1. Đức tin, chính trị và sự bùng phát những người Công Giáo MAGA
Cha Dwight Longenecker là cha sở Nhà thờ Đức Mẹ Mân Côi ở Greenville, Nam Carolina, tuyên úy tại Kings College, Cambridge. Cha Dwight đã viết mười sáu cuốn sách và vô số bài báo cho các trang web, tạp chí và báo ở Hoa Kỳ và Anh.
Trên tờ Catholic Herald, ngài vừa có bài viết nhan đề “Faith, politics and the rise of MAGA Catholics”, nghĩa là “Đức tin, chính trị và sự trỗi dậy của những người Công Giáo MAGA”
Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.
Sự công kích dữ dội nhắm vào Đức Giáo Hoàng Lêô từ những người Công Giáo cánh hữu ở Mỹ thật đáng kinh ngạc. Sau khi Tổng thống Trump công khai vu cáo và mạ lị Đức Giáo Hoàng vì những bình luận của ngài liên quan đến cuộc chiến ở Iran và sự ủng hộ của ngài dành cho người nghèo và người nhập cư, các bài đăng trên mạng xã hội từ những người ủng hộ Tổng thống Trump đã vu cáo Đức Giáo Hoàng Lêô là người đồng tính, tay sai của “Mafia đồng tính”, con rối của bộ máy chính trị cánh tả Obama/Axelrod, một người theo chủ nghĩa xã hội, một người cộng sản và là người kế nhiệm được chọn lựa của Đức Thánh Cha Phanxicô, là người đã bảo vệ những kẻ phạm tội tình dục theo chủ nghĩa Mác. Sự cuồng tín đáng sợ của những người Công Giáo ủng hộ Tổng thống Trump cuồng nhiệt thật khó hiểu, nhưng khi nhìn vào lịch sử và bối cảnh rộng hơn, điều đó không có gì đáng ngạc nhiên.
Để hiểu rõ hơn bối cảnh, cần phải nắm bắt nền chính trị Mỹ từ thời kỳ hậu chiến trở đi. Trong hai đảng chính trị – Cộng hòa và Dân chủ – đảng Dân chủ, trong thời kỳ đầu, tự xưng là đảng của người nghèo, những người bị tước đoạt quyền lợi, những người nhập cư và giai cấp công nhân. Họ đứng về phía người dân thường: các công đoàn, quyền bình đẳng, phúc lợi xã hội và chống lại giới thượng lưu giàu có ở Bờ Đông. Do đó, đảng Dân chủ cũng có được phiếu bầu của người Công Giáo. Đảng Cộng hòa đại diện cho người giàu, chủ sở hữu tài sản, tầng lớp trung lưu da trắng theo đạo Tin lành, phần lớn những người có trình độ đại học và giới tinh hoa cầm quyền.
Nhưng từ những năm 1960 trở đi, mọi thứ đã đảo ngược hoàn toàn. Việc bảo vệ người nghèo và đấu tranh cho quyền bình đẳng trở nên thịnh hành, và những quyền bình đẳng đó không chỉ dành cho người Mỹ gốc Phi. Những người theo chủ nghĩa nữ quyền và người đồng tính cũng đòi hỏi quyền bình đẳng. Khi giới trí thức, ngành công nghiệp giải trí và các nhân vật truyền thông cùng tham gia, Đảng Dân chủ trở thành đảng của một tầng lớp tinh hoa mới – tầng lớp tinh hoa chính trị mị dân. Sự ủng hộ dành cho người nghèo, các dân tộc thiểu số, giai cấp công nhân và người nhập cư trước đây đã phát triển thành sự ủng hộ cho một loạt các nhóm người bị thiệt thòi và cả những người không hẳn là thiệt thòi nhưng được cho là bị thiệt thòi như những người phụ nữ vì một lý do nào đó muốn phá thai.
Khi Đảng Dân chủ chuyển hướng từ giai cấp công nhân sang tầng lớp tinh hoa mới này, cơ sở cử tri truyền thống của họ bắt đầu thay đổi. Những người Dân chủ, đặc biệt là người Công Giáo, thuộc tầng lớp lao động bình thường nhận ra rằng các giá trị thông thường của họ – cả về kinh tế và đạo đức – phù hợp hơn với Đảng Cộng hòa. Sự chuyển dịch này một phần được thúc đẩy bởi “Đa số đạo đức” trong những năm 1970, tham gia vào cuộc chiến văn hóa về đạo đức tình dục và phá thai, và thông qua đó người Tin lành và người Công Giáo bắt đầu coi nhau là đồng minh chứ không phải kẻ thù.
