Ngày 26-05-2026
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Chúa Tình Thương
Lm Vũđình Tường
00:30 26/05/2026
Mừng kính Lễ Chúa Ba Ngôi với tất cả lòng thành, với tâm tình biết ơn tình thương vô biên Chúa dành cho nhân loại. Thiên Chúa diễn tả tình thương đó bằng cách ban cho nhân loại người Con duy nhất là Đức Giêsu. Từ đó nhân loại biết đến Ngôi Hai Thiên Chúa. Ngài từ trời xuống thế làm phàm nhân nên thế giới từ chối đón nhận. Bị xua đuổi ngay từ giây phút đầu tiên. Vừa sinh ra, vua Hêrôđê đã ra lệnh lên án tử hình, ruồng bắt. Gần cuối đời quan tổng trấn Philatô tuyên bố ‘Người này vô tội’ Lc 23:16 nhưng vẫn ra lệnh đánh đập. Lần khác ông rửa tay tuyên bố ‘Ta vô tội trong việc đổ máu người này’Mt 27:24. Thế nhưng vẫn bị kết án tử hình. Cuộc đời rao giảng, Ngài trải qua đủ đắng cay, tủi nhục, thử thách. Người thân thương nghi ngờ, hàm xóm, láng giềng, không lợi dụng được nên khinh chê. Bao lần thoát nạn do kẻ chống đối gài bẫy bắt bẻ. Vì sao? Vì Đức Kitô là hiện thân của tình yêu chân chính và sự thật dẫn đến sự sống trường sinh. Khắc tinh của sự thật là lừa đảo, gian manh. Lãnh đạo Đền Thờ chất vấn giáo huấn Ngài. Họ âm thầm cấu kết với chính quyền sở tại làm khó dễ, cuối cùng bị bắt, tra tấn, trước khi kết án tử hình trên thập tự.

Nhờ Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người mà chúng ta biết tình thương Chúa bao la, vượt xa mọi mơ ước của nhân loại. Tình thương ấy sâu hơn đáy đại dương, rộng hơn samạc, cao hơn đỉnh núi. Thiên Chúa nhân từ, độ lượng, đến độ người ta nghi ngờ về tình thương đó bởi nó sâu thẳm vượt khỏi mọi ước đoán, suy luận hợp lí của khối óc. Đức Kitô không đến để lên án, luận phạt; nhưng cổ võ thứ tha, hòa giải. Kẻ chống đối Ngài lại kết án Ngài nhu nhược trước ngoại bang, ngạo mạn coi thường truyền thống tiền nhân. Thiên Chúa trao ban cho nhân loại người Con duy nhất chính là trao ban cho nhân loại tình yêu của chính Ngài.

Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy Gn 14:6

Đức Kitô là đường dẫn đến Chúa Cha. Con người không thể tự mình thấu hiểu tình yêu Thiên Chúa. Không thể hiểu nên chối bỏ, nói tình yêu đó không tồn tại. Đây chính là đầu hàng. Ngôn ngữ kẻ kiêu ngạo có chữ ‘không tồn tại’ mà không có chữ đầu hàng.

Đức Kitô là con đường duy nhất dẫn đến Chúa Cha. Ngoài con đường đó ra, không còn đường nào khác. Không may, thời gian Đức Kitô sống tại thế quá ngắn, ba năm giảng dậy cách công khai, sau đó về ngự bên hữu Chúa Cha. Ngoài dự liệu của tất cả, trước khi về cùng Chúa Cha, Đức Kitô trao lệnh truyền cho môn đệ

Anh em hãy đi giảng dậy muôn dân làm phép rửa cho họ nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần và dậy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền dậy anh em Mt 28:16tt.

Con đường thứ hai đến với Chúa Cha thênh thang, rộng mở. Đến với Chúa Cha qua môn đệ Đức Kitô. Con đường này bắt đầu khi Đức Kitô nói với Thomas

Anh thấy Thầy nên anh tin, phúc cho ai không thấy mà tin Gn 20:29

Ta không nhìn thấy Đức Kitô bằng xương, bằng thịt nhưng đến với Ngài qua môn đệ Đức Kitô và qua giáo huấn của Ngài được các vị tông đồ ghi lại làm chứng. Tình yêu Chúa còn ban cho nhân loại con đường thứ ba đó chính là Thánh Thần. Từ đây ta biết đến một Thiên Chúa Ba Ngôi: Ngôi Cha, Ngôi Con và Thánh Thần. Thánh Thần biến bánh rượu thường thành Mình- Máu Ddu71c Kitô. Thánh Thần khai sáng, chỉ bảo, dây dỗ, bảo vệ môn đệ Đức Kitô. Ba con đường nhưng chỉ có một lối đi duy nhất dẫn ta đến cùng Đức Kitô. Đến cùng Đức Kitô qua Lời Chúa do tông đồ ghi lại, bí tích thánh của Giáo Hội Chúa, môn đệ Chúa, vàThánh Thần. Dù chọn con đường nào cũng đều dẫn điểm chung đó là tin Đức Kitô là Con và là Thiên Chúa.

Xin Chúa ban thêm đức tin cho chúng con.
 
Ngày 27/05: Sống tốt lành nhưng bị thiệt – Thầy Phó Tế Phanxicô Xavie Cao Văn Trí, CP
Giáo Hội Năm Châu
02:13 26/05/2026

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.

Khi ấy, Đức Giê-su và các môn đệ đang trên đường lên Giê-ru-sa-lem, Người dẫn đầu các ông. Các ông kinh hoàng, còn những kẻ theo sau cũng sợ hãi. Người lại kéo riêng Nhóm Mười Hai ra, và bắt đầu nói với các ông về những điều sắp xảy đến cho mình : 33 “Này chúng ta lên Giê-ru-sa-lem, và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người, và sẽ nộp Người cho dân ngoại. 34 Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người, họ sẽ đánh đòn và giết chết Người. Ba ngày sau, Người sẽ sống lại.”

35 Hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an đến gần Đức Giê-su và nói : “Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây.” 36 Người hỏi : “Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì?” 37 Các ông thưa : “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang.” 38 Đức Giê-su bảo : “Các anh không biết các anh xin gì ! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?” 39 Các ông đáp : “Thưa được.” Đức Giê-su bảo : “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. 40 Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được.”

41 Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Gia-cô-bê và ông Gio-an. 42 Đức Giê-su gọi các ông lại và nói : “Anh em biết : những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. 43 Nhưng giữa anh em thì không được như vậy : ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em; 44 ai muốn làm đầu anh em, thì phải làm đầy tớ mọi người. 45 Vì Con Người đến, không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.”

Đó là Lời Chúa
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Thông Điệp Magnifica Humanitas Của Đức Giáo Hoàng Leo XIV Về Việc Bảo Vệ Con Người Trong Thời Đại Trí Tuệ Nhân Tạo, Chương bốn
Vũ Văn An
01:22 26/05/2026

CHƯƠNG BỐN: BẢO VỆ NHÂN LOẠI TRONG THỜI KỲ BIẾN ĐỔI. SỰ THẬT, VIỆC LÀM, TỰ DO

131. Sau khi đã phác thảo bối cảnh trong đó thách thức của sự biến đổi kỹ thuật đang diễn ra, đặc biệt là những thách thức liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI) và các trào lưu siêu nhân học và hậu nhân học, chúng ta không thể chỉ dừng lại ở bình diện phân tích tổng quát. Khi ngôn ngữ và công cụ thay đổi, các hành động hàng ngày và các mối quan hệ xã hội cũng thay đổi. Vì lý do này, chúng ta phải tập trung vào một số lĩnh vực mà những biến đổi này có những hậu quả đặc biệt cụ thể, và đôi khi là bi thảm. Dựa trên các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội của Giáo hội, sự biến đổi kỹ thuật số mời gọi chúng ta khám phá lại sự thật như một lợi ích chung, để bảo vệ phẩm giá của lao động và bảo vệ tự do chống lại mọi hình thức phụ thuộc và thương mại hóa.

Sự thật như một lợi ích chung

Sự thật và dân chủ


132. Việc sử dụng các nền tảng kỹ thuật số và hệ thống AI đang thúc đẩy những thay đổi sâu sắc trong truyền thông công cộng và chính trị. Các công cụ có thể thúc đẩy đối thoại và sự tham gia thường được sử dụng để xây dựng những câu chuyện bị bóp méo và làm mờ ranh giới giữa sự thật và sai lầm, trộn lẫn sự thật với ý kiến. Thông tin sai lệch không bắt nguồn từ trí tuệ nhân tạo (AI), nhưng ngày nay nó được khuếch đại mạnh mẽ bởi AI. Khả năng thao túng nội dung, hình ảnh và video khiến mọi người tiếp xúc với những quan điểm thiên vị hoặc gây hiểu lầm. Vấn đề này có cả khía cạnh văn hóa và đạo đức, vì chất lượng truyền thông công cộng phụ thuộc trực tiếp vào lòng tin xã hội và ngược lại, định hình lòng tin đó. Đồng thời, thông tin trung thực không xuất phát từ sự kiểm soát tập trung hoặc tự động. Trong diễn ngôn công cộng, sự thật của các sự kiện có một chiều hướng thuận lý, vì nó đòi hỏi sự xác minh, đối chất các nguồn và lập luận có trách nhiệm. Hơn nữa, nó mang tính quan hệ sâu sắc, được xây dựng thông qua các mối liên kết của lòng tin và các thực hành chung, cũng như sự trao đổi trung thực với người khác và với thế giới. Chỉ có việc cùng nhau theo đuổi tính xác thực của sự kiện, được coi là một lợi ích chung, mới có thể cung cấp một nền tảng vững chắc cho truyền thông chính trực.

133. Những người nắm giữ các nguồn lực kỹ thuật và kinh tế mạnh mẽ, cùng với nguồn nhân lực đáng kể để can thiệp, sở hữu khả năng đáng kể trong việc ảnh hưởng đến sự thay đổi văn hóa. Cuối cùng, họ có thể ảnh hưởng đến một số lượng đáng kể người dân về sự thật về nhân loại, thế giới, ý nghĩa của sự hiện hữu, gia đình và thậm chí cả Chúa. Đây là quyền lực thuần túy tách rời khỏi sự thật, thứ ngầm hoặc công khai áp đặt những gì nó muốn người khác chấp nhận là đúng. Cội rễ của nó nằm ở một “căn bệnh” sâu xa hơn và thường không được nhận ra: sư kiện này là “con người hiện đại tin tưởng một cách sai lầm rằng họ là tác giả duy nhất của chính mình, cuộc sống và xã hội của mình. Đây là một giả định xuất phát từ việc ích kỷ khép kín với chính mình.” [140] Do đó, mọi người tin rằng họ có thể xây dựng thực tại, và bất cứ điều gì phù hợp nhất với yêu sách của họ đều tương ứng với những gì là sự thật. Thánh Gioan Phaolô II đã suy gẫm về hậu quả của “cuộc khủng hoảng chân lý” này, thậm chí còn tuyên bố rằng “một khi ý niệm về một chân lý phổ quát về điều thiện, có thể nhận biết được bằng lý trí con người, bị mất đi, thì chắc chắn khái niệm về lương tâm cũng thay đổi.” [141] Trong bối cảnh như vậy, những chân lý có giá trị phổ quát, những chân lý hiện hữu trước chúng ta và lương tâm phải chấp nhận, không còn được công nhận nữa. Điều này đã khiến Đức Giáo Hoàng Phanxicô đặt câu hỏi một cách thực tế: “Luật pháp là gì nếu không có niềm tin, được phát sinh từ việc suy gẫm lâu đời và khôn ngoan vĩ đại, cho rằng mỗi con người đều thánh thiêng và bất khả xâm phạm?” Ngài kết luận: “Nếu xã hội muốn có tương lai, nó phải tôn trọng sự thật về phẩm giá con người và tuân theo sự thật đó. Giết người không phải là sai chỉ vì nó không thể chấp nhận được về mặt xã hội và bị pháp luật trừng phạt, mà là vì một niềm tin sâu sắc hơn. Đây là một sự thật không thể thương lượng đạt được bằng cách sử dụng lý trí và được chấp nhận trong lương tâm. Một xã hội cao quý và tử tế, thường là vì nó ủng hộ việc theo đuổi sự thật và tuân thủ những sự thật cơ bản nhất.” [142]

134. Việc tìm kiếm sự thật là một yếu tố thiết yếu của nền dân chủ, bản thân nó là một phương tiện đóng góp cho lợi ích chung. Khi những câu hỏi về điều gì là đúng mất đi sức hấp dẫn, và chủ nghĩa thực dụng chiếm ưu thế, bằng lòng với những gì có vẻ hữu ích hoặc hữu hiệu, thì đời sống dân chủ bị suy yếu. Xét cho cùng, dân chủ không chỉ bao gồm các quy tắc và thủ tục, mà trên hết là sự phù hợp vững chắc với sự kiện và cam kết chân thành vì lợi ích của cá nhân và toàn xã hội. Sự thờ ơ với sự thật dẫn đến, một cách chậm chạp nhưng chắc chắn, sự suy thoái thành chủ nghĩa toàn trị. Như triết gia Hannah Arendt đã viết, những đối tượng lý tưởng của các chế độ như vậy không phải là những người bị thuyết phục về mặt tư tưởng, mà là “những người mà sự phân biệt giữa sự thật và hư cấu (tức là thực tế của kinh nghiệm) và sự phân biệt giữa đúng và sai (tức là các tiêu chuẩn tư duy) không còn tồn tại nữa.” [143]

Truyền thông và trí tưởng tượng tập thể

135. Xét về điều này, điều quan trọng cần nhớ là truyền thông “không chỉ là việc truyền tải thông tin mà còn là việc tạo ra một nền văn hóa.” [144] Nội dung lưu hành trong môi trường kỹ thuật số định hình cách mọi người nhận thức thế giới và đưa vào ý thức tập thể những hình ảnh và câu chuyện định hướng mong muốn của chúng ta và ảnh hưởng đến các lựa chọn hàng ngày của chúng ta. Đây “không phải là một thế giới song song hay hoàn toàn ảo,” [145] vì những gì bắt nguồn từ trực tuyến giờ đây trở thành một phần cuộc sống của mọi người, đặc biệt là giới trẻ.

136. Vì lý do này, những người kiểm soát các nền tảng kỹ thuật số và phương tiện truyền thông có khả năng đáng kể trong việc ảnh hưởng đến trí tưởng tượng tập thể và trình bày một tầm nhìn cụ thể về thực tại như là điều đáng mong muốn. Quyền lực như vậy cần được liên tục hướng dẫn bởi việc theo đuổi sự thật và tôn trọng phẩm giá con người, để văn hóa được nuôi dưỡng trên internet không trở thành một công cụ gây xao nhãng quá mức, đồng nhất hóa hoặc thống trị, mà là một môi trường trong đó tự do nội tâm và tư duy phản biện có thể trưởng thành.

Hướng tới một hệ sinh thái truyền thông

137. Nhiệm vụ đầu tiên của chúng ta không phải là ma quỷ hóa hay thần tượng hóa các công cụ kỹ thuật, mà là sử dụng chúng trên cơ sở một nguyên tắc cơ bản, tức là, sự thật là một lợi ích chung chứ không phải là tài sản của những người có quyền lực hoặc ảnh hưởng. Do đó, chúng ta phải thúc đẩy một hệ sinh thái truyền thông. Ở bình diện chính sách công, điều này bao gồm việc thiết lập các chuẩn mực để quá trình ra quyết định đằng sau việc lựa chọn và phát triển nội dung trở nên minh bạch hơn và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Về các khía cạnh xã hội và văn hóa, điều này đòi hỏi phải tăng cường các tổ chức trung gian, báo chí nghiêm túc và các diễn đàn tranh luận, nơi mà lập luận có lý lẽ và sự xác minh được coi trọng hơn phản ứng tức thời. Đối với gia đình và trường học, ngày càng cần có nhận thức giáo dục mới và đào tạo về việc sử dụng đúng đắn và có tư duy phản biện các công cụ kỹ thuật số, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng thương mại và tài chính trực tuyến. Tại các trường đại học, thách thức chính nằm ở việc tích hợp kiến thức, trau dồi cả khả năng kết nối và tổng hợp kiến thức để nắm bắt sự phức tạp, và các kỹ năng cần thiết để xác minh sự thật.

138. Các cộng đồng Kitô giáo cũng được kêu gọi cam kết minh bạch trong truyền thông và theo đuổi sự thật một cách trung thực. Đáng buồn thay, điều này không phải lúc nào cũng diễn ra. Chúng ta đã chứng kiến với sự hổ thẹn sự xuất hiện của những sự thật đau lòng liên quan đến ngay cả các thành viên của Giáo hội và các thực tế giáo hội. Đặc biệt, một số nhà báo, được thúc đẩy bởi niềm đam mê sự thật, đã đóng một vai trò quan trọng trong việc đưa những bất công và lạm dụng ra ánh sáng. Tôi muốn nhắc lại những lời mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói với các nhà báo: “Tôi cũng cảm ơn các bạn vì những gì các bạn nói với chúng tôi về những điều sai trái trong Giáo hội, vì đã giúp chúng tôi không che giấu chúng, và vì tiếng nói mà các bạn đã dành cho các nạn nhân bị lạm dụng.” [146] Tuy nhiên, sự cảnh giác và minh bạch vẫn là trách nhiệm nặng nề hàng đầu của chính Giáo hội, và chúng ta không được chờ đợi người khác buộc chúng ta phải đối diện với những sự thật khó chịu về chính mình.

