Ngày 23-06-2024
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Lễ Thánh Gioan Tẩy Giả 24/6 dành cho những người không thể đến nhà thờ
Giáo Hội Năm Châu
00:53 23/06/2024

BÀI ĐỌC 1  Is 49:1-6

Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.

Hỡi các đảo, hãy nghe tôi đây, hỡi các dân tộc miền xa xăm, hãy chú ý:

Đức Chúa đã gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ, lúc tôi chưa chào đời, Người đã nhắc đến tên tôi. Người đã làm cho miệng lưỡi tôi nên như gươm sắc bén, giấu tôi dưới bàn tay của Người. Người đã biến tôi thành mũi tên nhọn, cất tôi trong ống tên của Người.

Người đã phán cùng tôi: “Hỡi Ít-ra-en, ngươi là tôi trung của Ta. Ta sẽ dùng ngươi để biểu lộ vinh quang.” Phần tôi, tôi đã nói: “Tôi vất vả luống công, phí sức mà chẳng được gì.”

Nhưng sự thật, đã có Đức Chúa minh xét cho tôi, Người dành sẵn cho tôi phần thưởng.

Giờ đây Đức Chúa lại lên tiếng. Người là Đấng nhào nặn ra tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ để tôi trở thành người tôi trung, đem nhà Gia-cóp về cho Người và quy tụ dân Ít-ra-en chung quanh Người. Thế nên tôi được Đức Chúa trân trọng, và Thiên Chúa tôi thờ là sức mạnh của tôi.

Người phán: “Nếu ngươi chỉ là tôi trung của Ta để tái lập các chi tộc Gia-cóp, để dẫn đưa các người Ít-ra-en sống sót trở về, thì vẫn còn quá ít. Vì vậy, này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất.”

Đó là Lời Chúa.

BÀI ĐỌC 2  Cv 13:22-26

Bài trích sách Công vụ Tông đồ.

Khi đến An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a, ông Phao-lô đứng giữa hội đường và nói:

“Sau khi truất phế vua Sa-un, Người đã cho ông Đa-vít xuất hiện làm vua cai trị họ. Người đã làm chứng về ông rằng: ‘Ta đã tìm được Đa-vít, con của Gie-sê, một người đẹp lòng Ta và sẽ thi hành mọi ý muốn của Ta.’

Từ dòng dõi vua này, theo lời hứa, Thiên Chúa đã đưa đến cho Ít-ra-en một Đấng Cứu Độ là Đức Giê-su. Để dọn đường cho Đức Giê-su, ông Gio-an đã rao giảng kêu gọi toàn dân Ít-ra-en chịu phép rửa tỏ lòng sám hối.

Khi sắp hoàn thành sứ mệnh, ông Gio-an đã tuyên bố: ‘Tôi không phải là Đấng mà anh em tưởng đâu, nhưng kìa Đấng ấy đến sau tôi, và tôi không đáng cởi dép cho Người.’

Thưa anh em, là con cái thuộc dòng giống Áp-ra-ham, và thưa anh em đang hiện diện nơi đây, là những người kính sợ Thiên Chúa, lời cứu độ này được gửi tới chúng ta.”

Đó là Lời Chúa.

TUNG HÔ TIN MỪNG  Lc 1:76

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a.
Hài Nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng Tối Cao:
con sẽ đi trước Chúa, mở lối cho Người.
Ha-lê-lui-a.

TIN MỪNG  Lc 1:57-66,80

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

Tới ngày mãn nguyệt khai hoa, bà Ê-li-sa-bét sinh hạ một con trai. Nghe biết Chúa đã quá thương bà như vậy, láng giềng và thân thích đều chia vui với bà.

Khi con trẻ được tám ngày, họ đến làm phép cắt bì, và tính lấy tên cha là Da-ca-ri-a mà đặt cho em. Nhưng bà mẹ lên tiếng nói: “Không, phải đặt tên cháu là Gio-an.”

Họ bảo bà: “Trong họ hàng của bà, chẳng ai có tên như vậy cả.”

Rồi họ làm hiệu hỏi người cha, xem ông muốn đặt tên cho em bé là gì. Ông xin một tấm bảng nhỏ và viết: “Tên cháu là Gio-an.”

Ai nấy đều bỡ ngỡ. Ngay lúc ấy, miệng lưỡi ông lại mở ra, ông nói được, và chúc tụng Thiên Chúa. Láng giềng ai nấy đều kinh sợ. Và các sự việc ấy được đồn ra khắp miền núi Giu-đê.