Trong một cuộc phỏng vấn trên truyền hình với Ông Donald Trump nhiều thập niên trước khi ông theo đuổi tham vọng chính trị, người phỏng vấn đang đi bộ trên một con phố ở thành phố New York và hỏi Tổng thống Trump liệu ông có bao giờ cân nhắc đến chính trị hay không. Thương gia Trump trả lời một cách tiên tri: “Chắc chắn rồi, và nếu tôi làm vậy, tôi sẽ thắng.”
“Ai sẽ bỏ phiếu cho ông?” người phỏng vấn hỏi.
Vừa chỉ tay về phía các công nhân xây dựng tại một trong những dự án của mình, thương gia Donald Trump nói: “Những người ở trên kia kìa”.
Mọi người đều vẫy tay chào và gọi tên ông ta.
Sau thời kỳ thống trị của gia đình Bush, một thế lực quý tộc vùng Bờ Đông, đối với Đảng Cộng hòa, tỷ phú Donald Trump nổi lên. Từng là một đảng viên Dân chủ, ông hiểu rõ sự thay đổi văn hóa đã diễn ra. Những người lao động, những người dân thường, đa số thầm lặng giờ đây là đảng viên Cộng hòa chứ không phải đảng viên Dân chủ. Ông tự khắc họa mình là một người bình thường đã thành đạt. Ông khôn ngoan, nói năng – và hành động – không giống như gia đình Bush, mà giống như những người công nhân xây dựng.
Ông ta có thô lỗ và ăn nói tục tĩu không? Họ cũng vậy. Ông ta có thích phụ nữ đẹp không? Ông ta cũng giống họ. Ông ta có giỏi làm ăn và kiếm tiền không? Họ ước gì mình cũng làm được. Ông ta có trốn thuế, không tin tưởng chính phủ và nghi ngờ giới cầm quyền tham nhũng không? Họ cũng có cùng quan điểm. Khi ông ta bị giới cầm quyền tham nhũng và gian xảo đó bức hại, ông ta trở thành người tử đạo của họ. Khi ông ta sống sót sau một vụ ám sát, điều đó càng khẳng định thêm vị thế của ông ta.
Sự ái mộ dành cho Ông Donald Trump khiến chính ông cũng phải ngạc nhiên.
“Tôi có những người ủng hộ trung thành nhất,” Trump nói vào Tháng Giêng năm 2016 tại Iowa. “Tôi có thể đứng giữa Fifth Avenue và bắn chết ai đó, và tôi sẽ không mất bất kỳ cử tri nào, được chứ?”
Giờ hãy cùng bàn đến vấn đề tôn giáo. Nhiều người Mỹ thuộc tầng lớp lao động và trung lưu này là tín hữu Kitô giáo – cả Công Giáo và Tin Lành. Họ không thích ngôn từ hay đạo đức của Tổng thống Trump, nhưng họ vẫn chọn ông ta thay vì ứng cử viên khác, bởi vì lúc này đảng Dân chủ đã vững chắc ủng hộ quyền phá thai, nữ quyền, hoạt động vì quyền LGBTQ+, ý thức hệ về người chuyển giới và biên giới mở.
Những người Công Giáo từng bỏ phiếu cho đảng Dân chủ vì cho rằng đó là “đảng của người nghèo” đã do dự khi “người nghèo” dường như bao gồm một phạm vi rộng lớn các tầng lớp bị xã hội ruồng bỏ. Trong nỗ lực thể hiện sự khoan dung, đảng Dân chủ dường như, theo quan điểm của những cử tri này, đang dung túng cho những thành phần tồi tệ nhất của tầng lớp dưới đáy xã hội – những người nghèo khó, nghiện ngập và vô gia cư. Người Công Giáo có thể muốn giúp đỡ người nghèo, nhưng đối với nhiều người, điều này là một bước đi quá xa.
Ông Donald Trump nhậm chức với lời hứa sẽ dọn dẹp các thành phố, trục xuất những người nhập cư phạm tội, hỗ trợ gia đình, “thanh lọc bộ máy chính trị” ở Washington và “Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại”.