Một liên minh giáo dục cho thời đại kỹ thuật số

139. Trong thời đại mà sự thật thường bị bóp méo để phục vụ các lợi ích và chiến lược truyền thông cụ thể, lĩnh vực giáo dục có tầm quan trọng quyết định. Tuy nhiên, những chuyển đổi kỹ thuật nhanh chóng cho thấy chúng ta chưa chuẩn bị tốt như thế nào ở bình diện giáo dục. Sự phổ biến của phương tiện truyền thông kỹ thuật số thúc đẩy một nền văn hóa tức thời và kích thích quá mức, dẫn đến sự mệt mỏi, buồn chán và thờ ơ đối với nỗ lực cần thiết để tìm kiếm sự thật.

140. Ngược lại, giáo dục là một hành trình dài đòi hỏi sự kiên nhẫn, và do đó cần thời gian để phát triển và gắn kết với thực tại vượt ra ngoài vẻ bề ngoài. Đây là một vấn đề cơ bản bởi vì mọi kỹ thuật đều định hình những người sử dụng nó. Việc giáo dục mọi người về việc sử dụng AI, do đó, bao gồm việc dạy họ quyết định khi nào và với mục đích gì thì không nên sử dụng nó. Tốc độ và sự dễ dàng mà câu trả lời hoặc tóm tắt có thể được cung cấp có nguy cơ làm mất đi mong muốn đặt câu hỏi, một quá trình chỉ mang lại kết quả theo thời gian. Như Pla-tông đã viết, những điều sâu sắc và quan trọng nhất chỉ được học sau nhiều thời gian và nỗ lực, bằng cách tham gia thảo luận với người khác, cùng nhau “khám phá” các ý tưởng và kinh nghiệm như đá lửa cho đến khi tia lửa hiểu biết được nhen nhóm trong chúng ta. [147] Do đó, chúng ta phải học cách kiềm chế việc sử dụng AI và bảo vệ những người trẻ tuổi của chúng ta khỏi lời hứa về cỗ máy hoàn hảo, khỏi sự cám dỗ tinh tế khiến tư duy của con người dường như trở nên thừa thãi chính khi nó cần thiết nhất.

141. Trong những năm gần đây, các tài liệu tâm lý và tâm thần học đã ghi nhận với sự nhấn mạnh ngày càng tăng về việc tiếp xúc sớm và không được giám sát với các thiết bị kỹ thuật số và mạng xã hội có thể ảnh hưởng tiêu cực đến giấc ngủ, khả năng tập trung, kiểm soát cảm xúc và các mối quan hệ, đặc biệt là trong những giai đoạn dễ bị tổn thương nhất của cuộc đời, đôi khi với những hậu quả bi thảm. Tình trạng này càng trở nên trầm trọng hơn do dễ dàng tiếp cận với nội dung bạo lực hoặc hạ thấp nhân phẩm, xúc phạm đến cảm xúc, cũng như các tài liệu khiêu dâm và mang tính tình dục hóa quá mức. Từ những thông điệp coi thường thân thể và cảm xúc, đến những đề xuất bình thường hóa hành vi nguy hiểm. Các hiện tượng trực tuyến như dụ dỗ, tống tiền và bóc lột tình dục trẻ vị thành niên không phải là hiếm, và càng trở nên nguy hiểm hơn do việc sử dụng các hồ sơ giả mạo, thuật toán tạo điều kiện cho việc liên lạc nguy hiểm, và các công cụ AI có khả năng thao túng hình ảnh và video. Việc sở hữu thiết bị di động cá nhân quá sớm và sử dụng chúng mà không có sự giám sát của người lớn có thể làm trầm trọng thêm sự dễ bị tổn thương của thanh thiếu niên, thúc đẩy chứng nghiện và khiến họ bị cô lập, bắt nạt và bắt nạt trên mạng, cũng như chịu áp lực phải chia sẻ hình ảnh riêng tư hoặc thông tin nhạy cảm.

142. Cha mẹ khó có thể tự mình chống lại ảnh hưởng của các mô hình kinh doanh kiếm tiền từ sự chú ý và thời gian. Do đó, điều cần thiết là phải hình thành một liên minh giữa các nhà hoạch định chính sách, các tổ chức giáo dục và gia đình để có thể hỗ trợ cụ thể cho người lớn trong nhiệm vụ này. Cần có các chính sách công có tầm nhìn xa để chống lại lợi ích trước mắt của các nền tảng, tập trung trong tay một số ít người, khi chúng xung đột với hạnh phúc của trẻ vị thành niên. Về vấn đề này, sự can thiệp của các nhà lập pháp là phù hợp để đặt ra giới hạn độ tuổi, buộc các nhà cung cấp dịch vụ phải chịu trách nhiệm thay vì chuyển toàn bộ gánh nặng kiểm soát sang các gia đình, và để cung cấp các biện pháp bảo vệ cụ thể chống lại mọi hình thức bóc lột và bạo lực tình dục trực tuyến. Như vậy, trẻ em và thanh thiếu niên, những người được giao phó cho sự chăm sóc của chúng ta, có thể được bảo vệ một cách thực sự như một kho báu quý giá. [148] Đồng thời, cũng cần phải dạy trẻ em, thanh thiếu niên và người trẻ tuổi cách nhận biết sự thao túng, bảo vệ phẩm giá của mình và tôn trọng phẩm giá của người khác trong môi trường kỹ thuật số. [149]

Vai trò trung tâm của trường học

143. Trường học là nơi mà các thế hệ mới có thể học cách tìm kiếm và yêu mến sự thật, suy gẫm về ý nghĩa của cuộc sống và nhận ra phẩm giá của mỗi người. Vì lý do này, nhiều bậc cha mẹ, những người muốn con cái mình phát triển khả năng hình thành các mối quan hệ, phát triển kỹ năng tư duy phản biện và nắm bắt các giá trị vững chắc, đặt kỳ vọng lớn vào trường học như những đối tác quý giá trong giáo dục con cái họ. Tuy nhiên, cha mẹ có quyền chính yếu và bất khả xâm phạm trong việc lựa chọn loại hình giáo dục và hình thành nhân cách cho con cái mình, theo cách phù hợp với niềm tin đạo đức, văn hóa và tôn giáo của họ. Ngày nay, thế giới giáo dục đang đối diện với một số thách thức cấp bách.

144. Thách thức đầu tiên là về chính trị - xã hội. Cả trong từng quốc gia và trên khắp các khu vực khác nhau trên thế giới, sự bất bình đẳng đáng kể vẫn tồn tại liên quan đến việc tiếp cận giáo dục cơ bản và giáo dục đại học. Ở nhiều quốc gia, Chính phủ vẫn chưa đầu tư các nguồn lực cần thiết để đảm bảo chất lượng giáo dục cho tất cả mọi người, dù bằng cách hỗ trợ đầy đủ hệ thống trường công lập hay bằng cách hỗ trợ các cơ sở tư nhân cung cấp dịch vụ thiết yếu này. Khi một phần đáng kể của giáo dục, ở các bình diện khác nhau, được giao cho các cơ sở tư nhân, việc tiếp cận giáo dục có thể trở nên quá phụ thuộc vào khả năng tài chính của gia đình, đặc biệt là khi thiếu sự hỗ trợ đầy đủ từ phía nhà nước. Trước nguy cơ này, điều quan trọng là phải ghi nhận và khuyến khích sự đóng góp của nhiều cơ sở giáo dục Công Giáo tư nhân, những nơi đảm bảo quyền tiếp cận toàn diện cho trẻ em và thanh thiếu niên thuộc mọi hoàn cảnh, ngay cả khi hoàn cảnh kinh tế của gia đình không cho phép điều đó.

145. Thách thức lớn thứ hai là về phương pháp sư phạm. Nhiều hệ thống giáo dục đang phải vật lộn để theo kịp sự thay đổi và hỗ trợ sự phát triển toàn diện của học sinh. Sự phát triển của kỹ thuật thông tin và trí tuệ nhân tạo đang nhanh chóng làm cho các chương trình giảng dạy được thiết kế cho một thời đại khác trở nên lỗi thời. Trong khi đó, việc tổ chức trường học, không gian vật lý, phương pháp đánh giá và vai trò của chính giáo viên cần được xem xét lại để thúc đẩy một nền giáo dục toàn diện thực sự, đáp ứng mọi khía cạnh của con người. Cần phải hỗ trợ việc bồi dưỡng liên tục cho giáo viên trong suốt cuộc đời nghề nghiệp của họ, để họ có thể tích cực tiếp cận với các kỹ thuật mới, giúp học sinh sử dụng chúng một cách có trách nhiệm, phê phán và sáng tạo, thay vì thụ động chịu ảnh hưởng của chúng.

146. Thách thức lớn thứ ba là về mặt trí tuệ và liên quan đến kiến thức. Nếu không chú trọng cẩn thận, một hệ thống giáo dục thiếu tình yêu đối với chân lý có thể xuất hiện, trong đó luồng thông tin không ngừng thay thế cho việc thực hành nghiên cứu, suy gẫm và biện phân cần thiết. Khi kiến thức ngày càng bị phân mảnh, việc nắm bắt thực tại một cách toàn diện, đặt ra những câu hỏi sâu sắc về ý nghĩa, hoặc phát triển tư duy đích thực, phê phán và sáng tạo trở nên khó khăn. Nhiều nhà giáo dục đã báo cáo về những dấu hiệu của sự phi nhân hóa, nơi mọi người có thể "biết nhiều thứ" nhưng lại khó tìm được định hướng trong cuộc sống, một phần do không thể kết nối thông tin với kiến thức sâu sắc hơn hoặc duy trì ý thức về mục đích. Cần có một thái độ thực sự lành mạnh, đòi hỏi những nhịp điệu biết kết hợp sự tĩnh lặng, nghiên cứu sâu sắc, đọc sách và phân tích thận trọng, bởi vì nếu thiếu những yếu tố này, sự tự do nội tâm có thể bị tổn hại.

147. Học thuyết Xã hội của Giáo hội mời gọi các gia đình, trường học, cộng đồng Kitô giáo và các tổ chức công cộng hình thành một liên minh giáo dục mới. Điều này được hình thành khi các nguyên tắc cơ bản được chuyển thành các mục tiêu giáo dục, bao gồm việc dạy cho học sinh ý thức về sự tiết chế và giới hạn; sự công nhận quyền của người khác và của các thế hệ tương lai được hưởng những điều tốt đẹp được ban cho chúng ta hoặc được tạo ra bởi sự khéo léo của con người; tự do và trách nhiệm; và ý thức về sự siêu việt và lợi ích chung. Các trường học không được kêu gọi chạy theo nhịp độ của thế giới kỹ thuật số, mà là cung cấp những gì mà chính lĩnh vực kỹ thuật số không thể cung cấp, đó là thời gian chung để học tập và phát triển các mối quan hệ đáng tin cậy.

Phẩm giá của lao động trong thời đại chuyển giao kỹ thuật số

Giá trị của việc làm


148. Kể từ khi Học thuyết Xã hội của mình ra đời, bắt đầu với Rerum Novarum, Giáo hội đã nhấn mạnh việc bảo vệ người lao động và nhu cầu chống lại mọi hình thức bóc lột. Tuy nhiên, trên hết, Huấn quyền đã nhận ra trong việc làm “chìa khóa thiết yếu” [150] để hiểu toàn bộ vấn đề xã hội, bởi vì chính thông qua việc làm mà các cá nhân phát triển nhiều khía cạnh của sự hiện hữu của họ. Xét về điều này, chúng ta có thể hiểu được trực giác tuyệt vời của Thánh Bê-nê-đic-tô xứ Nursia, người đã kết hợp cầu nguyện và lao động, cho thấy hoạt động hàng ngày là một phần trong lời đáp trả nhân bản đối với lời kêu gọi của Chúa. Được tạo dựng theo hình ảnh của Đấng Tạo Hóa, việc làm của chúng ta, một cách nào đó, tiếp nối việc làm của Người, bởi vì nhờ đó chúng ta đóng góp vào sự tiến bộ của xã hội và lợi ích chung, sử dụng tốt những khả năng mà chúng ta đã nhận được, cải thiện và làm đẹp thế giới, hỗ trợ gia đình, tham gia vào các mối quan hệ hợp tác và, thông qua lắng nghe và đối thoại, học cách cùng nhau xây dựng điều gì đó mà không ai có thể đạt được một mình.

149. Vì những lý do này, việc làm không chỉ đơn thuần là một công cụ; nó phát biểu và nâng cao phẩm giá cuộc sống của chúng ta. Nó là một yêu cầu của thân phận con người, một con đường bình thường hướng tới sự trưởng thành, phát triển và sự hoàn thiện cá nhân. Về vấn đề này, hỗ trợ tài chính cho người nghèo đôi khi có thể cần thiết trong trường hợp khẩn cấp, nhưng nó không thể trở thành giải pháp duy nhất, vì mục tiêu là giúp mỗi người sống có phẩm giá thông qua việc làm của chính họ. [151]

150. Ngày nay, sự hội tụ của tự động hóa, robot và trí tuệ nhân tạo đang nhanh chóng biến đổi cấu trúc việc làm. Người ta nói rằng điều này sẽ mang lại những cải tiến lớn cho tất cả mọi người. Tuy nhiên, trên thực tế, “những cách thức mới” làm việc không nhất thiết tốt hơn, bởi vì “trong khi trí tuệ nhân tạo hứa hẹn sẽ thúc đẩy năng suất bằng cách đảm nhận các nhiệm vụ đơn điệu, nó thường buộc người lao động phải thích nghi với tốc độ và yêu cầu của máy móc, thay vì máy móc được thiết kế để hỗ trợ những người làm việc. Kết quả là, trái ngược với những lợi ích được quảng cáo của trí tuệ nhân tạo, các phương pháp tiếp cận kỹ thuật hiện tại có thể nghịch lý là làm giảm kỹ năng của người lao động, khiến họ bị giám sát tự động và bị đẩy vào các nhiệm vụ cứng ngắc và lặp đi lặp lại. Nhu cầu theo kịp tốc độ của kỹ thuật có thể làm xói mòn ý thức tự chủ của người lao động và kìm hãm khả năng sáng tạo mà họ được kỳ vọng mang lại cho công việc của mình.” [152] Chính là để tránh sự lệch hướng này, cần phải thiết kế các hệ thống lấy con người làm trung tâm chứ không chỉ tập trung vào hiệu suất.

Vấn đề thất nghiệp

151. Thánh Gioan Phaolô II nhận thấy rằng thất nghiệp là một tệ nạn nghiêm trọng. Thật vậy, khi nó đạt đến quy mô lớn, nó trở thành một thảm họa xã hội thực sự, đặc biệt đòi hỏi Nhà nước phải chịu trách nhiệm. [153] Ngày nay, giữa “cuộc cách mạng kỹ nghệ lần thứ tư”, mối lo ngại này thậm chí còn gay gắt hơn, vì sự đổi mới thường chỉ được theo đuổi để giảm chi phí và tăng lợi nhuận. [154] Trong một số bối cảnh, có một nỗi sợ hãi chính đáng về sự thu hẹp đáng kể và nhanh chóng về số lượng việc làm sẵn có, điều này sẽ tạo ra một phản ứng dây chuyền ảnh hưởng sâu sắc đến các gia đình, thanh niên và nền kinh tế địa phương. Trong nhiều lĩnh vực, điều này đã có thể được nhìn thấy trong các hình thức mới của sự bất an và bất bình đẳng về việc làm, đặc trưng bởi mức lương quá cao cho một thiểu số chuyên môn cao cùng với mức lương giảm đối với phần lớn lực lượng lao động.

152. Chắc chắn là điều đáng mong muốn khi kỹ thuật giúp con người giải phóng khỏi những công việc nặng nhọc, lặp đi lặp lại hoặc nguy hiểm và cung cấp sự hỗ trợ thông minh cho hoạt động của con người. Tuy nhiên, việc bảo vệ cơ hội việc làm và vai trò không thể thay thế của cá nhân phải luôn là nguyên tắc chung. Việc theo đuổi lợi nhuận cao hơn không thể biện minh cho những lựa chọn hy sinh việc làm một cách có hệ thống, bởi vì con người là mục đích chứ không phải phương tiện, và trật tự kinh tế phải luôn phụ thuộc vào phẩm giá con người và lợi ích chung.