Ai nghe cũng để tâm suy nghĩ và tự hỏi: “Đứa trẻ này rồi ra sẽ thế nào đây?”

Và quả thật, có bàn tay Chúa phù hộ em.

Cậu bé càng lớn lên thì tinh thần càng vững mạnh. Cậu sống trong hoang địa cho đến ngày ra mắt dân Ít-ra-en.

Đó là Lời Chúa.
 
Vị Ngôn sứ cao cả nhất
Lm Phêrô Nguyễn Văn Hương
07:08 23/06/2024
LỄ SINH NHẬT THÁNH GIOAN TẨY GIẢ (24/6)
Is 49,1-6; Cv 13,22-26; Lc 1,57-66.80
VỊ NGÔN SỨ CAO CẢ NHẤT

Hôm nay toàn thể Giáo Hội Công Giáo mừng trọng thể lễ sinh nhật của thánh Gioan Tẩy Giả. Từ thế kỷ thứ IV, Giáo Hội đã cử hành thánh lễ này rồi. Đây là một lễ rất lâu đời xét về mặt thời gian. Câu hỏi đầu tiên đặt ra là tại sao Giáo Hội mừng lễ sinh nhật của thánh Gioan Tẩy Giả cách trọng thể như thế?

1. Lý do mừng lễ

Trong phụng vụ, Giáo Hội thường có thói quen lấy ngày qua đời của các thánh để mừng kính và coi đó là lễ sinh nhật đích thực của các thánh ở trên trời (dies natalis). Tuy nhiên, thánh Gioan Tẩy là một trường hợp đặc biệt. Giáo Hội cử hành trọng thể lễ sinh nhật và cả ngày qua đời của thánh nhân. Bởi vì, Giáo Hội xác tín rằng: thánh Gioan Tẩy Giả được thánh hóa nên thánh thiện ngay từ trong lòng mẹ, trước khi được sinh ra nhờ sự hiện diện cứu độ của Chúa Kitô, khi Đức Maria đến viếng thăm bà Êlisabét (x. Lc 2,28-35). Ngay từ giây phút gặp gỡ đó, Gioan Tẩy Giả đã được cứu độ và sinh nhật của ngài là một sự sinh ra trong thánh thiện (theo Augustinô giải thích). Đó là lý do mà Giáo Hội mừng lễ sinh nhật của ngài, như mừng lễ sinh nhật của Chúa Giêsu và Đức Trinh Nữ Maria. Như thế, trong năm phụng vụ, chỉ có ba lễ sinh nhật của ba Đấng trên được mừng theo ý nghĩa này.

2. Ý nghĩa tên gọi Gioan Tẩy Giả

Trong Kinh Thánh, tên gọi luôn chứa đựng những ý nghĩa đặc biệt. Tin Mừng hôm nay cho biết: Khi được sinh ra, ai cũng muốn đặt tên cho con trẻ là Dacaria, tên của người cha theo truyền thống Do Thái. Nhưng bà Êlisabét muốn đặt tên cho con trẻ là Gioan. Dù đang bị câm, ông Dacaria lấy một tấm bảng và viết ra cho mọi người biết rằng ông cũng muốn đặt tên là Gioan. Tên gọi này có một ý nghĩa đặc biệt (x. Lc 1,57-66.80).

“Gioan” trong tiếng Do Thái có nghĩa là “Thiên Chúa rủ lòng thương.” Quả thật, việc hiếm muộn là một nỗi buồn luôn đè nặng lên gia đình ông bà cả về phương diện xã hội và tôn giáo. Ông Dacaria và bà Êlisabét luôn khát khao có một đứa con để nối dõi tông đường. Nhờ sự kiên trì cầu nguyện, Thiên Chúa đã nhận lời cầu và ban cho họ một đứa con trai trong khi cả hai đã già rồi. Đứa con chính là quà tặng của lòng thương xót, thực sự Thiên Chúa đã rủ lòng thương đối với ông bà.

Còn từ “Tẩy Giả” có nghĩa là gắn liền với sứ vụ của con trẻ. Tẩy Giả (Baptiste) có nghĩa là người thanh tẩy, người làm phép rửa. Quả thế, khi lớn lên, Gioan đã đóng vai trò là người làm phép rửa cho Chúa Giêsu để Người bắt đầu sứ vụ rao giảng. Ông còn làm phép rửa cho dân chúng, kêu gọi họ sám hối và dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến.

