấn đề là chúng ta không còn chỉ đơn thuần tìm kiếm câu trả lời nữa. Chúng ta đang thuê ngoài chính quá trình tư duy.
Trong một buổi nói chuyện gần đây, Matthew Harvey Sanders, người sáng lập kiêm giám đốc điều hành của Longbeard và là người tạo ra Magisterium AI, công cụ tìm kiếm và giải đáp thắc mắc hàng đầu thế giới dành cho người Công Giáo, đã gọi tên thời điểm này với sự rõ ràng đến đáng lo ngại. Ông nói: “Ngày nay chúng ta đang đứng trước một bước ngoặt kỹ thuật số”. Thời đại thông tin, được định nghĩa bởi các công cụ tìm kiếm và truy xuất dữ liệu, đã âm thầm nhường chỗ cho một thứ mạnh mẽ hơn nhiều: thời đại của lý luận tự động và thuê ngoài. Sự chuyển đổi này đặt ra một câu hỏi cấp bách cho mỗi con người: Làm thế nào để chúng ta giữ được tính người trong thời đại trí tuệ nhân tạo?
Điều đáng mừng là Sanders cẩn thận tránh gây hoang mang. Ông lập luận rằng nỗi sợ hãi thường nảy sinh khi chúng ta coi trí tuệ nhân tạo như một thứ gì đó huyền bí hoặc không thể hiểu được. “Có xu hướng coi trí tuệ nhân tạo như một loại phép thuật, một chiếc hộp đen bí ẩn,” ông lưu ý. Nhưng người Kitô hữu là những người có đức tin và lý trí. Công cụ không phải để sợ hãi, mà là để được sử dụng đúng cách.
Tuy nhiên, trật tự đúng đắn đòi hỏi tầm nhìn đạo đức. Như Sanders đã nhận xét, chúng ta đang chuyển từ các chatbot đơn giản sang các hệ thống suy luận, và sắp tới là các tác nhân, những hệ thống không chỉ có khả năng suy nghĩ mà còn hành động một cách tự chủ. Khi máy móc có thể suy luận trong nhiều phút hoặc nhiều giờ trước khi phản hồi, tạo ra và loại bỏ hàng ngàn khả năng, chúng ta không chỉ phải hỏi chúng có thể làm gì, mà còn phải hỏi chúng hiểu điều gì là có giá trị.
Sanders cảnh báo rằng mối nguy hiểm không nằm ở bản thân trí thông minh, mà là sự hình thành thông tin thiếu đi sự thật. Các hệ thống AI thống trị hiện nay được đào tạo dựa trên mức trung bình thống kê của internet, một hỗn hợp đạo đức rộng lớn gồm những ý tưởng xuất sắc và những điều tầm thường, một sự pha trộn giữa sự thấu hiểu và sự thiếu nhất quán. Ông giải thích: “Khi những mô hình suy luận mạnh mẽ mới này suy nghĩ, chúng sử dụng mức trung bình thống kê của internet. Chúng suy luận bằng logic của đám đông.”
Lối tư duy đó thường mang tính vị lợi và tương đối, nghĩa là chúng ta đang chế tạo những cỗ máy có khả năng suy luận siêu phàm đúng vào thời điểm mà nền văn hóa của chúng ta ít chắc chắn nhất về bản chất thực sự của một con người. Sanders đã mô tả sự hội tụ này một cách rõ nét: sự suy giảm giá trị lao động của con người thông qua tự động hóa, kết hợp với sự suy giảm giá trị của cơ thể con người thông qua ý thức hệ siêu nhân học. Cả hai cùng nhau tạo thành cái mà ông gọi là vực thẳm hiện sinh.
Sanders lập luận rằng chủ nghĩa siêu nhân không phải là sự đổi mới mà là sự tái sinh của một sai lầm cổ xưa. “Về bản chất, chủ nghĩa siêu nhân là một hình thức hiện đại của tà thuyết Ngnosis cổ đại.” Nó coi cơ thể như một cỗ máy lỗi thời, sự dễ tổn thương là một khuyết điểm, và sự hữu hạn là một vấn đề cần được loại bỏ bằng kỹ thuật. Trái ngược với điều này, Kitô giáo đưa ra một luận điểm hoàn toàn khác: rằng Thiên Chúa đã nhập thể, và bằng cách đó đã tiết lộ rằng những giới hạn của chúng ta không phải là khuyết điểm, mà là những khe hở để ân điển đi vào.
Vậy nên, để giữ vững nhân tính, không phải là cạnh tranh với máy móc trên chính sân chơi của chúng, mà là giành lại những gì máy móc không thể làm được. Trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bài giảng, nhưng nó không thể thuyết giảng. Nó có thể mô phỏng sự đồng cảm, nhưng nó không thể cùng chịu đựng nỗi đau với người khác. Nó có thể tính toán kết quả tối ưu, nhưng nó không thể lựa chọn tình yêu. Như Sanders đã nói một cách thẳng thắn: “Trí tuệ nhân tạo có thể tính toán, nhưng chỉ có tâm hồn mới có thể chiêm nghiệm.”