Khi ông hành động cùng với Israel đối với Iran, những người ủng hộ ông đã reo hò – kể cả người Công Giáo. Nhiều người coi người Hồi giáo là mối đe dọa và xem các hành động của Iran, cả trên trường quốc tế và trong nước, là lý do chính đáng để Mỹ sử dụng vũ lực.
Đối với những người Công Giáo cánh hữu ở Mỹ, còn có thêm một yếu tố nữa: Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Nhiều người Công Giáo bảo thủ tin rằng Đức Phanxicô không thích nước Mỹ, không hiểu những người Công Giáo truyền thống và cũng không muốn hiểu. Họ coi ngài là người ủng hộ thần học giải phóng và thù địch với những mối quan tâm của họ. Nếu Đức Phanxicô không thích họ, họ cũng có thái độ tương tự.
Giờ đây, khi Đức Giáo Hoàng Lêô đã lên ngôi Giáo hoàng, những người Công Giáo này lại tự thuyết phục mình rằng ngài là kết quả của một cuộc bầu cử giáo hoàng do Đức Giáo Hoàng Phanxicô và các đồng minh của ngài – các Hồng Y Cupich, Tobin và McElroy – dàn dựng.
Quá nhiều người tự xưng là người Công Giáo, nhưng lại nói: “Vị Giáo hoàng này không phải là Giáo hoàng của tôi”.
Thay vào đó, Tổng thống Trump là người hùng của họ, thậm chí là một đấng tiên tri nào đó được Chúa phái đến cứu họ, và khẩu hiệu chiến đấu của họ là: “Cảm ơn Chúa Giêsu vì đã phái Tổng thống Trump đến để chống lại một vị giáo hoàng bội giáo.”
Tôi nhận ra mình chẳng thể làm gì nhiều để giải quyết tình huống quá sức bi thảm này.
Tuy nhiên, tôi nghĩ có năm bước mà người Công Giáo Mỹ bình thường nên thực hiện. Thứ nhất, chúng ta nên chú ý đến lời của Thánh Phaolô: “Trước hết, tôi khuyên ai nấy dâng lời cầu xin, khẩn nguyện, nài van, tạ ơn cho tất cả mọi người, cho vua chúa và tất cả những người cầm quyền, để chúng ta được an cư lạc nghiệp mà sống thật đạo đức và nghiêm chỉnh” (1 Tm 2:1-2). Xét thấy những lời này được viết trong thời trị vì của Nero, thì yêu cầu này không phải là quá đáng.
Thứ hai, chúng ta nên thừa nhận rằng việc lên tiếng về các vấn đề đạo đức cũng như giáo lý là vai trò của Đức Giáo Hoàng và việc ngài bình luận về những vấn đề liên quan đến nhân loại là điều hoàn toàn trong thẩm quyền của vị mục tử toàn thể Hội Thánh.
Thứ ba, chúng ta nên dành cho Đức Thánh Cha sự tôn trọng bằng cách tìm hiểu xem ngài thực sự đã nói gì, thay vì dựa vào những tiêu đề gây hoang mang từ các nguồn tin tức và mạng xã hội mang tính thiên vị.
Thứ tư, chúng ta nên hiểu biết hơn về giáo huấn xã hội của Công Giáo, nhận ra rằng giáo huấn này đưa ra một đường lối rộng hơn đối với các vấn đề thế giới, vừa cân bằng vừa hoàn toàn mang tính Công Giáo.
Cuối cùng, tất cả chúng ta nên cố gắng hơn nữa để nhìn nhận vấn đề từ góc độ khác. Chúng ta có thể bất đồng quan điểm với các anh chị em Công Giáo khác về các vấn đề chính trị, nhưng nếu chúng ta thừa nhận rằng họ giữ vững lập trường của mình với thiện chí chân thành, họ có thể đáp lại bằng sự tôn trọng tương tự và thừa nhận rằng chúng ta cũng hy vọng, cầu nguyện và nỗ lực vì điều tốt đẹp nhất. Trong sự tôn trọng lẫn nhau này, sự hiệp nhất cốt lõi của đức tin Công Giáo sẽ được nuôi dưỡng và phát triển thịnh vượng.
Source:Catholic Herald
2. Đức Hồng Y Pizzaballa nói Giêrusalem phải đáp trả chiến tranh bằng sự hàn gắn.