Trong văn hóa Do Thái, người ta có tập tục khá thú vị: khi tổ chức đám cưới, người ta chọn người phụ dâu và phụ rể. Người phụ rể có nhiệm vụ tắm rửa cho chú rể và chuẩn bị để chú rể gặp cô dâu. Trong Tin Mừng, thánh Gioan Tẩy Giả có lần tự xưng mình là người phụ rể của chàng rể là Chúa Giêsu:
“Ai cưới cô dâu, người ấy là chú rể. Còn người bạn của chú rể đứng đó nghe chàng, thì vui mừng hớn hở vì được nghe tiếng nói của chàng” (Ga 3,29).

Quả thế, việc Con Thiên Chúa làm người và ở giữa chúng ta được coi như là một “hôn lễ” mà Thiên Chúa ký kết với nhân loại. Theo ý nghĩa này, Gioan Tẩy Giả đã làm phép rửa cho Chúa Giêsu như người chuẩn bị cho Tân Lang gặp gỡ Tân Nương là Giáo Hội. Đây chính là ý nghĩa của từ Tẩy Giả. Chỉ Gioan là người duy nhất có được sự hân hạnh và sứ mạng cao cả đó. Bởi thế, ông được chính Chúa Giêsu cho là vị ngôn sứ cao cả nhất trong các ngôn sứ.

3. “Đứa trẻ này sẽ ra sao?”

Câu hỏi này làm cho chúng ta suy nghĩ về những đứa con của chúng ta. Gioan Tẩy Giả đã trở nên một vị ngôn sứ vĩ đại nhất nhờ sự giáo dục của hai ông bà Dacaria và Êlisabét. Chúng ta cần học hỏi nơi gia đình này những bài học quý báu: Theo họ, con cái là hồng ân của Thiên Chúa. Con cái quý giá hơn vàng hơn bạc. Ngày nay, cũng có nhiều cặp vợ chồng trẻ hiếm muộn, họ rất khát khao lắm có được một mụn con mà không được. Họ thật đáng thương! Nhưng tôi rất ngạc nhiên, bởi lẽ hôm nay nhiều bạn trẻ cưới nhau nhưng không muốn sinh con. Người ta sợ phải vất vả, hy sinh! Có điều gì đó không tự nhiên.

Nếu Thiên Chúa ban cho các cặp vợ chồng có con, hãy trân trọng quà tặng đó, hãy hy sinh và giáo dục con cái nên người tốt, nên người con cái Thiên Chúa. “Đứa trẻ này sẽ ra sao” là câu hỏi mà các bậc cha mẹ luôn phải canh cánh trong lòng, đặt ra cho mình. Nó sẽ ra sao phần lớn là nhờ vào sự giáo dục của cha mẹ.

Trong các gia đình Việt Nam, nhiều bậc cha mẹ áp dụng lối giáo dục cũ xưa một cách cứng nhắc: “Thương con thì cho roi cho vọt.” Nên nhiều lúc cha mẹ đánh đập, dọa nạt, áp đặt con cái, làm cho chúng sợ sệt, mặc cảm và bị tổn thương. Lối giáo dục này không còn phù hợp nữa, cần phải thay đổi.

Nhưng không ít bậc cha mẹ lại áp dụng lối giáo dục con cái theo kiểu hiện đại, nhưng quá nuông chiều, quá tự do, con muốn gì cho nấy, không có hướng dẫn, không kỷ luật, nên con dễ hư. Hoặc nhiều cha mẹ lo làm ăn, mà không có thời gian dành cho con cái và giáo dục chúng. Tôi xin khuyên các bậc cha mẹ nên dành thời gian cho con cái. Đặc biệt, chúng ta cần chú ý giáo dục trẻ ngay từ 12 tuổi trở xuống, đó là giai đoạn quan trọng và lý tưởng nhất trong đời xét theo phương diện tâm lý phát triển nhân cách. Đó là giai đoạn dễ uốn nắn nhất, tâm hồn trẻ như tờ giấy trắng, dễ dàng bắt màu với bất cứ phẩm màu nào, trẻ dễ tiếp nhận bất cứ điều gì chúng ta viết lên đó. Giai đoạn này làm nên nhân cách của con người sau này. Vì thế, chúng ta cần giáo dục nhân bản, văn hóa và đức tin cho trẻ, như biết cám ơn, biết xin lỗi, biết chào hỏi, biết tôn trọng người khác… Dạy cho trẻ như biết làm dấu thánh giá, biết đọc kinh và cầu nguyện hằng ngày…
Những điều đó sẽ theo nó suốt đời, nó không bao giờ quên. Như thế, “đứa trẻ này rồi sẻ ra sao” phần lớn tùy vào sự giáo dục của chúng ta. Xin Chúa ban ơn để chúng ta biết chu toàn bổn phận giáo dục con cái trong gia đình mình. Amen!