153. Đồng thời, chúng ta phải thừa nhận rằng mọi sự biến đổi thực sự đều bao gồm những gián đoạn, bởi vì nó không đồng đều, rời rạc và đôi khi xung đột. Do đó, không tồn tại một mô hình thay đổi duy nhất hoặc giải pháp phổ quát nào, vì có những nơi và tình huống đòi hỏi những phản ứng khác nhau. Xét đến sự bất bình đẳng đang đặc trưng cho thế giới của chúng ta, sự lan rộng của trí tuệ nhân tạo và các hệ thống tính toán tạo ra những tác động khác nhau ở các nơi khác nhau. Các xã hội giàu có tự động hóa nhanh chóng và hỗn loạn, làm giảm nhu cầu về lực lượng lao động và tạo ra khoảng trống cho thất nghiệp và mài xát định chế. Ngược lại, các vùng rộng lớn trên thế giới vẫn bị mắc kẹt trong nền kinh tế lai, nơi lao động của con người được trả lương thấp và kỹ thuật chưa hoàn thiện cùng tồn tại mà không đạt được sự biến đổi thực sự. Những khu vực này trở thành nơi có lao động bấp bênh, và là điểm nóng của sự bất ổn và di cư cưỡng bức. Do đó, cần phải tìm kiếm các giải pháp ở bình diện quốc gia và địa phương thông qua sự tham gia của các cộng đồng trung gian. Chúng ta cần các công cụ thích ứng, bao gồm các mô hình được cấu trúc tốt, các sáng kiến địa phương, phân phối lại tiến bộ và các quyền mới về tiếp cận hàng hóa thiết yếu. Trong khi không theo đuổi sự hài hòa trừu tượng, chúng ta phải xây dựng các hình thức cụ thể về sự cùng tồn tại của con người trong thời điểm biến đổi này.

154. Việc làm vẫn là một khía cạnh cơ bản của trải nghiệm con người, bởi vì nó không chỉ là phương tiện sinh kế mà còn là bối cảnh cho sự phát biểu, các mối quan hệ và đóng góp cho cộng đồng. Do đó, các vấn đề liên quan đến công việc vượt ra ngoài thu nhập cần thiết cho sự sống còn của gia đình. Một xã hội chỉ đảm bảo việc làm cho một phần nhỏ dân số, bất chấp trình độ phát triển kỹ thuật cao, có nguy cơ khiến nhiều người bị buộc phải thất nghiệp, thiếu trách nhiệm và thiếu các nhiệm vụ và động lực hàng ngày, dẫn đến sự nghèo nàn về con người và văn hóa. Điều này tạo ra một nghịch lý về tiến bộ vật chất và thoái hóa nhân học, làm suy yếu nền tảng của một nền hòa bình xã hội công bằng và ổn định. Vì lý do này, Học thuyết Xã hội của Giáo hội nhấn mạnh rằng việc tiếp cận việc làm cho tất cả mọi người phải là ưu tiên hàng đầu trong các chính sách công và các quá trình kinh tế, đóng vai trò là tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng con người của bất cứ mô hình phát triển nào. [155] Hơn nữa, ở những nơi trên thế giới trong đó công việc có xu hướng giảm hoặc thay đổi mạnh mẽ do các quá trình kỹ thuật và tổ chức nằm ngoài tầm kiểm soát dân chủ, chúng ta phải suy nghĩ lại về bản chất của việc làm và mối liên hệ của nó với quyền công dân, đảm bảo rằng tình trạng thất nghiệp không gây nguy hiểm cho sự tham gia xã hội.

155. Dựa trên niềm tin này, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về lịch sử của Học thuyết Xã hội của Giáo hội sau Rerum Novarum. Các sáng kiến xuất phát từ truyền thống đó, bao gồm các hiệp hội, công đoàn, hợp tác xã và các tổ chức phúc lợi, đã góp phần quyết định vào việc cải thiện luật lao động, bảo vệ những người dễ bị tổn thương nhất và cổ vũ các điều kiện nhân đạo hơn. [156] Tuy nhiên, ngày nay, những công cụ này tự chúng không còn đủ để đối diện với những biến đổi do AI, tổ chức thị trường mới và tính cạnh tranh hiếm khi quan tâm đến tính bền vững xã hội thúc đẩy. Cần có những nỗ lực hợp tác mới giữa các nhà lãnh đạo chính trị, các tổ chức lao động, giới kinh doanh và cộng đồng khoa học để nhanh chóng phát triển các quy định và biện pháp bảo vệ chung phù hợp, kể cả ở bình diện quốc tế. [157] Các công đoàn, mà Giáo hội luôn ủng hộ, được kêu gọi phải cởi mở với các loại hình việc làm mới và nhu cầu tương ứng của người lao động, để đại diện và bảo vệ họ. Trong bối cảnh này, nếu không có những quyết định táo bạo, viễn cảnh nghèo đói và bất bình đẳng lớn hơn sẽ hiện ra rõ ràng, điều này sẽ khiến nhiều cá nhân bị gạt ra ngoài lề, bị bỏ rơi và bị bao vây bởi máy móc và hệ thống tự động đã thay thế họ.

156. Vào thời điểm biến đổi này, chỉ phản ứng khi việc làm biến mất là chưa đủ; chúng ta phải giám sát quá trình biến đổi từ trước. Một hướng đi khả hữu là, trước hết, thiết lập các tiêu chuẩn xã hội cho việc đổi mới. Ở đây, mỗi lần ứng dụng tự động hóa và trí tuệ nhân tạo cần đi kèm với các biện pháp có thể kiểm chứng để bảo vệ việc làm, đào tạo lại và sự tham gia của người lao động. Bằng cách này, kỹ thuật sẽ hướng đến việc giải phóng thời gian và khả năng của con người, thay vì tạo ra sự loại trừ. Thứ hai, chúng ta cần các chính sách chủ động giúp cho việc đào tạo liên tục và chuyển đổi nghề nghiệp trở nên dễ tiếp cận với tất cả mọi người, đảm bảo rằng chi phí thích ứng không chỉ đổ dồn lên cá nhân. Cuối cùng, cần có cam kết của doanh nghiệp trong việc đưa chất lượng và phẩm giá công việc vào trong số các chỉ số thành công của mình. Khi những điều kiện này hiện diện, đổi mới có thể đóng vai trò là đồng minh của công việc an toàn hơn, sáng tạo hơn và có phẩm giá hơn; nếu không có chúng, đổi mới có xu hướng trở thành chất xúc tác cho sự bất công.

Một nền kinh tế coi trọng phẩm giá

157. Thị trường lao động là một lĩnh vực mà những rủi ro liên quan đến kỹ thuật mới thể hiện rõ ràng hơn. Do đó, cần nhớ rằng tự do kinh tế không phải là tuyệt đối; nó luôn phải được đo lường dựa trên lợi ích chung và phẩm giá của mỗi người. Tinh thần khởi nghiệp thực sự có thể là một sứ mệnh đích thực, tạo ra của cải và cải thiện cuộc sống, chứ không chỉ là một yếu tố phụ thuộc vào lợi nhuận. Điều này có thể xảy ra khi nó nhận ra rằng việc tạo ra những công việc có phẩm giá và giá trị là một phần thiết yếu của việc phục vụ xã hội một cách đúng đắn. [158]

158. Với tinh thần tiên tri, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã cảnh báo chống lại một nền tự do kinh tế chỉ được tuyên bố bằng lời nói, trong khi điều kiện thực tế ngăn cản nhiều người hưởng lợi từ nó. [159] Các mô hình kinh tế đề cao hiệu năng và thành công cá nhân thường coi việc đầu tư vào những người thiệt thòi hoặc những người có con đường phát triển chậm hơn là vô ích hoặc bất tiện, như thể tương lai của họ chỉ phụ thuộc vào khả năng theo kịp “người chiến thắng”. Trên thực tế, một xã hội công bằng đòi hỏi một Nhà nước cảnh giác và các định chế dân sự có khả năng vượt qua não trạng đơn nhất về hiệu năng, và đảm bảo rằng các nguồn lực, giải pháp sáng tạo và quy định ưu tiên những người dễ bị tổn thương nhất. [160] Thay vì chờ đợi lợi ích của tăng trưởng “cuối cùng” đến với người nghèo, cần phải đưa ra các quyết định để đảm bảo rằng tăng trưởng trở nên toàn diện ngay từ đầu. Kinh nghiệm của những thập niên gần đây cho thấy rằng trong các cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính, người nghèo luôn là người phải trả giá cao nhất, trong khi các lý thuyết hứa hẹn sự thịnh vượng chung tự động thường tỏ ra là ảo tưởng.

159. Điều quan trọng là phải vượt ra khỏi các thước đo phát triển hiện tại — vốn đã gắn liền với khái niệm Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong hơn tám mươi năm qua — vì những thước đo này hầu như bỏ qua một cách có hệ thống các khía cạnh thiết yếu đối với phúc lợi tổng thể của con người và môi trường. Việc phát triển các tham số và thước đo bổ sung cho GDP là rất quan trọng để cải thiện cơ sở dữ liệu được sử dụng để tiến hành phân tích, ra quyết định chính trị và kinh tế cũng như thiết lập các ưu tiên khu vực, quốc gia và quốc tế. Việc đưa ra các tham số mới sẽ cho phép đánh giá toàn diện và kịp thời về tác động của các quyết định lập pháp và quy định đối với phẩm giá lao động, sự thịnh vượng chung, giảm bất bình đẳng và bảo vệ môi trường. Nó cũng sẽ ảnh hưởng đến khái niệm phát triển, các quá trình giáo dục, tư duy và dư luận, cũng như hòa bình, vốn chỉ thực sự tồn tại khi dựa trên công lý.

160. Trong những năm gần đây, lĩnh vực tài chính đã gia tăng tầm quan trọng và trải qua những đổi mới đáng kể, một phần do sự ra đời của tiền điện tử. Những suy gẫm và quan sát chứa đựng trong giáo huấn của các vị tiền nhiệm của tôi, đặc biệt là trong các Thông điệp của họ, đã nhấn mạnh cách thức mà lĩnh vực trung gian tài chính, “khi hoạt động mà không có nền tảng nhân học và đạo đức cần thiết, không chỉ tạo ra những lạm dụng và bất công rõ ràng mà còn thể hiện khả năng tạo ra khủng hoảng kinh tế mang tính hệ thống và toàn cầu.” [161] Tương tự như vậy, thu nhập từ vốn có nguy cơ thay thế thu nhập từ lao động, vốn thường bị giới hạn ở rìa của các lợi ích chính của hệ thống kinh tế. Tuy nhiên, tiết kiệm được chuyển đổi thành tín dụng cho nền kinh tế thực, từ đó tạo ra cả việc làm và việc làm tự do, vẫn là trung tâm cho sự phát triển và các khoản đầu tư phải đi kèm với các quá trình chuyển đổi đang diễn ra. Chức năng xã hội của tín dụng vẫn không thể thay thế. Tài chính vì mục đích riêng của nó về cơ bản khác với tài chính nhằm mục đích phát triển, tạo ra và tiến hóa của công việc.

161. Quan điểm này cần trở thành một phần của cái nhìn rộng hơn về động lực toàn cầu. Trong khi của cải thế giới đã tăng lên về mặt tuyệt đối, nó ngày càng tập trung vào tay một số ít người, làm gia tăng bất bình đẳng cả trong và giữa các quốc gia. “Có một số ít người có quá nhiều, và quá nhiều người có quá ít, đó là luận lý học của ngày nay.” [162] Những tiến bộ khoa học và kỹ thuật, ngay cả trong lĩnh vực y tế, cũng không dễ tiếp cận với đại đa số người dân, như đã được chứng minh một cách rõ ràng trong đại dịch gần đây. Trong khi một số khu vực chi tiêu mạnh tay cho các can thiệp không cần thiết hoặc những giấc mơ về việc nâng cao cá nhân chỉ dành cho một số ít người được chọn, thì các khu vực khác trên thế giới lại thiếu các thiết bị thiết yếu cần thiết để cứu sống hàng triệu người. Nghĩ rằng các kỹ thuật mới sẽ tự động mang lại lợi ích cho tất cả mọi người là bỏ qua bằng chứng. Trừ khi những biến đổi ở giai đoạn thiết kế ưu tiên việc ngăn ngừa sự bất bình đẳng mới và hơn thế nữa, tiến bộ kỹ thuật chắc chắn sẽ tạo ra những bất bình đẳng về cấu trúc. Ngày nay, công lý đòi hỏi phải được tiếp cận với những lợi ích của sự đổi mới, bao gồm chăm sóc, kiến thức, công cụ và cơ hội.

162. Các luật và phương pháp phân phối lại công bằng chắc chắn là cần thiết để khắc phục sự mất cân bằng, bao gồm cả các hệ thống thuế làm giảm gánh nặng cho những người yếu nhất và yêu cầu nhiều hơn từ những người có nhiều nguồn lực hơn. Tuy nhiên, việc theo đuổi công bằng xã hội không nên được coi là một vấn đề riêng biệt chỉ xuất hiện sau khi tạo ra của cải, như thể nền kinh tế chỉ tồn tại để tạo ra của cải, và các chính trị gia chỉ can thiệp sau đó để phân phối nó. Thực tế, công bằng liên quan đến mọi giai đoạn của hoạt động kinh tế, từ việc thu thập tài nguyên đến tài chính, và từ sản xuất đến tiêu dùng; mọi lựa chọn đều có hậu quả về mặt đạo đức. [163]

163. Hơn bao giờ hết, trong thời đại trí tuệ nhân tạo và robot, không còn khả năng chỉ dựa vào “bàn tay vô hình” của thị trường nữa. [164] Chính trị có nhiệm vụ định hướng nền kinh tế và kỹ thuật vì lợi ích chung, thúc đẩy công việc có phẩm giá, hòa nhập xã hội và phân phối công bằng lợi ích của sự đổi mới. Vì nhiều quyết định kinh tế vượt qua biên giới quốc gia, nên cũng cần có sự hợp tác quốc tế có khả năng xác định các chiến lược chung, đặc biệt là có lợi cho các quốc gia và người dân dễ bị tổn thương nhất, để thúc đẩy phát triển và khắc phục sự phụ thuộc vào phúc lợi. Tư duy đằng sau những lựa chọn này là phẩm giá vô song của mỗi người, lợi ích chung và một thế giới thực sự được cai trị cho tất cả mọi người. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hòa bình và phát triển, như Thánh Phaolô VI đã tiên tri viết vào năm 1967, [165] vẫn còn áp dụng được cho đến ngày nay, vì sự thịnh vượng chỉ góp phần xây dựng và củng cố hòa bình nếu nó được phổ biến rộng rãi, toàn diện và bền vững.

164. Về mặt thực tiễn, trong thời đại trí tuệ nhân tạo và robot, việc đảm bảo nền kinh tế ưu tiên phẩm giá con người có nghĩa là áp dụng một số tiêu chuẩn nhất định cho hành động kiên quyết. Thứ nhất, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình: khi dữ liệu và thuật toán ảnh hưởng đến việc phân phối tín dụng, lựa chọn nhân sự hoặc tiếp cận các dịch vụ và cơ hội, cần thiết phải đảm bảo các quyết định dễ hiểu, có thể tranh luận và chịu sự giám sát, để cá nhân không bị thu hẹp thành những hồ sơ đơn thuần. Thứ hai, tính toàn diện và khả năng tiếp cận: lợi ích của đổi mới phải đi kèm với đầu tư vào kỹ năng, cơ sở hạ tầng và các dịch vụ thiết yếu để đảm bảo kỹ thuật không làm gia tăng khoảng cách giữa người giàu và người nghèo. Cuối cùng, các biện pháp đảm bảo công bằng: chính sách thuế, bảo trợ xã hội và chính sách công nghiệp phải khắc phục sự mất cân bằng do sự tập trung của cải và quyền lực tạo ra. Thực tế, những tiêu chuẩn này không phải là sự kìm hãm đổi mới; thay vào đó, chúng làm cho đổi mới trở nên văn minh và nhân bản.

Gia đình và thanh thiếu niên: những điều kiện xã hội cho hy vọng

165. Gia đình là một lợi ích xã hội cơ bản. Được xây dựng trên sự kết hợp bền vững giữa một người đàn ông và một người đàn bà, nó là môi trường đầu tiên mà tất cả mọi người phát triển tiềm năng của mình, nhận thức được phẩm giá của bản thân và học hỏi những hình thức sơ khai nhất của chân lý và điều tốt đẹp, nội hóa những thói quen chuẩn bị cho họ cuộc sống trong xã hội. [166] Là xã hội tự nhiên đầu tiên, được ban tặng những quyền cơ bản, gia đình là tế bào cơ bản và không thể thay thế của mọi tổ chức cộng đồng. [167] Do đó, khi các dự án chính trị và các quyết định kinh tế lớn đẩy gia đình vào vai trò thứ yếu hoặc bên lề, sự phát triển đích thực của toàn bộ cơ thể xã hội sẽ bị tổn hại. [168]

166. Tuy nhiên, gia đình là một tài sản xã hội dễ bị tổn thương, ngay lập tức bị ảnh hưởng bởi những chuyển đổi kinh tế và kỹ thuật đang định hình lại bản chất của việc làm. Do đó, nó cần sự hỗ trợ về văn hóa, pháp lý và kinh tế. Tác động tàn phá của thất nghiệp và tình trạng việc làm không ổn định đối với cấu trúc gia đình đã được biết đến rộng rãi. Trong ngắn hạn, việc giảm chi phí lao động hoặc tối đa hóa hiệu quả tài chính có vẻ có lợi, nhưng về lâu dài, điều này làm suy yếu chính nền tảng của sự chung sống xã hội. Trong khi những thành công về kỹ thuật được ca ngợi, cấu trúc xã hội lại bị xói mòn dần dần, như thể bởi một loại virus thầm lặng.