Đây là lý do tại sao việc hình thành, chứ không chỉ là điều chỉnh, mới là nhiệm vụ cấp bách nhất của Giáo hội trong thời đại trí tuệ nhân tạo. Nếu thiếu đi những lương tâm được hình thành, sức mạnh công nghệ sẽ chỉ làm gia tăng sự hỗn loạn và làm sâu sắc thêm sự cô lập.
Cốt lõi của việc giữ gìn nhân tính trong thời đại thuật toán không phải là nỗi hoài niệm về quá khứ trước thời đại kỹ thuật số, cũng không phải là sự nhiệt tình mù quáng đối với tương lai công nghệ, mà là lòng trung thành với sự Nhập Thể, với phẩm giá của con người, và với chân lý rằng trí tuệ tìm thấy ý nghĩa trọn vẹn nhất của nó không phải ở tốc độ hay quy mô, mà ở đức tin, hy vọng và tình yêu. Trong thời đại tư duy tự động hóa, nhiệm vụ của chúng ta không phải là suy nghĩ nhanh hơn máy móc, mà là sống một cuộc sống trọn vẹn và đầy đủ cảm xúc hơn chúng.
Giờ đây, khi trí tuệ nhân tạo ngày càng đảm nhiệm nhiều công việc hơn cho chúng ta, có lẽ chúng ta sẽ có được sự tự do lớn hơn cho những người, nhiệm vụ và trách nhiệm thực sự quan trọng. Tương lai không nhất thiết phải là một viễn cảnh đen tối hay một tương lai siêu việt đến chói lọi. Thay vào đó, nó nằm ở việc bảo đảm những điều quan trọng nhất vẫn vững chắc ở vị trí trung tâm: Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa của chúng ta, sự hiểu biết đúng đắn về bản thân chúng ta với tư cách là những tạo vật, và lời kêu gọi yêu thương người lân cận như chính mình.
Với nền tảng vững chắc này, trí tuệ nhân tạo không nên đẩy chúng ta vào sự cô lập hay xao nhãng hơn nữa, mà, khi được sử dụng đúng cách, nên giải phóng chúng ta để có được sự hiện diện sâu sắc hơn: nhiều thời gian hơn cho gia đình và bạn bè, cho việc phục vụ, cho cầu nguyện và cho kiểu quan tâm của con người mà không một cỗ máy nào có thể sao chép được.
Source:Catholic Herald
3. Vance và các nhà lập pháp bảo vệ chính sách phá thai của Tổng thống Trump tại cuộc tuần hành March for Life.
Phó Tổng thống JD Vance và các nhà lập pháp đảng Cộng hòa đã bảo vệ các chính sách liên quan đến phá thai của Tổng thống Trump tại cuộc tuần hành ủng hộ sự sống năm 2026 vào ngày 23 tháng Giêng.
“Các bạn có một đồng minh ở Tòa Bạch Ốc,” Vance nói trong bài phát biểu của mình.
Ông Vance là diễn giả chính trị đầu tiên tại cuộc tuần hành, tiếp theo là Chủ tịch Hạ viện Mike Johnson và Dân biểu Chris Smith, đảng Cộng hòa, bang New Jersey, người lãnh đạo lâu năm của nhóm Dân biểu ủng hộ quyền sống tại Hạ viện.
Tổng thống Trump và Lãnh đạo phe đa số Thượng viện John Thune đã gửi thông điệp đến những người biểu tình qua các video được ghi hình trước.
Trong bài phát biểu của mình, Vance nói: “Một trong những điều tôi mong muốn nhất ở Hoa Kỳ là có nhiều gia đình hơn và nhiều trẻ em hơn”, và ca ngợi thông báo gần đây rằng ông và vợ, Usha, đang chờ đón đứa con thứ tư.
“Vậy nên hãy để biên bản ghi nhận rằng các bạn có một phó tổng thống luôn làm đúng những gì mình nói,” Vance nói.
Phó tổng thống cho biết các bổ nhiệm thẩm phán Tòa án Tối cao của Tổng thống Trump đóng vai trò quan trọng trong việc lật ngược phán quyết Roe v. Wade, mà ông gọi là “phán quyết quan trọng nhất của Tòa án Tối cao trong suốt cuộc đời tôi”.
Ông nói rằng quyết định này “đã chấm dứt dứt khoát sự chuyên quyền của tòa án đối với vấn đề sinh mạng con người” và cho phép người dân giải quyết những tranh chấp này một cách dân chủ.
Vance đã nói về một số thắng lợi của phong trào bảo vệ sự sống trong năm đầu tiên nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Trump.