ĐCV Thánh Phanxicô Xaviê
Nghệ An - Việt Nam
http://nguoinguphu.blogspot.com/
 
Rồi sẽ nên thế nào
Lm. Minh Anh
15:34 23/06/2024
RỒI SẼ NÊN THẾ NÀO?
“Con trẻ này rồi sẽ nên thế nào? Vì quả thực, bàn tay Chúa đã ở với nó!”.

Suy niệm “Năm chiếc bánh và hai con cá”, Philip Clarke Brewer viết, “Chúa sử dụng những gì bạn có, để lấp đầy một nhu cầu bạn không bao giờ có thể lấp đầy; sử dụng nơi bạn ở, để đưa bạn đến một nơi bạn không bao giờ có thể đi đến; sử dụng những gì bạn làm, để hoàn tất những gì bạn không bao giờ có thể thực hiện. Ngài sử dụng bạn, dù bạn là ai, để trở thành một ai đó mà bạn không bao giờ có thể trở thành, và không biết ‘rồi sẽ nên thế nào!’”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Không biết ‘rồi sẽ nên thế nào!’”; đó cũng là những gì họ hàng của Zacharia - Êlisabeth tự hỏi về Gioan! Tin Mừng ngày lễ Sinh Nhật Vị Tiền Hô của Chúa Cứu Thế tường thuật cảnh nhộn nhịp dưới mái nhà của ông bà khi xóm diềng đến chúc mừng họ.

Một em bé chào đời là cách Thiên Chúa nói với thế giới rằng, “Nó sẽ tiếp tục!”; ngày sinh của một thơ nhi phản ánh vẻ đẹp và sự huyền nhiệm vô hạn của Ngài, Đấng nói rằng, “Đã có những phóng chiếu của Ta trên hình hài nó!”. Cha mẹ của em bé có thể coi đó là một nhầm lẫn, sai sót; nhưng Thiên Chúa thì không! Một đôi vợ chồng hiếm muộn ‘mong mỏi’ nó; Thiên Chúa thì ‘khát khao’ nó! Với bất cứ một sinh linh nào, chúng ta đều tin như vậy, phương chi đối với Vị Tiền Hô của Đấng Cứu Thế! Tôma Aquinô viết, “Gioan đã được thánh hoá từ dạ mẹ”; còn Luca, “Em đã đầy Thánh Thần ngay trong lòng mẹ!”.

Isaia chia sẻ một trải nghiệm tương tự, “Chúa đã gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ; lúc tôi chưa chào đời, Người nhắc đến tên tôi”. Được tạo thành cách lạ lùng; Isaia được sai đi còn lạ lùng hơn, “Này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất!” - bài đọc một. Kỳ diệu thay, những lời này ứng nghiệm trên Gioan, trên Chúa Giêsu, Ánh Sáng Muôn Dân. Phaolô xác nhận, “Thiên Chúa đã đưa đến cho Israel một Đấng Cứu Độ là Đức Giêsu. Để dọn đường cho Người, ông Gioan đã rao giảng kêu gọi toàn dân Israel chịu phép rửa tỏ lòng sám hối” - bài đọc hai. Trước huyền nhiệm của việc tạo thành và sai đi này, dẫu không biết ‘rồi sẽ nên thế nào’, Thánh Vịnh đáp ca cũng trào tràn tâm tình tạ ơn, “Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng!”.

Anh Chị em,

“Con trẻ này rồi sẽ nên thế nào?”. Bàn tay Chúa ở với Gioan, Gioan được sinh ra trong một hoàn cảnh đặc biệt cho một sứ mệnh đặc biệt! Nhờ ơn Chúa, Gioan nghiêm túc chu toàn sứ mệnh và hoàn tất nó cách tuyệt vời. Cũng thế, sự xuất hiện của bạn và tôi trên hành tinh này không phải là ngẫu nhiên, nhưng phát xuất từ ý định ngàn đời của Thiên Chúa. Ân sủng và tình thương Ngài ‘không rời chúng ta nửa bước’. Ngài kỳ vọng mỗi người sẽ trở thành ‘một ai đó’ mà ngay cả chúng ta cũng không biết ‘rồi sẽ nên thế nào!’. ‘Một ai đó’, chúng ta không biết, nhưng Thiên Chúa biết! Vậy, hãy cộng tác với ân sủng, nghiêm túc chu toàn bổn phận theo đấng bậc mình và hoàn tất nó cho tuyệt vời! Và như vậy, bạn và tôi đã làm vui lòng Đấng đã nắn đúc mình như Ngài đã nắn đúc Gioan!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con làm Chúa thất vọng khi con không trở nên ‘một ai đó’ mà Chúa kỳ vọng!”, Amen.