167. Đối với người trẻ, tình trạng việc làm không ổn định đặc biệt tàn phá. Như các Giám mục của Hoa Kỳ đã nhắc lại, công việc không chỉ đơn thuần là nguồn thu nhập mà còn là một lĩnh vực quan trọng, nơi hình thành bản sắc, vun đắp tình bạn và các mối quan hệ, học hỏi trách nhiệm thực tiễn và nhận ra ơn gọi của mình. [169] Khi việc tiếp cận việc làm bị cản trở bởi tỷ lệ thất nghiệp cao, hệ thống đào tạo không đầy đủ hoặc các rào cản cấu trúc, nhiều người trẻ thấy con đường dẫn đến sự viên mãn về nhân cách và nghề nghiệp của họ bị chặn đứng. Nhu cầu thay đổi công việc nhiều lần trong suốt cuộc đời đòi hỏi phải cung cấp việc cập nhật và đào tạo lại liên tục, để các thế hệ mới có thể đối diện một cách thành thạo và độc lập với những rủi ro của một môi trường kinh tế vừa thay đổi vừa thường khó lường. [170]

168. Điều này làm nảy sinh một trách nhiệm công cộng cụ thể. Nhà nước có nhiệm vụ hỗ trợ hoạt động kinh doanh bằng cách thúc đẩy các điều kiện thuận lợi cho việc làm, khuyến khích việc làm ở những nơi còn thiếu và bảo vệ nó trong thời kỳ khủng hoảng, vì nó là một lợi ích cơ bản cho gia đình và xã hội. [171] Đặc biệt trong thời đại chuyển đổi kỹ thuật liên tục, chúng ta cần một sự sáng tạo chính trị để cổ vũ “việc làm” và đặt gia đình và các thế hệ tương lai vào trung tâm; nếu không, sự tiến bộ kinh tế của chúng ta sẽ dẫn đến những hình thức bất an và loại trừ mới.

169. Hỗ trợ các gia đình và thanh niên trong quá trình chuyển đổi này đòi hỏi những lựa chọn giúp đảm bảo sự ổn định. Như đã nêu ở trên, các chính sách lao động cần cổ vũ tính liên tục và chất lượng việc làm, chống lại tình trạng bất an như một điều kiện sống bình thường và khuyến khích những con đường thực tế để gia nhập lực lượng lao động và phát triển nghề nghiệp. Thứ hai, cần có các biện pháp để đảm bảo sức khỏe. Lối sống của con người, bởi vì nếu không có sự cân bằng hợp lý giữa việc làm, giải trí và nghỉ ngơi, gia đình sẽ suy yếu và giới trẻ sẽ khó phát triển ý thức trách nhiệm. Hơn nữa, việc đầu tư vào giáo dục và tái đào tạo dễ tiếp cận là rất cần thiết, để sự dịch chuyển nghề nghiệp mà nền kinh tế kỹ thuật số đòi hỏi không trở thành sự chọn lọc khắc nghiệt giữa những người có khả năng cập nhật kỹ năng và những người không thể. Cuối cùng, cần phải hỗ trợ các mối quan hệ xã hội, với các mạng lưới và cộng đồng giáo dục đồng hành cùng các lựa chọn trong cuộc sống và ngăn ngừa sự bất ổn dẫn đến sự cô đơn hoặc nghiện ngập. Nếu được thực hiện, những chuyển đổi kỹ thuật này có thể được vượt qua mà không làm suy yếu khả năng xây dựng tương lai, điều làm cho một xã hội thịnh vượng.

Bảo vệ tự do chống lại sự phụ thuộc và thương mại hóa

Sự phụ thuộc và kiểm soát xã hội


170. Sau khi suy gẫm về sự thật và giáo dục, việc làm và gia đình, giờ đây chúng ta phải xem xét tác động của cuộc cách mạng kỹ thuật số đối với tự do của con người, giải quyết các rủi ro đối với cả sức khỏe tâm thần của cá nhân và những thách thức xã hội rộng lớn hơn. Không nên đánh giá thấp các hình thức nghiện ngập tinh vi hơn liên quan đến “nền kinh tế chú ý kỹ thuật số”, vì các nền tảng và dịch vụ thường được thiết kế để thu hút thời gian và sự chú ý của người dùng, khai thác điểm yếu của họ và làm suy yếu tự do nội tâm của họ. Khi các mô hình kinh doanh phát triển mạnh dựa trên điểm yếu của con người, con người bị đối xử như một phương tiện chứ không phải là một mục đích; những người thiết kế hoặc tài trợ cho các hệ thống như vậy phải gánh chịu trách nhiệm đạo đức không thể bỏ qua. Cần khẩn cấp thúc đẩy các kỹ thuật tăng cường tự do nội tâm bằng cách nuôi dưỡng giáo dục về sự tỉnh táo trong thế giới kỹ thuật số và bảo vệ trẻ vị thành niên, từ đó chống lại các mô hình khai thác điểm yếu.

171. Một rủi ro khác, ít được chú ý hơn nhưng không kém phần nghiêm trọng, là sự kiểm soát xã hội được tạo ra bởi việc thu thập dữ liệu khổng lồ và sử dụng các hệ thống thuật toán. Khi mọi hành động—di chuyển, mua sắm, mối quan hệ và sở thích—đều để lại dấu vết, một hình thức quyền lực mới xuất hiện, đó là quyền lực để lập hồ sơ, dự đoán và ảnh hưởng đến hành vi, thường mà các cá nhân không hoàn toàn nhận thức được điều đó. Nếu loại dữ liệu này được sử dụng để đưa ra các quyết định ảnh hưởng đến các cơ hội cụ thể—chẳng hạn như tiếp cận tín dụng, việc làm hoặc các dịch vụ thiết yếu—thì có nguy cơ làm suy yếu tự do và phân biệt đối xử với những người dễ bị tổn thương nhất. Hơn nữa, sự kiểm soát không chỉ được thực hiện thông qua các lệnh cấm rõ ràng mà còn thông qua cấu trúc của sự hiển thị: điều gì được khuếch đại hoặc bị che khuất, điều gì được khen thưởng hoặc bị trừng phạt, cuối cùng sẽ định hình các ý kiến và lựa chọn, thúc đẩy sự tuân thủ và tự kiểm duyệt. Vì lý do này, tự do trong thời đại kỹ thuật số không chỉ là vấn đề nội tâm mà còn là mối quan tâm của cộng đồng. Nó đòi hỏi các quy tắc rõ ràng, tính minh bạch, khả năng khiếu nại và giới hạn tương xứng đối với việc sử dụng các kỹ thuật xâm phạm, để kỹ thuật vẫn phục vụ con người chứ không trở thành một hình thức kiểm soát lương tâm.

172. Gốc rễ của những vấn đề này nằm ở tư duy kỹ trị và hậu nhân bản có xu hướng coi con người như một đối tượng để thao túng hoặc một nguồn lực để tối ưu hóa, [172] loại bỏ tất cả các biện pháp bảo vệ chống lại việc theo đuổi lợi nhuận không kiểm soát. Điều chiếm ưu thế là hiệu năng, chứ không phải là sự tôn trọng tự do và phẩm giá con người. Một số trào lưu hậu nhân bản thậm chí còn đi xa đến mức hình dung ra những con người “hạng hai”, lệ thuộc vào lợi ích của giới tinh hoa tự cho mình là thượng đẳng. Viễn cảnh đáng lo ngại này càng trở nên nghiêm trọng hơn khi kết hợp với các công cụ kỹ thuật làm tăng khả năng kiểm soát và lựa chọn một cách theo cấp số nhân. Ngay cả một số hình thức nợ nần mang tính cấu trúc, vốn giữ toàn bộ các dân tộc trong tình trạng phụ thuộc, cũng phản ánh cùng một tư duy, dưới những hình thức mới, dung túng cho các mối quan hệ lệ thuộc tương tự như chế độ nô lệ.

Phá vỡ xiềng xích của những hình thức nô lệ mới

173. Quan điểm méo mó này về con người ngày nay được phản ánh trong nhiều hình thức nô dịch liên quan trực tiếp đến nền kinh tế kỹ thuật số. Không có gì trong thế giới AI là phi vật chất hay kỳ diệu. Mỗi phản hồi dường như tức thì và hoàn hảo đều là kết quả của một chuỗi trung gian dài, liên quan đến các mạng lưới rộng lớn về tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng năng lượng và trên hết là con người. Một phần đáng kể hoạt động của nền kinh tế kỹ thuật số dựa vào công việc thầm lặng của hàng triệu người tham gia vào các hoạt động thiết yếu nhưng phần lớn không được nhìn thấy, chẳng hạn như gắn nhãn dữ liệu, đào tạo mô hình và kiểm duyệt nội dung, thường liên quan đến các nội dung gây khó chịu. Trong nhiều trường hợp, những người lao động này là những người trẻ tuổi, chủ yếu là phụ nữ, làm việc trong điều kiện khắc nghiệt với mức lương tối thiểu. Ngoài công việc lao động thầm lặng này, còn có công việc khắc nghiệt hơn nữa là khai thác các nguồn tài nguyên cần thiết cho việc sản xuất các thiết bị và bộ vi xử lý [microprocessors]mà trí tuệ nhân tạo phụ thuộc vào. Ở một số vùng trên thế giới, trẻ em và thanh thiếu niên làm việc trong điều kiện nguy hiểm, nghiền nát các vật liệu để chiết xuất các nguyên tố đất hiếm. Thể xác của những người này mang vết thẹo, bị thương tích và bị bào mòn để dòng chảy vi tính có thể tiếp tục không bị gián đoạn. Hơn nữa, các mạng lưới tội phạm sử dụng các nền tảng trực tuyến, hệ thống nhắn tin, phương thức thanh toán ẩn danh và kỹ thuật lập hồ sơ để tuyển mộ, kiểm soát và vận chuyển nạn nhân của nạn buôn người — rất thường là trẻ vị thành niên — biến đàn ông và đàn bà thành “dữ liệu” để theo dõi và “gói hàng” để di chuyển trong cùng một mạch kỹ thuật số hỗ trợ phần lớn nền kinh tế toàn cầu. Thực tế này đặt ra thách thức sâu sắc đối với lương tâm đạo đức của thời đại chúng ta. Không đủ chỉ viện dẫn hiệu năng, cũng không đủ chỉ ca ngợi lợi ích của sự đổi mới, nếu chúng được xây dựng trên một chuỗi bóc lột vẫn cố tình bị che giấu. Nếu kỹ thuật hứa hẹn sự giải phóng, nhưng lại tạo ra những hình thức lệ thuộc toàn cầu mới, thì nó mâu thuẫn với nguyên tắc cơ bản về phẩm giá con người.

174. Cuộc chiến chống lại các hình thức nô lệ mới là một thử thách quyết định đối với sự phân định đạo đức của Trí tuệ Nhân tạo và chuyển đổi kỹ thuật số. Tiếp nối truyền thống do Đức Giáo Hoàng Leo XIII khởi xướng, Giáo hội tái khẳng định sự lên án mạnh mẽ của mình đối với mọi hình thức nô lệ, buôn người và biến con người thành hàng hóa. Giáo hội cũng nhấn mạnh sự cần thiết cấp bách phải suy gẫm và hành động để giữ gìn phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi con người và lợi ích chung, vừa là trọng tâm và mục tiêu của xã hội, vừa là tiêu chuẩn hướng dẫn cho mọi lựa chọn bản thân, xã hội và chính trị. Nếu thiếu sự suy gẫm về đạo đức và nhân bản này, sức mạnh ngày càng tăng của các hệ thống kỹ thuật số có thể dẫn chúng ta đến những tội ác mới không kém phần đáng xấu hổ so với những tội ác trong quá khứ mà chúng ta hiện đang lên án, trong khi chúng ta vẫn tiếp tục tự xưng là những xã hội “tiên tiến” và “văn minh”.

175. Buôn người phải được công nhận là một hình thức nô lệ hiện đại và là sự vi phạm nghiêm trọng phẩm giá con người. Không phản ứng kiên quyết, hoặc dung túng những hành vi này dưới bất cứ hình thức nào, đều đồng nghĩa với việc trở thành đồng lõa trong những tội lỗi ngày nay, tương tự như những tội lỗi trong quá khứ khi chế độ nô lệ bị che giấu và biện minh. [173]

176. Trong quá trình phát triển học thuyết của mình, Giáo hội đã dần nhận thức sâu sắc hơn về mức độ nghiêm trọng của những vấn đề này. Đúng là không thể đánh giá các sự kiện trong quá khứ một cách lỗi thời, như thể các tiêu chuẩn đạo đức đã trưởng thành theo thời gian luôn luôn có sẵn. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể phủ nhận hoặc giảm nhẹ sự chậm trễ mà cả xã hội và Giáo hội đã lên án tai họa của chế độ nô lệ. Trong thời cổ đại và Trung Cổ, nhiều cá nhân và thậm chí cả các tổ chức giáo hội đều có nô lệ. Ngay từ thời kỳ cận đại, Tòa Thánh Roma, đáp lại yêu cầu từ các vị vua, đã can thiệp nhiều lần để điều chỉnh và hợp pháp hóa các hình thức khuất phục, và trong một số trường hợp, là việc nô dịch những người “ngoại đạo”. [174] Chỉ đến thế kỷ XIX, một sự lên án chính thức, tuyệt đối và phổ quát đối với chế độ nô lệ mới được nêu rõ ràng, đặc biệt là dưới thời Đức Giáo Hoàng Leo XIII. [175] Sự phát triển này cung cấp một ví dụ rõ ràng về sự trưởng thành của Giáo hội trong việc hiểu biết những chân lý vĩnh cửu của Mặc Khải mà Giáo hội bảo vệ. Mặc dù không phải lúc nào cũng có sự nhất quán trong thực hành — vì chế độ nô lệ đã được dung thứ trong một thời gian dài trước khi bị lên án một cách dứt khoát — nhưng xuyên suốt lịch sử, phẩm giá của mỗi con người, được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, luôn được khẳng định một cách liên tục, ngay cả khi phải mất mười tám thế kỷ để sự bất khả kháng hoàn toàn của nó với chế độ nô lệ được công nhận một cách rõ ràng. Điều này tạo nên một vết thương trong ký ức Kitô giáo, một vết thương mà chúng ta không thể coi mình là tách rời khỏi. [176] Không thể không cảm thấy đau buồn sâu sắc khi chiêm niệm về sự đau khổ và sỉ nhục to lớn mà rất nhiều người phải chịu đựng, trái ngược hoàn toàn với phẩm giá vô bờ bến của họ với tư cách là những người được Chúa yêu thương vô hạn. Vì điều này, nhân danh Giáo hội, tôi thành tâm xin tha thứ.

177. Đây là lý do tại sao ký ức về sự đồng lõa và mù quáng trong quá khứ trước sự bất công của chế độ nô lệ trở thành lời kêu gọi cảnh giác. Những gì chúng ta đã học được phải được chuyển thành sự phân định và trách nhiệm trong hiện tại. Nếu chúng ta muốn tránh việc phải xin lỗi một lần nữa trong tương lai vì đã không tôn trọng giá trị nhân phẩm quý báu mà đức tin của chúng ta đòi hỏi, thì hôm nay chúng ta có trách nhiệm lên án một cách rõ ràng và kiên quyết nạn buôn người dưới nhiều hình thức khác nhau và cùng với tất cả những người cam kết vì sự nghiệp này, hỗ trợ những nỗ lực cụ thể trong việc phòng ngừa, bảo vệ, giải phóng và phục hồi.

178. Ngay cả ngày nay, chủ nghĩa thực dân vẫn mang những hình thức mới. Nó không còn chỉ thống trị thân xác mà còn chiếm đoạt dữ liệu, biến cuộc sống cá nhân thành thông tin có thể khai thác. Toàn bộ các khu vực, đặc biệt là những khu vực có cấu trúc yếu kém và tầm quan trọng địa chính trị hạn chế, hiện đang phải chịu một tư duy khai thác mới: đó là dữ liệu sức khỏe, hồ sơ dịch tễ học, bản đồ gen và thông tin nhân khẩu học. Chúng đã trở thành những “đất hiếm” mới của quyền lực: dữ liệu quan trọng, một khi được tổng hợp và phân tích, có thể được sử dụng để đào tạo các mô hình dự đoán, hướng dẫn chiến lược đầu tư, dự báo khủng hoảng và, trên hết, quyết định ai và điều gì được coi là quan trọng. Những người kiểm soát dữ liệu sức khỏe của toàn bộ cộng đồng – thường được thu thập dưới chiêu bài viện trợ, nghiên cứu hoặc đổi mới – nắm giữ đòn bẩy cấu trúc đối với tương lai, bởi vì họ có thể định hình nhu cầu và thị trường. Họ cũng có thể quyết định, trước những người khác, thuốc men, đầu tư và sự bảo vệ sẽ được phân bổ cho ai. Đây là một trong những thách thức đạo đức cấp bách nhất của thời đại chúng ta: đảm bảo rằng kiến thức được chia sẻ trở thành một lợi ích chung thực sự chứ không phải là một công cụ thống trị. Điều này đòi hỏi phải khôi phục cho cá nhân không chỉ dữ liệu mô tả về họ, mà còn cả khả năng quyết định cách thức sử dụng, bởi ai và vì lợi ích của ai. Nếu không, thời đại kỹ thuật số sẽ không phải là hậu thuộc địa, mà là thuộc địa dưới một hình thức khác.