Điều này bao gồm luật ngăn chặn Planned Parenthood nhận khoản bồi hoàn từ chương trình Medicaid cũng như khôi phục và mở rộng Chính sách Thành phố Mexico, cấm sử dụng tiền thuế liên bang để hỗ trợ các tổ chức thúc đẩy phá thai ở nước ngoài.
Phó tổng thống cũng đề cập đến việc khôi phục các biện pháp bảo vệ lương tâm cho nhân viên y tế, mở rộng tín dụng thuế cho trẻ em và ân xá cho các nhà hoạt động ủng hộ quyền sống bị kết tội vi phạm Đạo luật Tự do Tiếp cận Lối vào Phòng khám, gọi tắt là FACE.
“Xây dựng một nền văn hóa sự sống đòi hỏi sự thuyết phục,” Vance nói.
“Nỗ lực đó sẽ tốn rất nhiều thời gian, công sức và cả tiền bạc,” ông nói.
Phó tổng thống đã đề cập ngắn gọn đến một số lời chỉ trích mà chính quyền nhận được từ các thành viên của phong trào bảo vệ sự sống, những người không hài lòng với một số diễn biến nhất định.
Một số nhà hoạt động ủng hộ phong trào bảo vệ sự sống đã bày tỏ lo ngại về việc thiếu hành động đối với thuốc phá thai mifepristone, hiện đang được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm, gọi tắt là FDA xem xét.
Một số người khác đã phản đối việc Tổng thống Trump kêu gọi các nhà lập pháp “linh hoạt” hơn về vấn đề phá thai được tài trợ bằng tiền thuế trong các cuộc đàm phán về việc gia hạn các khoản tín dụng thuế theo Đạo luật Chăm sóc Sức khỏe Hợp lý.
Vance yêu cầu mọi người hãy nhìn vào những thành công.
“ Hãy nhìn xem cuộc đấu tranh vì sự sống đã diễn ra như thế nào chỉ cách đây một thập niên và hãy nhìn xem nó đang ở vị trí nào hiện nay,” ông nói.
Trong thông điệp video của mình, Tổng thống Trump đã ca ngợi nhiều chính sách ủng hộ quyền sống tương tự như Vance và cảm ơn những người tham gia cuộc tuần hành vì những nỗ lực của họ trong việc “bảo vệ thai nhi”.
“Chúng ta sẽ tiếp tục đấu tranh cho chân lý vĩnh cửu rằng mỗi đứa trẻ là một món quà từ Chúa”, Tổng thống Trump nói.
Johnson cho biết một sự thay đổi trong chính sách của chính quyền Tổng thống Trump là thành công không chỉ được đo lường bằng nền kinh tế mà còn bằng “sức mạnh của gia đình Mỹ”.
Ông cũng nói về các hành động nhằm cấm Planned Parenthood nhận tiền hoàn trả từ chương trình Medicaid, và cho biết: “Cuối cùng chúng ta đã cắt giảm ngân sách cho các tổ chức phá thai lớn, và điều này đã được chờ đợi từ lâu.”
“Mỗi đứa trẻ đều xứng đáng có cơ hội phát huy hết tiềm năng mà Chúa ban cho,” Johnson nói.
Smith đã đề cập đến cuộc thăm dò dư luận gần đây của trường Marist do Hiệp sĩ Columbus ủy nhiệm, cho thấy hầu hết người Mỹ ủng hộ ít nhất một số hạn chế đối với việc phá thai và tán thành công việc của các trung tâm hỗ trợ phụ nữ mang thai.
Ông cũng kịch liệt phản đối thuốc phá thai hóa học mifepristone, gọi nó là “thuốc độc giết chết thai nhi bằng cách bỏ đói bé trai hoặc bé gái” và cho rằng nó gây nguy hiểm cho sức khỏe của phụ nữ.
“Hôm nay chúng ta phải tái khẳng định cam kết bảo vệ những người yếu thế và dễ bị tổn thương nhất”, Smith nói.
Trong một video nhắn gửi, Thune gọi phá thai là “một điều ác thường bị bỏ qua”.
Ông nói rằng đảng Cộng hòa “sẽ tiếp tục làm mọi điều có thể tại Quốc hội để hỗ trợ các bà mẹ và bảo vệ thai nhi”.
Sau các bài phát biểu của các nhà lập pháp, Chủ tịch March for Life, Jennie Bradley Lichter, đã kêu gọi những người tham gia liên hệ với Thượng Nghị Sĩ của họ trong bối cảnh các cuộc đàm phán liên quan đến chăm sóc sức khỏe vẫn đang diễn ra.
Lichter khuyến khích họ yêu cầu các Thượng Nghị Sĩ của mình phản đối bất kỳ dự luật chăm sóc sức khỏe nào loại trừ Tu chính án Hyde, vốn cấm sử dụng tiền thuế của người dân để tài trợ cho việc phá thai.
Source:National Catholic Register