(Tgp. Huế)
 
Văn Hóa
Truyền thống Trí thức Công Giáo trong Thế kỷ Hai mươi, Phần hai: TÍN NGƯỠNG VÀ VĂN HÓA, Chương 9
Vũ Văn An
15:08 23/06/2024

Chương 9: Sự tươi mát sâu thẳm của sự vật: Cuộc phục hưng văn học Công Giáo

Christopher Dawson đã xác định bối cảnh lịch sử-văn hóa rộng lớn mà Công Giáo phải đối diện trong thế giới hiện đại. Nhưng có một khía cạnh có tính cách bản vị hơn đối với bối cảnh đó mà nhiều tác giả Công Giáo bắt đầu khám phá để đáp ứng—và thường là một chiều kích bản thân cấp bách. Ví dụ, trong cuốn tiểu thuyết The Girls of Slender Means [Những Cô gái Ít Phương tiện] của Muriel Spark, một trong các nhân vật—bị bối rối bởi cuộc sống hiện đại giống như nhiều người ở thế kỷ 20—thú nhận rằng mọi việc đã đi đến hồi gay cấn đến mức anh ta “không bao giờ quyết định được giữa tự tử và một hành động quyết liệt không kém được gọi là Cha D'Arcy.” (1) Martin D'Arcy, S.J., là một linh mục ngoài đời thực ở Nhà thờ Farm Street, London, người đã hướng dẫn một số người Anh nổi tiếng, bao gồm cả Evelyn Waugh, vào Giáo Hội. Không phải tất cả bọn họ đều tuyệt vọng như vậy. Nhưng Spark - bản thân cô là một người trở lại đạo - đã ghi nhận một điều gì đó trong xã hội thế tục hóa của nước Anh hiện đại, ngay bên bờ vực của cuộc cách mạng văn hóa thập niên 1960, mà chúng ta cũng đã thấy ở phần đầu của tập sách này trong hiệp ước cùng tự sát của Jacques và Raïssa Maritain: với sự biến mất của Thiên Chúa, ít nhất một số trái tim và khối óc nhạy cảm hơn, ngay cả ở các quốc gia thuộc tầng lớp trung lưu, khá giả, vững chắc, cảm nhận được rằng sự lựa chọn thay thế rõ ràng nhất đã xuất hiện giữa tất cả sự giàu có và nhàn hạ và “ văn hóa”—đối với bất cứ ai muốn sống một cuộc đời chân chính và có ý nghĩa.

Ở Anh, một cuộc phục hưng văn học Công Giáo đã bắt đầu từ rất lâu trước Thế Chiến thứ nhất, nghĩa là, nó đã được tiến hành tốt trước trận đầu tiên trong hai trận đại hồng thủy làm lung lay niềm tin thống trị của phương Tây vào sự tiến bộ và tính hợp lý của Phong trào ánh sáng trong thế kỷ XX. Nước Anh đã sớm bắt đầu hướng tới sự hồi sinh này với những nhân vật tầm cỡ thế giới thực sự như John Henry Newman và một trong những học trò của ông, nhà thơ vĩ đại Gerard Manley Hopkins (Hopkins mất năm 1889; những bài thơ của ông đã được viết trước đó, nhưng mãi sau này mới được xuất bản, chiến tranh thế giới thứ nhất và trở thành một cột mốc trong thơ Anh thế kỷ XX). Matthew Arnold, có lẽ là nhà bình luận không theo Kitô giáo vĩ đại nhất về văn hóa ở Anh thế kỷ 19, đã viết một bài thơ nổi tiếng "Dover Beach [Bãi biển Dover]” (1867) rằng ông nghĩ rằng mình đã nghe thấy “tiếng gầm đang lui dần” của đại dương đức tin. Và trong một số khía cạnh, tất nhiên, điều đó đã được chứng minh là đúng. Nhưng đồng thời, sự rút lui đó cũng tạo ra một dòng chảy ngược trong thế kỷ tiếp theo, một làn sóng thực sự của văn học Công Giáo vĩ đại và các đồ tạo tác văn hóa Công Giáo khác bằng tiếng Anh: một vòng cung rộng bao gồm hầu hết những người trở lại đạo trải dài từ Newman và Hopkins đến Oscar Wilde, Robert Hugh Benson (con trai của một tổng giám mục Canterbury), E. I. Watkin, Ronald Knox, Maurice Baring, và G. K. Chesterton đến một thế hệ khác ở Graham Greene, Evelyn Waugh, Alec Guinness, Muriel Spark, Siegfried Sassoon, Edith Sitwell, Malcolm Muggeridge, và người có ảnh hưởng hoàn cầu nhất: J. R. R. Tolkien.