179. Các hình thức nô lệ mới được thúc đẩy bởi các chuỗi kinh tế và cơ sở hạ tầng kỹ thuật số. Do đó, cần phải hành động trên nhiều mặt trận. Thứ nhất, các chuỗi cung ứng hỗ trợ ngành kỹ thuật và nền kinh tế kỹ thuật số cần trở nên minh bạch hơn, để không có lợi thế cạnh tranh nào được xây dựng dựa trên sự bóc lột ngầm. Thứ hai, các công ty và nhà đầu tư cần áp dụng các tiêu chuẩn rõ ràng để xác minh đạo đức mang tính phòng ngừa (thẩm định kỹ lưỡng), đặt ưu tiên hàng đầu là bảo vệ người lao động, chống lại lao động cưỡng bức và đánh giá tác động xã hội của các mô hình kinh doanh dựa trên dữ liệu. Hơn nữa, các nền tảng kỹ thuật số phải hợp tác có trách nhiệm với chính quyền và xã hội dân sự để ngăn chặn các công cụ truyền thông, thanh toán và lập hồ sơ trở thành kênh tuyển dụng và kiểm soát nạn nhân. Khi những nỗ lực này hội tụ, môi trường kỹ thuật số có thể được chuyển đổi từ không gian bóc lột thành không gian bảo vệ, phòng ngừa và thúc đẩy phẩm giá con người.

Trách nhiệm chung

180. Các lĩnh vực vừa được xem xét— việc tìm kiếm sự thật trong đời sống công cộng, giáo dục trong môi trường kỹ thuật số, sự chuyển đổi của công việc, sự mong manh của gia đình và các hình thức nô lệ mới—không phải là những hiện tượng riêng lẻ. Thay vào đó, chúng phản ánh một vấn đề cơ bản chung, đó là nếu kỹ thuật trở thành tiêu chuẩn tối thượng, con người có nguy cơ bị giảm xuống thành dữ liệu, một bánh răng trong máy móc hoặc một món hàng hóa. Tuy nhiên, nếu kỹ thuật được tích hợp với một quan điểm khôn ngoan, nó có thể trở thành một công cụ của sự tăng trưởng, công lý và tình huynh đệ.

181. Từ quan điểm này, Học thuyết Xã hội của Giáo hội kêu gọi trách nhiệm chung. Học thuyết yêu cầu các quá trình này phải được hướng dẫn bằng tầm nhìn xa: bởi các định chế có khả năng qui định mà không bóp nghẹt, và bảo vệ mà không chiếm đoạt; bởi các doanh nghiệp nhận thức được lao động và phẩm giá là thước đo thành công; bởi các tổ chức trung gian và cộng đồng giáo dục xây dựng lại niềm tin và các mối quan hệ; và bởi những công dân trau dồi trách nhiệm, sự tiết chế, khả năng phân định và ý thức về chân lý. Chỉ bằng cách này, sự đổi mới mới thực sự phục vụ sự phát triển toàn diện của con người, thay vì trở thành nguồn gốc của sự loại trừ và thống trị. Và chỉ bằng cách này, lời hứa về sự tiến bộ mới được công nhận là đích thực, bởi vì nó được đo lường dựa trên phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi người nam và người nữ.

Kỳ tới: Chương năm
 
Thông điệp ‘Magnifica Humanitas’ nói gì?
Vũ Văn An
04:29 26/05/2026

Daniel Esparza, trong bản tin ngày 25/05/2026 của tạp chí Aleteia, viết rằng: Rerum Novarum gặp gỡ cuộc Cách mạng kỹ nghệ. Magnifica Humanitas gặp gỡ trí tuệ nhân tạo — và yêu cầu chúng ta lựa chọn giữa Tháp Baben và Thành phố của Chúa. Dưới đây là một trích dẫn từ mỗi chương.

Năm 1891, Đức Giáo Hoàng Leo XIII nhìn vào một thế giới đang bị xé nát bởi kỹ nghệ hóa và viết Rerum Novarum — một bức thư đã mãi mãi thay đổi cách Giáo hội tương tác với xã hội. Vào ngày 15 tháng 5 năm 2026, chính xác 135 năm sau, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã ký Magnifica Humanitas. Hoàn cảnh khác nhau, nhưng tính cấp bách vẫn như nhau.

Thông điệp này dài, giàu nội dung thần học, và đôi khi táo bạo đến bất ngờ. Dưới đây là nội dung của từng chương — và một yếu tố trong mỗi chương có thể khiến bạn ngạc nhiên.

Lời dẫn nhập: Hai thành phố, một sự lựa chọn

Đức Leo XIV mở đầu bằng hai hình ảnh trong Kinh Thánh: Tháp Baben và việc xây dựng lại Giêrusalem dưới thời Nơ-khe-mi-a. Một là dự án của sự kiêu hãnh và độc dạng; dự án kia chậm rãi, mang tính cộng đồng và bắt nguồn từ Thiên Chúa. Toàn bộ thông điệp bắt nguồn từ sự lựa chọn này. Chúng ta đang xây dựng Baben — hiệu quả, mạnh mẽ, phi nhân tính — hay Giêrusalem, từng viên gạch một cách kiên nhẫn?

Chương 1: Một truyền thống sống động

Đức Giáo Hoàng lần giở lại giáo huấn xã hội của Giáo Hội từ Đức Leo XIII đến Đức Phanxicô, cho thấy mỗi vị giáo hoàng đã phản ứng như thế nào trước các cuộc khủng hoảng của thời đại mình. Đường hướng này trải dài từ quyền của người lao động đến chiến tranh hạt nhân, sự sụp đổ môi trường và bất bình đẳng toàn cầu.

Điều bất ngờ: Đức Leo XIV không chỉ áp dụng Học thuyết Xã hội cho Trí tuệ Nhân tạo (AI). Ngài nói rằng AI chủ động thách thức các phạm trù của nó từ bên trong — và đòi hỏi truyền thống phải phát triển hơn nữa. Đoạn số 17 viết như sau.

“Trí tuệ nhân tạo […] không nên được coi chỉ đơn thuần là một chủ đề khác để nghiên cứu hay một cuộc khủng hoảng cần được quản lý, mà đúng hơn là một sự phát triển thách thức các phạm trù của Học thuyết Xã hội từ bên trong, kêu gọi sự phát triển hơn nữa của chúng trong sự trung thành với Tin Mừng.”

Chương 2: Những nguyên tắc không thay đổi

Ở đây, thông điệp tái khẳng định các trụ cột nền tảng: phẩm giá con người, lợi ích chung, nguyên tắc phụ đới, tình liên đới, công bằng xã hội và sự phát triển toàn diện của con người. Nền tảng vững chắc, quen thuộc — cho đến khi nó không còn như vậy nữa.

Điều bất ngờ: Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã nêu rõ các thuật toán, dữ liệu, nền tảng kỹ thuật số và bằng sáng chế trong nguyên tắc về đích đến phổ quát của của cải. Dữ liệu không phải là tài sản của một công ty kỹ thuật. Nó thuộc về, theo một nghĩa thực sự, tất cả mọi người. Đoạn 67 viết:

“Ngày nay, trong số những của cải được dành cho tất cả mọi người, chúng ta cũng phải bao gồm những hình thức sở hữu mới, chẳng hạn như bằng sáng chế, thuật toán, nền tảng kỹ thuật số, cơ sở hạ tầng công nghệ và dữ liệu. Trong bối cảnh mà sự giàu có của các quốc gia ngày càng phụ thuộc vào kiến thức và kỹ thuật, khi những của cải này vẫn tập trung trong tay một số ít người, mà không có các hình thức chia sẻ và tiếp cận thích đáng, một sự mất cân bằng mới được tạo ra, trái ngược với đích đến phổ quát của của cải.”

Chương 3: Trí tuệ nhân tạo là gì và không phải là gì

Đây là trọng tâm giáo lý của bức thư. Đức Giáo Hoàng Leo XIV viết rõ ràng rằng, trí tuệ nhân tạo không phải là trí tuệ con người. Nó xử lý dữ liệu. Nó không thể cảm nhận, đau khổ, yêu thương hoặc gánh vác trách nhiệm đạo đức. Nó có thể mô phỏng sự đồng cảm mà không hiểu được nó. Điều đó vô cùng quan trọng khi chúng ta trao cho nó quyền lực chi phối cuộc sống của con người.

Điều bất ngờ: Đức Giáo Hoàng kêu gọi “giải giáp” trí tuệ nhân tạo — giải phóng nó khỏi luậ lý học cạnh tranh địa chính trị và thương mại, khỏi sự kiểm soát độc quyền, và trả lại cho sự đa dạng của các nền văn hóa nhân loại. Đoạn số 110 có nội dung như sau:

“Cuối cùng, tôi muốn sử dụng cụm từ “giải giáp”, một cụm từ rất gần gũi với trái tim tôi. Giải giáp AI có nghĩa là giải phóng nó khỏi tư duy cạnh tranh “có vũ trang”, điều mà ngày nay không chỉ giới hạn trong bối cảnh quân sự, mà còn là một hiện tượng kinh tế và nhận thức. Điều này dẫn đến một cuộc chạy đua để có được các thuật toán ngày càng mạnh mẽ hơn và các tập dữ liệu lớn hơn, được thúc đẩy bởi mong muốn đảm bảo sự thống trị về địa chính trị hoặc thương mại. Giải giáp có nghĩa là bác bỏ giả định rằng sức mạnh kỹ thuật tự động mang lại quyền cai trị. Giải giáp không có nghĩa là từ chối kỹ thuật, mà là ngăn chặn nó thống trị nhân loại. Nó có nghĩa là giải phóng kỹ thuật khỏi sự kiểm soát độc quyền và mở nó ra cho thảo luận và tranh luận, do đó làm cho nó thân thiện với con người và khôi phục nó vào sự đa dạng của các nền văn hóa và lối sống của con người. Nhiệm vụ của chúng ta ngày nay không chỉ là đạo đức hay kỹ thuật. Nó mang tính sinh thái theo nghĩa sâu sắc nhất, bởi vì nó liên quan đến một chiều kích mới của ngôi nhà chung của chúng ta. AI đã là một môi trường mà chúng ta đang sống trong đó, cũng như một lực lượng mà chúng ta phải tương tác. Vì lý do này, chỉ điều chỉnh nó là không đủ; nó phải được giải giáp, chào đón…” và dễ tiếp cận.”

Chương 4: Sự thật, việc làm và tự do

Chương bốn là chương có phạm vi bao quát rộng nhất. Nó đề cập đến thông tin sai lệch và dân chủ, sự chuyển đổi việc làm do tự động hóa, sự mong manh của các gia đình dưới áp lực kinh tế, những nguy hiểm của chứng nghiện kỹ thuật số và sự bóc lột người lao động ẩn giấu trong chuỗi cung ứng AI.

Điều bất ngờ: Trong một đoạn văn về chế độ nô lệ hiện đại và nền kinh tế kỹ thuật số, Đức Giáo Hoàng Leo XIV chính thức xin lỗi – nhân danh Giáo hội – về sự đồng lõa trong lịch sử của Giáo hội đối với chế độ nô lệ. Đó là một khoảnh khắc đáng chú ý của sự khiêm nhường trong một văn kiện về tương lai. Đoạn số 176 viết:

Thật đúng là các sự kiện trong quá khứ không thể được đánh giá một cách lỗi thời, như thể các tiêu chuẩn đạo đức đã chín muồi theo thời gian luôn luôn có sẵn. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể phủ nhận hay giảm nhẹ sự chậm trễ mà cả xã hội và Giáo hội đã lên án tai họa của chế độ nô lệ. Trong thời cổ đại và Trung Cổ, nhiều cá nhân và thậm chí cả các định chế giáo hội đều có nô lệ. Ngay từ thời kỳ cận đại, Tòa Thánh Roma, đáp lại yêu cầu từ các vị vua, đã can thiệp nhiều lần để điều chỉnh và hợp pháp hóa các hình thức áp bức, và trong một số trường hợp, là việc nô dịch những người “ngoại đạo”. Chỉ đến thế kỷ XIX, một sự lên án chính thức, tuyệt đối và phổ quát đối với chế độ nô lệ mới được nêu rõ ràng, đặc biệt là dưới thời Giáo hoàng Leo XIII.

Chương 5: Nền Văn Minh của Tình Yêu

Chương cuối cùng đề cập đến chiến tranh. Nội dung rất thẳng thắn: chi tiêu quân sự đang gia tăng, các giới hạn đạo đức đang bị xói mòn, và trí tuệ nhân tạo đang đưa ra các quyết định gây chết người nhanh hơn và vô cảm hơn bao giờ hết.

Điều bất ngờ: Đức Giáo Hoàng Leo XIV tuyên bố rõ ràng rằng lý thuyết chiến tranh chính nghĩa truyền thống giờ đây đã lỗi thời. Trong một thế giới của vũ khí tự động và chiến tranh hỗn hợp, khuôn khổ cũ không thể đứng vững. Ngoại giao, đối thoại và chủ nghĩa đa phương là con đường thực tế duy nhất phía trước. Đoạn 192 viết:

Ngày nay, hơn bao giờ hết, không phủ nhận quyền tự vệ theo nghĩa chặt chẽ nhất, điều quan trọng là phải khẳng định lại rằng lý thuyết “chiến tranh chính nghĩa”, vốn thường được sử dụng để biện minh cho bất kỳ loại chiến tranh nào, giờ đây đã lỗi thời. Nhân loại sở hữu những công cụ hiệu quả và có khả năng hơn nhiều để thúc đẩy sự sống của con người và giải quyết xung đột, chẳng hạn như đối thoại, ngoại giao và tha thứ. Việc sử dụng vũ lực, bạo lực và vũ khí phản ánh sự nghèo nàn về mặt quan hệ, điều luôn dẫn đến hậu quả thảm khốc đối với dân thường.

Kết luận: Bài học của Nơ-khe-mi-a

Thông điệp kết thúc bằng một chương trình thực tiễn: hãy trung thành với chân lý, đầu tư vào giáo dục, vun đắp các mối quan hệ chân thật, yêu công lý và hòa bình. Hình ảnh là Nơ-khe-mi-a, xắn tay áo lên, xây dựng lại từng bức tường một. Đức Giáo Hoàng Leo XIV gợi ý rằng đó chính là hình ảnh của việc trở thành người Công Giáo trong thời đại trí tuệ nhân tạo.
 
Nhà đồng sáng lập Anthropic đã nói gì tại buổi trình bày thông điệp Magnifica Humanitas?
Vũ Văn An
04:43 26/05/2026

ALBERTO PIZZOLI


Kathleen N. Hattrup, trong bản tin ngày 25/05/2026 của Aleteia, cho hay, nhà đồng sáng lập Anthropic, Olah, đã chỉ ra sự khác biệt giữa các câu hỏi thuộc về khoa học và các câu hỏi thuộc về tôn giáo và triết học.

Ngồi trước một căn phòng đầy các Hồng Y và giám mục, ở vị trí cuối cùng trên một chiếc bàn dài với Đức Giáo Hoàng Leo ở ghế giữa cao hơn, nhà khoa học máy tính người Canada và đồng sáng lập Anthropic, Christopher Olah, có lẽ đã cảm thấy ngạc nhiên. Ai có thể tưởng tượng cuộc đời ông lại dẫn ông đến đây?

Thực tế, khi cầm micro, Đức Giáo Hoàng Leo đã đặc biệt cảm ơn nhà khoa học vì sự hiện diện và bài thuyết trình của ông.

ALBERTO PIZZOLI


Những gì Olah đã nói trong bài phát biểu khoảng bảy phút của mình, một trong số các diễn giả trong buổi giới thiệu thông điệp đầu tiên của Đức Giáo Hoàng Leo, Magnifica Humanitas, thật sâu sắc.

Ông bắt đầu bằng việc thừa nhận những "động lực và ràng buộc" mà các nhà phát triển trí tuệ nhân tạo phải đối diện, những điều "đôi khi mâu thuẫn với việc làm điều đúng đắn": áp lực phải duy trì khả năng thương mại, phải luôn đi đầu trong nghiên cứu, áp lực địa chính trị, và "những áp lực cũ hơn, đơn giản hơn" của lòng kiêu hãnh và tham vọng.

Ông thừa nhận rằng những yếu tố này sẽ luôn ảnh hưởng, vì vậy "nếu chúng ta muốn kỹ thuật này phát triển tốt, điều vô cùng quan trọng là phải có những người đứng ngoài những động lực đó" - những người "chú ý kỹ" và "sẵn sàng nói những điều khó nghe và kiên quyết đòi hỏi sự an toàn."

Olah bày tỏ lòng biết ơn đối với Đức Giáo Hoàng Leo và Giáo hội vì đã đảm nhận công việc này.

Ông nói rằng các nhà phát triển đã tìm thấy một niềm tin chung: "Nếu kỹ thuật này đến, nó phải phát triển tốt" - tốt cho ngôi nhà chung của chúng ta, và cho các thế hệ con cháu mai sau.

Olah nói rằng các nhà khoa học máy tính không phải là người phù hợp để giải quyết những câu hỏi này.

Ông nói rằng cách trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ tương tác với thế giới – “nó nên tương tác với thế giới như thế nào” – là những câu hỏi dành cho “nhân văn, tôn giáo, triết học và toàn xã hội”.

Ông tiếp tục nêu ra ba câu hỏi mà “tiếng nói của Giáo hội đặc biệt cần thiết”.

1. Trách nhiệm đối với người nghèo trên toàn cầu và cách chia sẻ lợi ích kinh tế từ AI. Điều gì sẽ xảy ra nếu AI thay thế lao động của con người trên quy mô rất lớn? Ông nói, đây là “loại vấn đề mà Giáo hội từ trước đến nay không cho phép thế giới phớt lờ”.

2. Một trí tưởng tượng và tham vọng đạo đức về sự thịnh vượng của con người: Sự thịnh vượng thực sự trông như thế nào? Ông nói, đây không phải là câu hỏi mà một phòng thí nghiệm có thể trả lời, mà là những câu hỏi mà “các truyền thống như của các bạn đã gìn giữ qua hàng thiên niên kỷ”.

3. Cuối cùng, ông đề cập đến sự hiểu biết sâu sắc về bản chất của các mô hình AI, và "bí ẩn" mà ông thừa nhận đôi khi ngay cả các nhà phát triển cũng phát hiện ra bên trong chúng. "Chúng tôi liên tục tìm thấy những điều bí ẩn, thậm chí đáng lo ngại," ông thừa nhận.

Olah kết luận bằng cách nói rằng thế giới cần nhiều nỗ lực như Magnifica Humanitas hơn nữa. "Hôm nay chỉ là sự khởi đầu," ông nói. "Sự khởi đầu của một sự hợp tác lâu dài giữa những người trong chúng tôi đang xây dựng điều này, và những người có thể nhìn thấy những gì mà chúng tôi, từ bên trong, không thể thấy."
 
VietCatholic TV
Ukraine chế tạo thành công hệ thống chống hỏa tiễn Nga. Pháp cảnh cáo Belarus. Nga hãm hại BTQP Anh
VietCatholic Media
03:22 26/05/2026


1. Máy bay của Bộ trưởng Quốc phòng Anh bị Nga gây nhiễu GPS.

Một máy bay phản lực của Không quân Hoàng gia Anh, gọi tắt là RAF chở Bộ trưởng Quốc phòng Anh John Healey trở về từ chuyến thăm Estonia đã bị gây nhiễu tín hiệu gần biên giới Nga, trong một sự việc được tờ Times đưa tin lần đầu vào hôm Thứ Hai, 25 Tháng Năm.

Một nguồn tin quốc phòng Anh đã xác nhận vụ việc với tờ Kyiv Independent, gọi đó là kết quả của “sự can thiệp liều lĩnh của Nga”.

Theo các nguồn tin, tín hiệu vệ tinh của máy bay Dassault Falcon 900LX đã bị vô hiệu hóa trong suốt chuyến bay kéo dài ba giờ vào ngày 21 tháng 5.

Chiếc máy bay chở các cố vấn chính trị và quân sự, một vị tướng, hai nhiếp ảnh gia và một nhà báo đã bị nhiễu sóng ngay khi bắt đầu hành trình.

Do đó, các phi công phải sử dụng hệ thống dẫn đường “được hiệu chỉnh” để tính toán vị trí của họ, tờ Times đưa tin. Nguồn tin quốc phòng Anh cho biết “Không quân Hoàng gia Anh đã chuẩn bị kỹ lưỡng để đối phó với hoạt động này.”

Hiện vẫn chưa rõ liệu Nga có cố tình tấn công vào máy bay của Healey hay không.

Tuần trước, Healey đã đến thăm Estonia - một đồng minh của NATO giáp biên giới với Nga - để gặp gỡ người đồng cấp Estonia, Hanno Pevkur, và các binh sĩ Anh đóng quân tại đó.

Estonia là nơi đóng quân thường trực của một lữ đoàn do Anh dẫn đầu, một phần trong sáng kiến Lực lượng Mặt đất Tiền phương của NATO, cùng với các binh sĩ đồng minh khác được triển khai tạm thời tại đây cho cuộc tập trận Bão Mùa xuân đang diễn ra.

Các quan chức phương Tây đã lên tiếng cảnh báo về tình trạng gây nhiễu GPS quy mô lớn gần biên giới Nga, đặc biệt là ở khu vực Baltic.

Hồi tháng 9 năm ngoái, một máy bay quân sự chở Bộ trưởng Quốc phòng Tây Ban Nha Margarita Robles đã bị nhiễu sóng GPS gần vùng lãnh thổ Kaliningrad của Nga, trong khi máy bay của Chủ tịch Ủy ban Âu Châu Ursula von der Leyen cũng gặp phải sự nhiễu sóng tương tự năm ngoái tại Bulgaria.

[Kyiv Independent: UK defense secretary's plane hit by suspected Russian GPS jamming]

2. Ukraine tấn công cơ sở dầu mỏ của Nga tại tỉnh Bryansk đêm qua, Bộ Tổng tham mưu cho biết.

Bộ Tổng tham mưu Ukraine cho biết, lực lượng Ukraine đã tấn công và gây thiệt hại cho kho dầu Belets ở tỉnh Bryansk của Nga vào đêm 25 tháng 5.

Cơ sở này, nằm cách biên giới phía bắc của Ukraine khoảng 60 km, là một mắt xích quan trọng trong việc cung cấp nhiên liệu cho quân đội Nga, Bộ Tổng tham mưu cho biết trên mạng xã hội.

Theo thông báo của Bộ Tổng tham mưu, thông tin về thiệt hại đối với kho chứa vẫn đang được thu thập.

Bộ Tổng Tham Mưu Ukraine cũng đề cập đến hai cuộc tấn công thành công vào các kho đạn của Nga ở Crimea và Donetsk bị tạm chiếm, cũng như một trung tâm thông tin liên lạc, cũng ở Donetsk.

“Lực lượng quốc phòng Ukraine tiếp tục có hệ thống ngăn chặn Liên bang Nga tiến hành hành động gây hấn vũ trang chống lại Ukraine”, tuyên bố cho biết.

Các cuộc tấn công vào các cơ sở năng lượng dầu khí nằm sâu bên trong lãnh thổ Nga đã trở thành chuyện gần như thường nhật trong năm 2026, nhờ vào việc gia tăng sản xuất và triển khai các máy bay điều khiển từ xa tấn công tầm xa, thường liên quan đến số lượng máy bay điều khiển từ xa được sử dụng trong một đêm nhiều hơn số lượng máy bay điều khiển từ xa mà Nga thường xuyên phóng vào Ukraine.

Tổng thống Volodymyr Zelenskiy ngày 22 tháng 5 cho biết, chỉ riêng trong tháng 5, một nhà máy lọc dầu ở tỉnh Yaroslavl của Nga, gần Mạc Tư Khoa, đã bị tấn công tới bốn lần.

[Kyiv Independent: Ukraine strikes Russian oil facility in Bryansk Oblast overnight, General Staff says]

3. Chiến lược phòng thủ mới nhất của Ukraine trước hỏa tiễn Nga: Làm cho Nga bắn trượt mục tiêu.

Trong bối cảnh Ukraine đang phải phân bổ nguồn cung cấp hỏa tiễn phòng không hạn chế của mình, nước này ngày càng đặt nhiều kỳ vọng vào hệ thống tác chiến điện tử Lima do chính họ sản xuất để làm gián đoạn và chuyển hướng máy bay điều khiển từ xa và hỏa tiễn của Nga.

Một trong những nhà phát triển của Lima đã giải thích với POLITICO về cách thức hoạt động của nó bằng cách can thiệp vào hệ thống dẫn đường của vũ khí đang bay tới.

Không giống như các hệ thống phòng không truyền thống, vốn tiêu diệt các mối đe dọa đang đến bằng cách bắn phá chúng bằng hỏa tiễn, hệ thống Lima gây nhiễu và làm sai lệch tín hiệu định vị vệ tinh, khiến vũ khí của Nga phải chệch hướng. Hệ thống này ngày càng trở thành một lớp quan trọng trong kiến trúc phòng không của Ukraine khi Nga tăng cường các cuộc tấn công tầm xa và Kyiv phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt dai dẳng các hỏa tiễn đánh chặn đắt tiền.

Lima, được phát triển bởi Cascade Systems, một công ty khởi nghiệp quốc phòng của Ukraine, tạo ra các trường gây nhiễu mạnh mẽ làm gián đoạn hệ thống định vị vệ tinh.

Nếu tín hiệu vệ tinh bị chặn, các loại vũ khí tầm xa của Nga vẫn có thể tiếp tục bay bằng hệ thống dẫn đường quán tính, nhưng độ chính xác của chúng có thể sai lệch khoảng 2 km cho mỗi 100 km di chuyển — nghĩa là khả năng bắn trúng mục tiêu sẽ thấp hơn.

“Khi hệ thống Lima được kích hoạt, nó làm cho độ lệch của hỏa tiễn càng lớn hơn. Ngoài việc đơn thuần triệt tiêu hệ thống định vị, chúng tôi còn sử dụng kỹ thuật giả mạo và thay thế tọa độ vài kilomet. Chúng tôi có thể khiến hỏa tiễn của đối phương rơi xuống đồng ruộng thay vì trúng mục tiêu”, Alchemist, một nhà phát triển hệ thống Lima và chỉ huy của Đội Canh Đêm, một đơn vị tác chiến điện tử thuộc lực lượng phòng thủ lãnh thổ Ukraine, cho biết. Ông yêu cầu chỉ được tiết lộ danh tính bằng biệt danh của mình vì lý do an ninh.

Sức hấp dẫn của Lima một phần nằm ở quy mô và chi phí của nó. Không giống như nhiều thiết bị gây nhiễu chiến thuật khác, Lima có thể bao phủ các khu vực rộng lớn, bảo vệ cơ sở hạ tầng trọng yếu. Theo Cascade, mỗi thiết bị có giá sản xuất lên tới 3 triệu hryvnia (58.000 euro), tùy thuộc vào phiên bản. Công ty ước tính cần từ 30 đến 100 thiết bị để bảo vệ một thành phố lớn — khoảng 5 triệu euro.

Đó là mức giá tương đương với một hỏa tiễn Patriot PAC-3.

Cascade đã cung cấp hơn 400 chiếc Lima. Quân đội bắt đầu sử dụng chúng vào tháng 7 năm 2024, và phạm vi sử dụng được mở rộng sang cả bảo vệ cơ sở hạ tầng dân sự vào tháng 10 năm 2025.

Theo công ty này, trong 18 tháng qua, Limas đã gây nhiễu cho 20.500 máy bay điều khiển từ xa Shahed và làm chệch hướng hàng chục hỏa tiễn đạn đạo và hỏa tiễn hành trình.

Ông Maksym Skoretskyy, nhà lãnh đạo bộ phận tác chiến điện tử của lực lượng lục quân Ukraine, cho biết các phiên bản Lima mới nhất có khả năng vô hiệu hóa các loại vũ khí tầm xa — bao gồm cả hỏa tiễn đạn đạo — vốn dựa vào các hệ thống như hệ thống định vị vệ tinh GLONASS của Nga.

Cách thức hoạt động của Lima

Lima giả mạo tín hiệu định vị vệ tinh được sử dụng bởi hỏa tiễn và máy bay điều khiển từ xa của Nga, cung cấp cho chúng tọa độ sai. Theo các nhà phát triển, một số cuộc tấn công trước đây đã bị chuyển hướng bằng cách làm cho các vũ khí đang bay tới nghĩ rằng chúng đang ở Peru.

Hệ thống Lima cũng có thể tạo ra một “vùng chết” nơi máy bay điều khiển từ xa của Nga mất tín hiệu dẫn đường.

“Khi chúng ta… tạo ra một vùng đủ rộng, được bảo vệ bởi các trạm Lima, hỏa tiễn thậm chí sẽ không bắn trúng thành phố. Chúng ta sẽ bắn nó ra một cánh đồng trống,” Alchemist giải thích.

Bom lượn – loại bom thông thường được trang bị cánh nhỏ để tăng tầm bay – khó chống lại hơn, vì Nga chủ yếu sử dụng chúng ở các khu vực tiền tuyến. Ukraine khó tạo ra các vùng mất sóng ở đó hơn, vì họ chỉ kiểm soát một phần các khu vực đó. Nhưng một khi các kỹ sư tìm ra cách vượt qua các ăng-ten chống nhiễu mới của Nga, Lima cũng bắt đầu chuyển hướng bom lượn.

“Ngay cả khi quả bom lượn lệch khỏi mục tiêu khoảng 20 mét, điều đó cũng có nghĩa là mục tiêu vẫn sẽ tồn tại,” Skoretskyy nói.

Nhưng chỉ dựa vào chiến tranh điện tử cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Ông Skoretskyy cho biết, máy bay điều khiển từ xa và hỏa tiễn của Nga bị gây nhiễu vẫn rơi xuống và va chạm với mục tiêu nào đó, gây thiệt hại. Mặt khác, hệ thống phòng không động năng thông thường sẽ phá hủy hỏa tiễn hoặc máy bay điều khiển từ xa đang bay tới; mảnh vỡ sau đó vẫn rơi xuống đất nhưng gây ra ít thiệt hại hơn so với một vũ khí được chuyển hướng còn nguyên vẹn.

“Tuy nhiên, liệu hỏa tiễn đạn đạo của Nga có bắn trúng mục tiêu mong muốn khi cuộc đàm phán Lima diễn ra hay không? Tôi cho rằng điều đó khó xảy ra”, Skoretskyy nói thêm.

Cuộc chiến công nghệ không hồi kết

Các nhà phát triển cho biết những phiên bản đầu tiên của Lima xuất hiện vào năm 2022 để chống lại hỏa tiễn hành trình của Nga. Nhưng Cascade Systems đã mất nhiều năm thử nghiệm và hơn 2 triệu đô la từ nguồn vốn riêng để vượt qua sự hoài nghi của chính phủ Ukraine và các chỉ huy quân đội cao cấp. Họ bắt đầu nhận được các hợp đồng nhà nước vào cuối năm ngoái.

Chiến tranh điện tử là một cuộc chiến không hồi kết về tín hiệu và toán học. Mỗi khi Ukraine phát triển một hệ thống mạnh hơn, Nga lại điều chỉnh vũ khí và ăng-ten của mình để chống lại nó, bao gồm cả việc cập nhật hệ thống định vị để cho phép máy bay điều khiển từ xa và hỏa tiễn duy trì kết nối vệ tinh ổn định ngay cả khi bị tấn công điện tử.

Đầu năm 2025, lực lượng Nga đã đưa vào sử dụng các ăng-ten Kometa chống nhiễu được nâng cấp, khiến các hệ thống tác chiến điện tử hiện có của Ukraine, bao gồm cả các phiên bản Lima trước đó, trở nên vô hiệu.

“Đó là lúc cuộc sống thực sự bắt đầu,” Alchemist nói. “Chúng tôi sống trong phòng thí nghiệm, cố gắng giải mã các ăng-ten mới của Nga.”

Sau ba tháng, các kỹ sư đã phát triển một phiên bản mới có tên Lima Quant, được thiết kế đặc biệt để vượt qua hệ thống phòng thủ được nâng cấp của Nga bằng cách kết hợp kỹ thuật giả mạo truyền thống với các tín hiệu tần số cao mới nhằm đánh lừa Kometa.

“Chúng tôi liên tục điều chỉnh hệ thống Lima dựa trên đặc điểm của vũ khí Nga, phân tích các phát bắn trúng đích và đưa ra khuyến nghị cho bộ tổng tham mưu về vị trí và cách thức triển khai,” Alchemist nói. “Chiến tranh luôn luôn biến đổi.”

[Politico: Ukraine’s latest defense against Russian missiles: Making them miss]

4. Chủ tịch Ủy ban Quân sự Thượng viện nói: “Chúng ta phải hoàn thành những gì đã bắt đầu”.

Thượng Nghị Sĩ Roger Wicker, một đảng viên Cộng hòa đến từ Mississippi đã đề xuất rằng Mỹ không nên theo đuổi một thỏa thuận với Iran mà thay vào đó nên nối lại hành động quân sự, đồng thời nói thêm: “Chúng ta phải hoàn thành những gì chúng ta đã bắt đầu.”

Thượng Nghị Sĩ Wicker, chủ tịch Ủy ban Quân sự Thượng viện, phát biểu rằng Tổng thống Trump đang bị “khuyên sai khi theo đuổi một thỏa thuận không đáng giá bằng tờ giấy mà nó được viết trên đó.”

Ông Wicker nói: “Tổng tư lệnh của chúng ta cần cho phép quân đội tinh nhuệ của Mỹ hoàn thành việc phá hủy các năng lực quân sự thông thường của Iran và mở lại eo biển”.

Ông nói: “Việc tiếp tục theo đuổi một thỏa thuận với chế độ Hồi giáo của Iran có nguy cơ tạo ra ấn tượng về sự yếu kém. Chúng ta phải hoàn thành những gì đã bắt đầu. Đã đến lúc phải hành động.”

[CBSNews: Senate Armed Services chair says “we must finish what we started”]

5. Theo tình báo Mỹ, lãnh đạo tối cao của Iran đang ẩn náu tại một địa điểm không được tiết lộ.

Theo các quan chức Mỹ nắm rõ vấn đề, tình báo Mỹ cho thấy nhà lãnh đạo tối cao của Iran đang ẩn náu tại một địa điểm bí mật, hầu như không có liên lạc với thế giới bên ngoài và chỉ được liên hệ thông qua một mạng lưới người đưa tin phức tạp.