Những đặc điểm nào của thế kỷ 19 đã khiến nhiều bộ óc lỗi lạc ở Anh hướng về Giáo Hội Công Giáo? Đó không phải là nghèo đói hay áp bức chính trị. Sự giàu có bắt đầu tăng lên cho tất cả mọi người với tốc độ chưa từng có, và sự tham gia dân chủ tự do bắt đầu lan rộng. Các phong trào cách mạng khác nhau tụ tập xung quanh Marx - người đã viết Das Kapital [Tư Bản] ở London - đã sai lầm khi tin rằng họ đã chứng minh một cách khoa học rằng chủ nghĩa tư bản và nền dân chủ tư sản sẽ truất quyền sở hữu của người nghèo và những người bị gạt ra ngoài lề xã hội. Ở khắp mọi nơi, người nghèo bắt đầu được hưởng sự giàu có và tự do hơn, với những thiếu sót rõ ràng và sự gián đoạn xã hội. Các nhà làm việc và tai họa đô thị của Dickens chỉ là các hiện tượng nhất thời. Nhưng bất cứ ai có đầu óc tâm linh đều có thể dự đoán - và nhiều người đã làm như vậy trong thế kỷ 19 - rằng sự giàu có và tự do như vậy là trống rỗng sâu xa và cuối cùng không thể thỏa mãn trái tim con người. Thật vậy, một trong những điểm hấp dẫn của chủ nghĩa Mác trong thế kỷ 20 là, vượt lên trên cả những giả định duy vật của nó và bất chấp những tội ác và thất bại lịch sử to lớn của nó, nó cung cấp một sự thay thế biểu kiến cho ý nghĩa và sự nhiệt tình trước đây gắn liền với đức tin tôn giáo.

Sự thất bại, như người ta vào thời điểm đó đã thấy và các giáo hoàng sau này sẽ nhấn mạnh, là một thất bại của nhân học, theo nghĩa là một lý tưởng xã hội, khi chỉ coi sự thịnh vượng vật chất và tự do bản thân như một cùng đích, đã tạo ra một ý tưởng cắt xén về con người. Theo các tiêu chuẩn duy tự nhiên của thế kỷ 19, con người ở thời đại đó và trong những năm sau đó lẽ ra phải ngày càng hoàn thiện hơn, ngày càng nhân bản hơn nhờ các điều kiện vật chất và xã hội phù hợp hơn với bản chất con người. Cuốn tiểu thuyết phản không tưởng [dystopian] Lord of the World [Chúa Thế Giới] (1907) của Robert Hugh Benson đã dự đoán một cách xuất sắc những cách mà chủ nghĩa duy vật và tâm lý học sẽ khiến con người rơi vào một thế giới “duy nhân bản” dứt khoát. Và đó là trước hai cuộc thế chiến, bom nguyên tử, Shoah [Diệt chủng], và sự thao thức không ngừng của người dân ở những quốc gia thịnh vượng nhất và tự do nhất được biết đến trong lịch sử đã chấm dứt ảo tưởng đó cho tất cả mọi người có mắt để nhìn. Nhưng khía cạnh có tính bản thân hơn của vấn đề đã rõ ràng với Matthew Arnold, người đã viết trong “Dover Beach” [Bãi biển Dover]:

“Này, tình yêu, chúng ta hãy chân thật
Với nhau! cho thế giới, mà dường như
Đang nằm trước chúng ta như một vùng đất của những giấc mơ,
Quá đa dạng, quá đẹp, quá mới,
Thực sự không có niềm vui, tình yêu, cũng như ánh sáng,
Cả sự chắc chắn, hòa bình, giúp đỡ nỗi đau cũng không;

Và chúng ta ở đây như trên một đồng bằng tăm tối
Bị cuốn theo những báo động bối rối của cuộc đấu tranh và trốn chạy,
Nơi những đội quân ngu dốt đụng độ vào ban đêm.”


Điều này đặt một gánh nặng lên tình yêu giữa nam và nữ - một gánh nặng thường tỏ ra không thể chịu nổi, đặc biệt là khi chính nền văn hóa bắt đầu mỏng đi trong một thế giới với các chiều kích vị san phẳng. Arnold cũng lập luận nổi tiếng trong Culture and Anarchy [Văn hóa và Vô chính phủ] (1869) rằng văn hóa có thể hoạt động như một sự thay thế cho tôn giáo. Nhưng trong thời đại duy vật chất, điều đó không bền vững hay đáng tin cậy hơn tình yêu lãng mạn. Trong thế kỷ 21, nhiều hình thức của chủ nghĩa duy tự nhiên vẫn khẳng định hạnh phúc tối thượng dựa trên của cải vật chất và xã hội, nhưng chúng phải tạo ra một lý lẽ bênh vực gián tiếp hơn. Những chủ trương trực tiếp trong quá khứ về “sự tiến bộ”—một tương lai hòa bình, sung túc và tình liên đới duy nhân bản thế tục—ngày nay chỉ hữu ích cho các thí sinh cuộc thi sắc đẹp và các chính trị gia với những cử tri có đầu óc rất đơn giản.

Tuy nhiên, tại sao lại quay lưng lại với vùng đất hoang vu này để hướng tới Công Giáo? Ở nước Anh thế kỷ 19, không thể chối cãi rằng Newman là một nhà văn thuộc hàng cao cấp nhất trong văn xuôi của ông và đôi khi đạt đến hàng cao cấp đó ngay cả trong vần thơ của ngài (“The Pillar of the Cloud” [Cột mây] và các đoạn trích từ “Dream of Gerontius” [Giấc mơ của Gerontius] của ngài thường xuyên xuất hiện trong các tuyển tập thơ thế tục thời Victoria—và nhà soạn nhạc Công Giáo người Anh Edward Elgar đã biến “Gerontius” thành một tác phẩm hợp xướng được nhiều người ngưỡng mộ). Newman và Phong trào Oxford trong Anh giáo, trên cơ sở lịch sử xác đáng, đã lập luận, như ngài đã nói một cách nổi tiếng, rằng “đi sâu vào lịch sử là không còn là Thệ Phản nữa.” Ngài đã có ảnh hưởng lớn đến khuôn mạo trí thức của Giáo hội ở các quốc gia nói tiếng Anh và xa hơn thế. Nhưng Newman cũng đưa ra lập trường đặc biệt của người Anh đối với cả sự suy giảm đức tin lẫn sự suy giảm nội dung của Kitô giáo. Như ngài đã bày tỏ trong “Biglietto Speech” [Diễn văn Biglietto] khi được tấn phong Hồng Y:

Trong ba mươi, bốn mươi, năm mươi năm, tôi đã hết sức chống lại tinh thần của Chủ nghĩa Cấp tiến [Liberalism] trong tôn giáo. Chưa bao giờ Thánh Giáo Hội cần những nhà vô địch chống lại nó nhiều hơn bây giờ, khi, than ôi! đó là một sai lầm tràn lan trên toàn trái đất giống như một cái bẫy; và trong dịp trọng đại này, khi, đối với một người ở vị trí của tôi, điều tự nhiên là nhìn ra thế giới, nhìn vào Thánh Giáo Hội như ở trong chính nó, và vào tương lai của Giáo Hội, tôi hy vọng, nếu tôi tiếp tục phản đối nó điều mà tôi đã thực hiện rất thường xuyên, sẽ không bị coi là lạc lõng.

Chủ nghĩa cấp tiến trong tôn giáo là học thuyết cho rằng không có chân lý tích cực trong tôn giáo, nhưng tín ngưỡng này cũng tốt như tín ngưỡng khác, và đây là giáo huấn đang ngày càng trở nên thực chất và mạnh mẽ. Nó bất nhất với bất cứ sự công nhận nào của bất cứ tôn giáo nào, như là đúng sự thật. Nó dạy rằng tất cả đều phải được khoan dung, vì tất cả đều là vấn đề quan điểm. Tôn giáo mạc khải không phải là một sự thật, mà là một tình cảm và một hương vị; không phải là sự thật khách quan, không phải là điều lạ lùng; và mỗi cá nhân có quyền làm cho nó nói đúng những gì ý thích riêng của họ mong muốn. Sự sùng kính không nhất thiết phải dựa trên đức tin. Người ta có thể đi Nhà thờ Tin lành và Nhà thờ Công Giáo, có thể nhận được điều tốt từ cả hai và không thuộc về bên nào. Họ có thể là anh chị em với nhau trong các suy nghĩ và cảm xúc tâm linh mà không hề có bất cứ quan điểm chung nào về tín lý hoặc nhận thấy sự cần thiết của chúng. Do đó, vì tôn giáo có tính đặc thù bản thân và là một sở hữu riêng tư, nên chúng ta nhất thiết phải làm ngơ nó trong sự giao tiếp giữa con người với con người. Nếu một người đàn ông theo một tôn giáo mới vào mỗi buổi sáng, điều đó có liên quan gì đến bạn? Thật là xấc xược khi nghĩ về tôn giáo của một người giống như nghĩ về nguồn thu nhập hoặc cách quản lý gia đình của họ. Tôn giáo không hề có nghĩa là mối ràng buộc của xã hội. (2)