Các quan chức Iran được ủy quyền làm việc với chính quyền Trump đang gặp khó khăn trong việc liên lạc nội bộ trong hệ thống chính phủ của họ - và đây là lý do chính khiến các chi tiết về một thỏa thuận tiềm năng với Iran và các thỏa thuận trước đó được công bố chậm trễ.

Hai quan chức cho biết, khi Mỹ gửi các chi tiết đề xuất, khó khăn trong việc tiếp cận lãnh đạo tối cao có nghĩa là có thể mất một thời gian dài trước khi Mỹ nhận được phản hồi.

Phát ngôn nhân Tòa Bạch Ốc từ chối bình luận về thông tin tình báo liên quan đến tung tích của lãnh đạo tối cao hoặc phương thức liên lạc của Iran.

Một quan chức cao cấp trong chính quyền cho biết hôm Chúa Nhật rằng nhà lãnh đạo tối cao đã đồng ý với những nội dung chính của bản dự thảo thỏa thuận hiện tại, và Tổng thống Trump đã đăng trên Truth Social rằng ông dự đoán sẽ có thông báo cuối cùng trong vài ngày tới.

Lãnh đạo tối cao của Iran, Mojtaba Khamenei, người bị thương trong các cuộc tấn công của Mỹ và Israel trong Chiến dịch Epic Fury, đang thực hiện các biện pháp cực đoan để tránh các cuộc tấn công tương tự như những cuộc tấn công đã giết chết cha ông, Ayatollah Ali Khamenei, người đã cai trị Iran từ năm 1989 cho đến ngày 28 tháng 2. Mojtaba Khamenei đã không xuất hiện hay lên tiếng chính thức trước công chúng kể từ trước khi chiến tranh bắt đầu.

Một trong những quan chức cho biết, thông tin tình báo của Mỹ và Israel thu được từ bên trong chính phủ Iran đã giúp xác định vị trí và loại bỏ phần lớn giới lãnh đạo cao cấp của Iran trong suốt cuộc chiến.

Theo các nguồn tin, hiện tại, hầu hết các nhà lãnh đạo Iran đều không nhìn thấy ánh sáng mặt trời, dành nhiều tuần bên trong các hầm trú ẩn được bảo vệ nghiêm ngặt và tránh nói chuyện với nhau trừ khi thực sự cần thiết.

“Chứng kiến họ cố gắng tìm cách nói chuyện với nhau gần giống như xem một bộ phim hài kịch. Họ hoàn toàn tuyệt vọng,” một quan chức cho biết.

Lãnh đạo tối cao đang thực hiện những biện pháp thận trọng nhất.

Theo kế hoạch, ngay cả các quan chức cao cấp nhất của chính phủ Iran cũng không biết ông ta đang ở đâu và không có cách nào liên lạc trực tiếp với ông ta.

Thay vào đó, các thông điệp được truyền tải thông qua một mạng lưới người đưa thư được thiết lập để che giấu vị trí của người lãnh đạo tối cao.

“Đây là lý do tại sao bạn thấy mọi người nói những điều như, ‘Lãnh đạo tối cao đã đồng ý với khuôn khổ,’ hoặc ‘Chúng tôi đang chờ phản hồi về các điểm cuối cùng của thỏa thuận.’ Mọi thông tin ông ấy nhận được đều đã lỗi thời và có độ trễ rất lớn trong phản hồi của ông ấy,” một quan chức cho biết.

Lãnh đạo tối cao đã truyền đạt những chỉ thị chung chung cho cấp dưới, hướng dẫn họ về những vấn đề nào có thể đàm phán và những vấn đề nào không nên thảo luận.

[Politico: Iran's supreme leader is holed up in undisclosed location, U.S. intelligence says]

6. Tổng thống Pháp Macron đưa ra cảnh báo đối với Belarus trong cuộc điện đàm hiếm hoi với nhà độc tài Lukashenko.

Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã cảnh báo nhà độc tài Belarus Alexander Lukashenko không nên leo thang sự can thiệp của nước này vào cuộc xâm lược Ukraine của Nga trong một cuộc điện đàm ngày 24 tháng 5, một nguồn tin thân cận với ông Macron nói với hãng thông tấn Agence France-Presse, gọi tắt là AFP.

Cuộc điện đàm được đưa tin diễn ra trong bối cảnh ngày càng có nhiều đồn đoán rằng Belarus có thể tham gia chiến tranh để ủng hộ Nga.

Trước đó, truyền thông nhà nước Belarus cũng đưa tin rằng hai nhà lãnh đạo đã nói chuyện qua điện thoại, cho biết cuộc gọi do phía Pháp khởi xướng. Cuộc hội thoại này đánh dấu lần liên lạc trực tiếp đầu tiên được ghi nhận giữa Macron và Lukashenko kể từ khi Nga bắt đầu cuộc xâm lược toàn diện.

“Nguồn tin từ Pháp nói với AFP rằng Macron đã nhấn mạnh những rủi ro đối với Belarus nếu nước này để mình bị cuốn vào cuộc chiến tranh xâm lược của Nga chống lại Ukraine”.

Ông cũng kêu gọi Alexander Lukashenko thực hiện các bước cần thiết để cải thiện quan hệ giữa Belarus và Âu Châu.

Cuộc điện đàm diễn ra chưa đầy một tuần sau khi Tổng thống Volodymyr Zelenskiy cảnh báo vào ngày 20 tháng 5 rằng Nga có thể đang chuẩn bị một cuộc tấn công mới vào miền bắc Ukraine với sự giúp đỡ của Belarus. Ngay trước đó, Minsk tuyên bố họ đang tham gia các cuộc tập trận vũ khí hạt nhân chung với Mạc Tư Khoa. Tuy nhiên, nhà độc tài Belarus Alexander Lukashenko cũng nói rằng ông ta sẵn sàng gặp gỡ Tổng thống Zelenskiy ở bất cứ đâu, kể cả tại Kyiv.

Liệu Belarus sắp tham gia vào cuộc chiến với Nga?

Mặc dù quân đội Belarus không trực tiếp tham gia các hoạt động chiến đấu chống lại Ukraine, nhưng Minsk đã cho phép lực lượng Nga sử dụng lãnh thổ của mình làm căn cứ cho cuộc xâm lược toàn diện của Mạc Tư Khoa vào tháng 2 năm 2022. Lãnh thổ Belarus cũng được Nga sử dụng cho các vụ phóng hỏa tiễn và các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa trong suốt cuộc chiến.

Đêm trước cuộc điện đàm giữa Macron và Lukashenko, Nga đã phát động một cuộc tấn công trên không quy mô lớn nhằm vào Kyiv, dội gần 100 hỏa tiễn đạn đạo xuống thủ đô. Cuộc tấn công nhắm vào khu vực văn hóa và lịch sử trọng điểm của thành phố, gây thiệt hại cho các bảo tàng, trường học và các tòa nhà chính phủ.

Vụ tấn công liên quan đến việc phóng hỏa tiễn đạn đạo tầm trung Oreshnik, một hệ thống vũ khí mới mà Nga đã triển khai đến Belarus. Quy mô của vụ tấn công và việc sử dụng hỏa tiễn Oreshnik càng làm dấy lên lo ngại về sự leo thang căng thẳng từ phía Belarus.

Andrii Demchenko, phát ngôn nhân của Lực lượng Biên phòng Ukraine, cho biết trong chương trình gây quỹ bác ái do nhà nước tổ chức ngày 24 tháng 5 rằng hiện không có sự tăng cường quân sự nào ở biên giới với Belarus.

“Nếu nói về đường biên giới của chúng ta, thì may mắn thay, tính đến thời điểm này, chúng tôi không ghi nhận bất kỳ sự di chuyển nào của thiết bị, vũ khí hoặc nhân sự trong khu vực sát biên giới hay sự tập trung quân sự nào như vậy”, ông Demchenko nói, mặc dù ông cảnh báo rằng các đơn vị tình báo đã báo cáo về áp lực ngày càng tăng từ Nga đối với Belarus để tham gia chiến tranh.

Trước đây, Macron từng nói rằng Âu Châu và Nga nên tham gia đối thoại trực tiếp về cuộc chiến ở Ukraine, bao gồm cả các cuộc đàm phán với Putin. Vào tháng 12 năm 2025, ông cho biết công tác chuẩn bị kỹ thuật đang được tiến hành để đặt nền tảng cho các cuộc thảo luận như vậy.

Cuộc điện đàm cuối cùng giữa Macron và Lukashenko diễn ra vào ngày 26 tháng 2 năm 2022, chỉ hai ngày sau khi Nga phát động cuộc xâm lược toàn diện Ukraine.

[Kyiv Independent: France's Macron issues warning to Belarus in rare phone call with Lukashenko]

7. Thượng Nghị Sĩ Lindsey Graham nhắn nhủ Tổng thống Trump: “Hãy kiên định lập trường của mình” trong các cuộc đàm phán với Iran.

Thượng Nghị Sĩ đảng Cộng hòa Lindsey Graham của bang Nam Carolina đã khuyên Tổng thống Trump nên “kiên định lập trường của mình trong khi đàm phán với Iran” và kêu gọi các đồng minh của Mỹ ở Trung Đông tham gia Hiệp định Abraham.

Cảnh báo rằng ngày nay, Hoa Kỳ đang ở trong tình thế còn tệ hơn so với trước khi chiến tranh bắt đầu hơn 3 tháng trước, Graham nói:

“Tổng thống Trump: Hãy kiên định lập trường của mình trong việc đạt được một thỏa thuận tốt với Iran,” Graham nói. “Điều quan trọng không kém, hãy kiên định yêu cầu Ả Rập Xê Út và các nước khác tham gia Hiệp định Abraham như một phần của các cuộc đàm phán này.”

Thượng nghị sĩ Graham cho biết nếu kết quả của các cuộc đàm phán nhằm chấm dứt chiến tranh với Iran, các đồng minh của Mỹ trong khu vực đồng ý tham gia Hiệp định Abraham, vốn bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Israel và bốn quốc gia Ả Rập vào năm 2020, thì thỏa thuận này sẽ là “một trong những thỏa thuận quan trọng nhất trong lịch sử Trung Đông”.

Ông Graham nói: “Việc Ả Rập Xê Út, Qatar và Pakistan tham gia Hiệp định Abraham sẽ tạo ra sự thay đổi to lớn cho khu vực và thế giới. Đây là một bước đi xuất sắc của Tổng thống Trump.”

Tổng thống Trump đã cảm ơn các quốc gia Trung Đông vào sáng Chúa Nhật vì sự ủng hộ của họ trong nỗ lực đạt được thỏa thuận với Iran, nói rằng thỏa thuận này sẽ “được tăng cường và củng cố hơn nữa nếu họ tham gia cùng các quốc gia thuộc Hiệp định Abraham lịch sử”.

Trong bài đăng của mình, Graham đã trực tiếp kêu gọi Ả Rập Xê Út và các quốc gia khác, nói rằng nếu “các bạn từ chối đi theo con đường mà Tổng thống Trump đề xuất, điều đó sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho mối quan hệ tương lai của chúng ta và khiến đề xuất hòa bình này trở nên không thể chấp nhận được.”

[CBSNews: Sen. Lindsey Graham to Trump: “Stick to your guns” in Iran negotiations]

8. Thượng Nghị Sĩ Van Hollen bình luận về thỏa thuận sắp đạt được: “Khi bạn đang trong tình thế tồi tệ, bạn đừng làm tình trạng tồi tệ hơn”.

Thượng Nghị Sĩ đảng Dân chủ Chris Van Hollen của bang Maryland đã chỉ trích thỏa thuận sắp được ký kết với Iran, nói rằng “Nếu bạn thấy mình đang ở trong một cái hố, hãy ngừng đào.”

Đó là một câu tục ngữ trong nền văn hóa nói tiếng Anh. Nó được sử dụng như một phép ẩn dụ, cảnh báo rằng khi ở trong một tình thế bi đát, tốt nhất là nên ngừng làm cho tình hình trở nên tồi tệ hơn.

“Thỏa thuận này nghe có vẻ như vậy,” Van Hollen nói trên chương trình “Face the Nation with Margaret Brennan”. “Nghe có vẻ như chúng ta sẽ quay lại việc mở cửa eo biển Hormuz, vốn dĩ đã được mở trước khi chiến tranh bắt đầu.”

Van Hollen nói rằng “có vẻ như Iran sẽ duy trì quyền kiểm soát lớn hơn đối với các eo biển đó”, đồng thời nói thêm rằng “chúng ta cũng biết Iran hiện có một chế độ cứng rắn hơn nữa, và chúng ta đang thảo luận về việc trả lại một số tài sản bị đóng băng của Iran”.

“Vậy nên, quan điểm của tôi, như tôi đã nói, là hãy ngừng đào bới đi,” ông ấy nói.

Dân biểu đảng Dân chủ bang Maryland gọi cuộc chiến là “một sai lầm lớn ngay từ đầu”.

“Tổng thống lẽ ra nên giữ đúng lời hứa trong chiến dịch tranh cử là tránh chiến tranh và tập trung vào việc giảm giá cả, nhưng ông ấy lại làm điều ngược lại,” ông nói. “Giá cả đang tăng, lãi suất đang tăng, và chúng ta đang sa lầy trong cuộc chiến ở Iran.”

[CBSNews: Sen. Van Hollen on emerging deal: “When you're digging a hole, you should stop digging”]

9. Bà Von der Leyen sẽ đến Lithuania để đàm phán về khủng hoảng máy bay điều khiển từ xa.

Chủ tịch Ủy ban Âu Châu Ursula von der Leyen sẽ đến Lithuania vào Thứ Ba, 26 Tháng Năm, sau một loạt vụ xâm nhập bằng máy bay điều khiển từ xa khiến người dân được yêu cầu tìm nơi trú ẩn an toàn trong tầng hầm và hầm tránh bom.

Bà Von der Leyen dự kiến sẽ gặp gỡ các nguyên thủ quốc gia và nhà lãnh đạo chính phủ các nước Baltic để hỗ trợ điều phối ứng phó, ba quan chức am hiểu về chuyến thăm này — yêu cầu giấu tên để chia sẻ chi tiết — nói với POLITICO. Ủy viên quốc phòng Andrius Kubilius cũng sẽ đến Lithuania.

Một trong những quan chức cho biết, ngoài việc thể hiện “tinh thần đoàn kết với các quốc gia Baltic”, chuyến thăm sẽ tập trung vào việc tăng cường năng lực quốc phòng chung thông qua các chương trình tài chính và lập kế hoạch trọng điểm của Ủy ban.

Hôm thứ Tư, Lithuania đã ban hành cảnh báo trên không sau khi phát hiện một máy bay điều khiển từ xa đi lạc gần biên giới nước này với Belarus, dẫn đến việc kích hoạt nhiệm vụ tuần tra không phận Baltic của NATO.

Vụ việc xảy ra sau khi hai máy bay điều khiển từ xa của Ukraine, dự định gửi đến Nga, bị rơi xuống một kho chứa dầu bỏ trống ở Latvia hồi đầu tháng này - gây ra một cuộc khủng hoảng dẫn đến sự sụp đổ của liên minh cầm quyền. Một máy bay chiến đấu của NATO đã bắn hạ một máy bay điều khiển từ xa trong không phận Estonia tuần trước.

“Những lời đe dọa công khai của Nga đối với các quốc gia Baltic của chúng ta là hoàn toàn không thể chấp nhận được”, bà von der Leyen nói trong một thông điệp đăng trên mạng xã hội tuần trước. “Nga và Belarus phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc sử dụng máy bay điều khiển từ xa gây nguy hiểm đến tính mạng và an ninh của người dân ở sườn phía Đông của chúng ta. Âu Châu sẽ đáp trả bằng sự đoàn kết và sức mạnh.”

Ba quốc gia Baltic đã cảnh báo rằng Mạc Tư Khoa đang tìm cách lợi dụng các sự việc để gây chia rẽ giữa Ukraine và các đồng minh Liên Hiệp Âu Châu của nước này — bằng cách đưa ra một tuyên bố chung, trong đó họ bác bỏ “chiến dịch thông tin sai lệch trắng trợn của Nga và những cáo buộc bịa đặt sau các vụ vi phạm không phận, mà Nga sử dụng một cách trơ trẽn để che đậy những thất bại quân sự của mình”.

Vào tháng Hai, Liên Hiệp Âu Châu đã khởi động một kế hoạch tăng cường lực lượng cho các quốc gia tiền tuyến trong bối cảnh lo ngại rằng cuộc chiến của Nga ở Ukraine và các chiến thuật hỗn hợp có nguy cơ gây thiệt hại cho nền kinh tế địa phương. Ủy ban Âu Châu cũng đang xây dựng các kế hoạch giúp các quốc gia tăng cường khả năng phòng không thông qua các chương trình mua sắm và phát triển chung.

[Politico: Von der Leyen to head to Lithuania for drone crisis talks]

10. Israel bắt đầu cuộc chiến với Iran với tư cách là đối tác của Mỹ - và đang kết thúc nó như một kẻ bên lề.

Danny Citrinowicz, một chuyên gia cao cấp về Iran tại Viện Nghiên cứu An ninh Quốc gia Israel, có bài bình luận nhan đề “Israel began the Iran war as a partner of the US — and is ending it on the sidelines”, nghĩa là “Israel bắt đầu cuộc chiến với Iran với tư cách là đối tác của Mỹ - và đang kết thúc nó như một kẻ bên lề.

Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Kim Thúy. Tuy nhiên, xin lưu ý rằng đây là quan điểm của người Do Thái, không nhất thiết là quan điểm của chúng tôi. Chúng tôi chỉ dịch cho rộng đường dư luận.

Khi Thủ tướng Benjamin Netanyahu đưa ra lý lẽ về việc tiến hành cuộc chiến tranh thứ hai với Iran trong vòng tám tháng, ông đã nêu ra hai luận điểm.

Thứ nhất, để Israel tồn tại, mối đe dọa từ chế độ ở Tehran cần phải được ngăn chặn.

“Mục tiêu của chiến dịch là chấm dứt mối đe dọa từ chế độ Ayatollah ở Iran”, ông nói trong một thông điệp video hồi tháng Hai, ngay sau thông điệp của Tổng thống Donald Trump.

Ông Netanyahu nói: “Nếu chúng ta không hành động, chúng ta sẽ phải đối mặt với một Iran hạt nhân, một Iran sở hữu hàng chục ngàn hỏa tiễn đạn đạo, một Iran tìm cách tiêu diệt chúng ta và sẽ miễn nhiễm với các biện pháp đối phó của chúng ta.”

Lập luận thứ hai, có phần ngầm hơn, là cuộc chiến này đại diện cho một cơ hội mà Israel không thể bỏ lỡ: cơ hội được chiến đấu với kẻ thù chính của mình khi sát cánh với đội quân hùng mạnh nhất trong lịch sử thế giới. Bằng cách tiến hành cuộc chiến này, Netanyahu cho rằng Mỹ và Israel đang xích lại gần nhau hơn bao giờ hết.

“Chúng tôi đang thực hiện điều này với sự phối hợp đầy đủ với những người bạn của chúng tôi ở Mỹ, dưới sự lãnh đạo dũng cảm của Tổng thống Trump,” ông nói. “Là một dân tộc trân trọng sự sống, chúng tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài việc ra trận. Nhưng lần này, chúng tôi làm điều đó với sức mạnh tổng hợp to lớn của Nhà nước Israel và Hoa Kỳ.”

Ngay từ đầu bài phát biểu, ông đã trấn an đất nước mình: “Chiến dịch này sẽ tiếp tục chừng nào còn cần thiết.”

Ba tháng sau, hầu như ai cũng đồng ý ở Israel rằng mục tiêu đầu tiên của cuộc chiến – lật đổ chế độ và loại bỏ mối đe dọa từ nó – vẫn chưa đạt được. Chế độ Iran vẫn tồn tại. Nó vẫn sở hữu phần lớn kho hỏa tiễn đạn đạo và kho dự trữ uranium làm giàu. Và thêm một rắc rối nữa là giờ đây nó cũng kiểm soát eo biển Hormuz.

Giờ đây, dường như lý do thứ hai mà Netanyahu đưa ra cho cuộc chiến – xây dựng mối quan hệ Mỹ-Israel mạnh mẽ chưa từng có – cũng đang sụp đổ. Netanyahu tuyên bố ông và Tổng thống Trump là đối tác, nhưng ông đang kết thúc cuộc chiến một cách thụ động. Và ông không phải là người duy nhất bị xa lánh: Ngoài việc rơi vào thế bất lợi về chiến lược sau cuộc chiến với Iran, Israel còn vốn không được lòng người dân của đồng minh lớn nhất của mình.

Quả thực, Mỹ và Israel đã cùng nhau khởi động cuộc chiến này. Nhưng họ đang kết thúc nó một cách riêng lẻ, hay nói chính xác hơn, Tổng thống Trump đang tự mình kết thúc nó, còn Netanyahu thì đứng ngoài quan sát.

Tổng thống Trump, đúng như tính cách của mình, đã nói rõ điều này với báo chí tuần trước rằng nhà lãnh đạo Israel sẽ “làm bất cứ điều gì tôi muốn ông ta làm”.

Thêm bằng chứng về động thái này xuất hiện vào thứ Bảy, khi Tổng thống Trump, trong lúc đang tiến hành các cuộc đàm phán quan trọng với Tehran, đã có cuộc điện đàm theo kiểu thượng đỉnh với một nhóm các nhà lãnh đạo Trung Đông để thông báo cho họ về các cuộc đàm phán. Ông Netanyahu không được mời tham gia.

Ông Netanyahu và Tổng thống Trump đã nói chuyện với nhau vào tối hôm đó, sau khi gần như chắc chắn rằng Washington và Tehran sắp đạt được một bản ghi nhớ, dựa trên các cuộc đàm phán mà rõ ràng là không bao gồm Israel.

Theo các nguồn tin, Tổng thống Trump đã thúc giục các quốc gia Ả Rập và Hồi giáo trong cuộc điện đàm bình thường hóa quan hệ với Israel. Còn ông Netanyahu, trong một bài đăng hôm Chúa Nhật, khẳng định rằng ông và Tổng thống Trump “đã đồng ý rằng bất kỳ thỏa thuận cuối cùng nào với Iran cũng phải loại bỏ mối nguy hiểm hạt nhân”. Ông nói thêm: “Điều đó có nghĩa là phải tháo dỡ các cơ sở làm giàu uranium của Iran và loại bỏ vật liệu hạt nhân đã được làm giàu khỏi lãnh thổ của nước này”.

Tổng thống Trump và Netanyahu có thể đã đồng ý với tất cả những điều đó. Nhưng Tổng thống Trump thường xuyên tự mâu thuẫn với chính mình trước công chúng, và nổi tiếng là người thích thương lượng, một kỹ năng thường bao gồm việc thay đổi lập trường và nhượng bộ. Ông đã nói điều này trong một bài đăng trên Truth Social hôm Chúa Nhật, trong đó ông viết rằng bất kỳ thỏa thuận nào ông đạt được với Iran sẽ là “tốt và đúng đắn” nhưng “chưa ai nhìn thấy nó, hoặc biết nó là gì. Nó thậm chí còn chưa được đàm phán hoàn toàn.”

Nói cách khác, một thỏa thuận cuối cùng với Iran hoàn toàn có thể dẫn đến việc giải tán chương trình hạt nhân của nước này, hoặc thậm chí là thiết lập quan hệ giữa Giêrusalem và Riyadh. Nhưng Israel không có gì bảo đảm điều đó, và Netanyahu sẽ không có mặt tại bàn đàm phán để quyết định thỏa thuận.

Vấn đề không chỉ xoay quanh Netanyahu, người mà xét cho cùng có thể vẫn giữ chức thủ tướng hoặc không trong một năm tới. Ông ấy không phải là thủ tướng Israel duy nhất có mâu thuẫn với tổng thống Mỹ, ngay cả khi liên minh đang diễn ra tốt đẹp.

Vấn đề đối với các nhà lãnh đạo Israel thuộc mọi phe phái chính trị là, ít nhất trong tương lai gần, Tổng thống Trump có thể là nhà lãnh đạo Mỹ thân thiện nhất mà họ có thể hy vọng. Tuần trước, một loạt dữ liệu thăm dò dư luận mới đã cho thấy điều mà giờ đây đã trở nên quen thuộc: Sau các cuộc chiến ở Gaza, Li Băng và Iran, người Mỹ đang dần mất thiện cảm với Israel.

Cuộc khảo sát của New York Times/Siena cho thấy hầu hết người Mỹ không tán thành cách Tổng thống Trump giải quyết cuộc chiến tranh với Iran và xung đột Israel-Palestine, đồng thời phản đối sự hỗ trợ quân sự và kinh tế của Mỹ dành cho Israel. Trong mỗi trường hợp, sự phản đối đều rất mạnh mẽ trong số những người thuộc đảng Dân chủ, nhưng khoảng một phần tư số người thuộc đảng Cộng hòa cũng phản đối các chính sách của Tổng thống Trump trên những mặt trận này. Chỉ có 56% người thuộc đảng Cộng hòa cho biết họ muốn ứng cử viên tổng thống tiếp theo của mình noi theo đường lối của Tổng thống Trump về vấn đề Israel.

Một cách khác để hiểu dữ liệu đó, tất nhiên, là hầu hết đảng viên Cộng hòa — nếu không phải hầu hết người Mỹ — vẫn ủng hộ Israel. Vì vậy, nếu đảng Cộng hòa bằng cách nào đó giữ được quyền kiểm soát chính phủ Mỹ sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tháng 11, thì tình trạng hiện tại có thể tiếp tục.

Nhưng hiện trạng đó không phải là mối quan hệ đối tác Mỹ-Israel sát cánh bên nhau như được mô tả trong bài phát biểu của Netanyahu. Thay vào đó, đó là một hiện trạng mà tổng thống Mỹ đang loại Israel ra khỏi các cuộc đàm phán với Iran, và trong đó ông công khai khoe khoang về việc kiểm soát thủ tướng Israel. Hiện trạng đó là một hiện trạng mà sự ủng hộ của cử tri Mỹ dành cho Israel đang giảm mạnh đúng vào thời điểm Mỹ đang đàm phán một thỏa thuận có thể quyết định vị thế của Israel ở Trung Đông trong nhiều năm tới.

Tổng thống Trump thường xuyên bày tỏ mong muốn được xem là người kiến tạo hòa bình, và nếu ông thành công trong việc chấm dứt cuộc chiến do chính mình khởi xướng, ông có thể sẽ lại khẳng định vị thế đó. Nhưng dù Israel bắt đầu cuộc chiến với Mỹ, kết cục của nó chủ yếu sẽ do Mỹ quyết định. Những lời đe dọa hiếu chiến, mang tính diệt vong đối với Israel có lẽ vẫn sẽ tồn tại, trong khi sự ủng hộ của Mỹ đối với việc chống lại chúng lại dần biến mất.

[Times Of Israel: Israel began the Iran war as a partner of the US — and is ending it on the sidelines]

11. Nhà xuất bản của tờ Tờ New York Times chỉ trích các hãng tin vì “nhượng bộ” trước chính quyền Trump.

AG Sulzberger, chủ bút tờ New York Times, đã lên án mạnh mẽ những hành động xâm phạm tự do báo chí của Tổng thống Trump và chỉ trích các hãng tin mà ông cáo buộc đã nhượng bộ trước áp lực từ Tòa Bạch Ốc.

Kể từ khi tổng thống trở lại Tòa Bạch Ốc năm ngoái, tờ Times đã vướng vào một số vụ kiện lớn chống lại Tổng thống Trump và chính phủ liên bang, cả với tư cách bị đơn và nguyên đơn.

“Sẽ chẳng có lợi cho ai nếu né tránh thực tế rằng Tổng thống Trump đã sử dụng một loạt các công cụ và quyền lực ngày càng rộng rãi để tấn công giới báo chí một cách quyết liệt hơn nhiều so với những người tiền nhiệm hiện đại của ông,” Sulzberger phát biểu tại một sự kiện của Trường Luật Yale ở thành phố New York, theo bản ghi lại bài phát biểu của ông được tờ Times đăng tải. Ông đã liệt kê chính sách trung thành với Ngũ Giác Đài của báo chí, mà một thẩm phán liên bang đã phán quyết là vi hiến vào tháng 3; các vụ kiện của Tổng thống Trump chống lại tờ Des Moines Register, The Wall Street Journal và BBC; và việc CBS thay đổi chương trình, nhân sự và chính sách dưới quyền sở hữu mới, David Ellison.

Sulzberger lên án các cơ quan truyền thông mà ông cho là đã dàn xếp “những vụ kiện có thể thắng” với tổng thống, chuyển hướng trang xã luận của họ khỏi những lời chỉ trích Tòa Bạch Ốc và sử dụng ngôn ngữ ưa thích của Tổng thống Trump trong các bài báo của mình, chẳng hạn như thay thế Vịnh Mexico bằng Vịnh Mỹ - tất cả nhằm “làm hài lòng chính quyền hoặc thúc đẩy lợi ích kinh doanh của họ”.

Ông nói: “Sự nhượng bộ như vậy, ngay cả những trường hợp nhỏ nhặt, chỉ càng khiến chính quyền thêm tự tin để tiếp tục tấn công báo chí.”

Tòa Bạch Ốc chưa đưa ra phản hồi ngay lập tức về yêu cầu bình luận.

Tháng 9 năm ngoái, Tổng thống Trump đã kiện tờ Times đòi 15 tỷ đô la, cáo buộc tờ báo 175 năm tuổi này là “cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Dân chủ”, tại một tòa án ở Florida. Thẩm phán đã bác bỏ vụ kiện chỉ vài ngày sau đó. Vào tháng 5, chính quyền đã kiện tờ Times về các hoạt động tuyển dụng của tờ báo, cáo buộc công ty đã phân biệt đối xử với một nhân viên nam da trắng bằng cách không tuyển dụng anh ta vào vị trí biên tập.

Sulzberger cũng nhấn mạnh đến các vụ kiện đang được tờ báo tiến hành để khôi phục quyền tiếp cận Ngũ Giác Đài. Sau chiến thắng hồi tháng 3, tờ Times đã đệ đơn kiện vào đầu tuần này, thách thức yêu cầu của Bộ Quốc phòng rằng các phóng viên phải có người hộ tống khi vào tòa nhà, cho rằng chính sách này cản trở khả năng đưa tin về quân đội Mỹ của các nhà báo.

“Một số tổ chức tin tức đã đứng lên phản đối những nỗ lực của chính quyền Trump nhằm tấn công và trừng phạt báo chí độc lập,” ông nói, đồng thời nêu bật tên tờ Journal, hãng thông tấn Associated Press và đài NPR. “Điều đó rất quan trọng bởi vì, nếu không có những thân chủ dũng cảm, những luật sư giỏi sẽ không thể khẳng định hay bảo vệ quyền của một nền báo chí tự do và độc lập.”

[Politico: NYT publisher calls out news outlets for ‘capitulation’ to Trump administration]



12. Số người thiệt mạng trong các cuộc tấn công của Israel tại Li Băng đã vượt quá 3.100.

Bộ Y tế Li Băng cho biết, hơn 3.100 người đã thiệt mạng trong các cuộc tấn công của Israel tại Li Băng kể từ ngày 2 tháng 3.

Theo Bộ Y tế, số người chết đã tăng lên 3.111, trong khi số người bị thương lên đến 9.432.

Các cuộc tấn công của cả Israel và Hezbollah do Iran hậu thuẫn vẫn tiếp diễn bất chấp thỏa thuận ngừng bắn do Mỹ làm trung gian giữa Li Băng và Israel được công bố vào giữa tháng Tư. Hezbollah đã bác bỏ thỏa thuận ngừng bắn này.

Li Băng và Israel đã tham gia các cuộc đàm phán hòa bình tại Washington, với vòng đàm phán thứ tư dự kiến sẽ được tổ chức vào tháng Sáu. Hezbollah phản đối các cuộc đàm phán này và từ chối giao nộp vũ khí theo yêu cầu của chính phủ Li Băng.

Li Băng sẽ thành lập một phái đoàn quân sự để tham gia các cuộc đàm phán an ninh với Israel tại Ngũ Giác Đài vào ngày 29 tháng 5 — một bước đi đã được đồng ý trong vòng đàm phán trực tiếp mới nhất hồi đầu tháng này.

[Times Of Israel: Death toll from Israeli attacks in Lebanon tops 3,100]

13. Rubio nói rằng chiến tranh ở Iran sẽ “được giải quyết bằng cách này hay cách khác”.

Ngoại trưởng Marco Rubio cho biết, mặc dù đã có tiến triển trong việc đạt được thỏa thuận với Iran, nhưng cuộc xung đột sẽ “được giải quyết bằng cách này hay cách khác”.

“Tổng thống luôn ưu tiên tìm cách giải quyết những vấn đề này bằng con đường ngoại giao,” Rubio nói với các phóng viên, đề cập đến tham vọng hạt nhân của Iran và tình trạng tắc nghẽn giao thông ở eo biển Hormuz. “Ông ấy muốn tôi và Bộ Ngoại giao giải quyết vấn đề này hơn là để Bộ Chiến tranh phải giải quyết.”

Rubio nói rằng nếu thỏa thuận do Mỹ và “các đối tác trong khu vực Vịnh” soạn thảo được Iran chấp nhận, điều đó có thể “không chỉ mở hoàn toàn eo biển” mà còn chấm dứt tham vọng hạt nhân của Tehran.

Ngoại trưởng Rubio cảnh báo rằng thỏa thuận vẫn cần được Iran chấp nhận và cần phải có sự tuân thủ. Ông nói thêm rằng sẽ cần phải có “những cuộc đàm phán chi tiết trong tương lai”, đặc biệt là về chương trình hạt nhân của Iran. Ông cho biết mặc dù có thể có “tin tốt” về một thỏa thuận vào Chúa Nhật, nhưng đó sẽ không phải là “tin cuối cùng”.

“Đã có một số tiến bộ… Tôi không muốn hạ thấp điều đó, nhưng tôi cũng muốn nói thêm rằng chúng ta vẫn còn nhiều việc phải làm,” Rubio nói. “Chúng ta hãy chờ xem.”

Trong khi đó, sáng Thứ Hai, 25 Tháng Năm, Đài truyền hình quốc gia Iran cho biết không đạt được tiến bộ nào trong các cuộc đàm phán với Hoa Kỳ trong những ngày qua.

[CBSNews: Rubio says war in Iran will be “solved one way or the other”]