Ronald Knox, một người trở lại đạo (người cũng đã từ một mục sư Anh giáo trở thành linh mục Công Giáo và sau khi được giúp đỡ đến với Giáo hội nhờ đọc Chesterton, đã giúp Chesterton trong những bước cuối cùng của ông đến với Giáo hội), đã viết một cách xuất sắc về việc trở lại đạo của mình trong tác phẩm A Spiritual Aeneid (Truyện Aeneas Tâm linh]. Nhưng cái nhìn sâu sắc thiết yếu của ngài, giống như của nhiều người Anh trở lại đạo có cùng chí hướng khác, có thể được thoáng thấy trong một vài câu thơ châm biếm từ bài thơ của ngài về sự nhạt nhẽo của Anh giáo, "Absolute and Abitofhell".

“Khi, trên ngai vàng của mình tại Lambeth, Salômôn
Lẩm bẩm khó chịu, ‘Phải làm gì đó,’
Khi Lịch sự dịu dàng, muốn hãm đà Nhiệt tình cuồng tín,
Sửa, ‘Tôi tin,’ thành ‘Người ta cảm thấy.’”


Sự dè dặt ít nói và mơ hồ của người Anh về các vấn đề tôn giáo đã khiến nhiều người tìm đến những điều chắc chắn về tín lý lúc bấy giờ vẫn còn rõ ràng của Rôma.

Tuy nhiên, sự phục hưng của Công Giáo ở Anh không rõ ràng liên quan đến sự phục hưng của chủ thuyết Tôma hay bất cứ trào lưu trí thức đúng nghĩa nào khác trong Công Giáo. Nước Anh đã sản sinh ra những người theo học thuyết Tôma lỗi lạc như Vincent McNabb, Victor White, Gerald Vann, Thomas Gilby, Kenelm Foster, Aidan Nichols, và nhiều người khác. Và các tu sĩ Đa Minh người Anh, đặc biệt ở nhà Blackfriars, đã thực hiện một công việc có giá trị trong việc xuất bản một bản dịch có chú thích về Thánh Tôma. Nhưng có lẽ do xu hướng thực dụng của người Anh đặt thực tiễn lên trên lý thuyết—cũng như việc Newman ưa thích các Giáo phụ thời sơ khai hơn là Thánh Tôma—việc trở lại đạo và ảnh hưởng của Công Giáo ít phát xuất từ các kênh trí thức thuần túy mà nhiều hơn từ cách tiếp cận văn hóa chung. Hai nhân vật thống trị - theo những cách hoàn toàn khác nhau - những năm đầu tiên của thế kỷ 20 trong nền văn hóa Công Giáo Anh (và tiếp tục gây ảnh hưởng lớn cho đến thế kỷ 21) là Hilaire Belloc và G. K. Chesterton. Mặc dù xét về khía cạnh văn học một cách nghiêm ngặt, họ không được xếp hạng nhất vì nhiều lý do, cả hai đều thực hiện những trước tác hộ giáo vui nhộn trong nhiều cuốn sách mà một thế kỷ sau người ta vẫn còn đọc. Cả hai đều thể hiện sự hài hước, tinh thần phấn chấn và nhiều tài năng trong văn xuôi và thi ca. Thật vậy, những câu thơ hài hước của họ có thể là những điều hay nhất (từ quan điểm văn học thuần túy) từng làm được. Nhưng sự nổi tiếng của Chester-belloc—một thuật ngữ được đặt ra bởi George Bernard Shaw, một người bạn mặc dù có những bất đồng gay gắt với cả hai nhân vật Công Giáo, chỉ vì đánh giá cao thực tế là họ đã tham gia vào các mục đích chung—dựa trên sức mạnh và sự khéo léo của họ trong khoa biện hộ Kitô giáo và bình luận văn hóa rộng rãi.

Kỳ sau: Tiến sĩ Công Giáo Johnson