Đức Hồng Y Pierbattista Pizzaballa cho biết Giêrusalem không chỉ được kêu gọi để chịu đựng những vết thương chiến tranh, mà còn trở thành công cụ hàn gắn cho một thế giới tan vỡ, khi Đức Thượng phụ Latinh của Giêrusalem ban hành một thư mục vụ mới về ơn gọi của Giáo hội tại Thánh Địa. Bức thư, được công bố vào ngày 27 tháng 4, suy ngẫm về cuộc xung đột đã bao trùm khu vực kể từ các cuộc tấn công của Hamas vào ngày 7 tháng 10 và cuộc chiến ở Gaza, mà Đức Hồng Y Pizzaballa mô tả là một bước ngoặt đã khép lại một kỷ nguyên và mở ra một kỷ nguyên khác “theo cách tồi tệ nhất có thể”.
Lập luận của Đức Thượng phụ không chủ yếu mang tính chính trị theo nghĩa hẹp. Thay vào đó, ngài coi cuộc khủng hoảng như một thử thách đối với sự hiện diện của Kitô giáo trong một thế giới ngày càng bị định hình bởi bạo lực, sự chia rẽ và sự ngờ vực. Ngài nói rằng Giêrusalem cần phải đại diện cho sự cùng tồn tại và các mối quan hệ, cả về dân sự lẫn tôn giáo, và do đó cần phải kiên nhẫn hàn gắn những vết thương mà người khác đã gây ra.
Đức Hồng Y Pizzaballa chia bức thư của mình thành ba phần chính: thứ nhất, đánh giá tình trạng hiện tại của Thánh Địa; thứ hai, suy tư thần học về sứ mệnh của Giáo hội Giêrusalem; và thứ ba, những hàm ý thực tiễn của sứ mệnh đó đối với các giáo xứ, gia đình, trường học và các tổ chức. Kết quả là một sự xem xét sâu sắc, không hẳn là một sự can thiệp ngoại giao, về hình thức chứng nhân Kitô giáo nên như thế nào ở một nơi mà bạo lực đã làm xói mòn cả đời sống công cộng và lòng tin của con người.
Ngài lập luận rằng cuộc chiến hiện tại không thể được hiểu là một cuộc xung đột cục bộ riêng lẻ. Theo quan điểm của ngài, nó cho thấy sự đổ vỡ sâu sắc hơn trong trật tự quốc tế rộng lớn hơn, bao gồm cả sự suy yếu của các quy tắc, hiệp ước và cấu trúc đa phương từng được tường trình có khả năng kiềm chế bạo lực. Thay vào đó, ngài cho rằng, đã xuất hiện một niềm tin mới vào sức mạnh vũ lực, với chiến tranh một lần nữa được coi là một công cụ chấp nhận được và thậm chí được ngưỡng mộ trong đời sống chính trị.
Đức Hồng Y Pizzaballa lưu ý rằng cuộc xung đột cũng được tiến hành thông qua lời nói và hình ảnh, đến mức ngày càng khó phân biệt sự thật với tuyên truyền. Ngài cũng viết về những hậu quả ở cấp địa phương: các mối quan hệ tan vỡ vì hận thù và nghi ngờ, các cộng đồng thu mình vào những vùng đất biệt lập, và sự phân mảnh dựa trên bản sắc bị gia tăng bởi mạng xã hội.
Theo ngài, điều đặc biệt nghiêm trọng là những tổn hại gây ra cho chính đời sống tôn giáo. Ngài cảnh báo rằng các thánh địa có nguy cơ trở thành chiến trường của bản sắc thay vì nơi cầu nguyện, trong khi các kinh sách thiêng liêng bị viện dẫn để biện minh cho bạo lực, xâm lược và khủng bố. Ngài nói rằng việc lạm dụng danh Chúa như vậy có thể là tội lỗi nghiêm trọng nhất của thời đại hiện nay.
Bức thư cũng đáng chú ý bởi tính tự kiểm điểm. Đức Hồng Y Pizzaballa nói rằng Giáo hội ở Giêrusalem đã cố gắng nói chuyện một cách trung thực và mạnh dạn giữa sự hỗn loạn, nhưng ngài công khai đặt câu hỏi liệu điều đó đã đủ hay chưa. Ngài tự hỏi liệu, vào những thời điểm áp lực lớn nhất, sự thận trọng và sự tồn tại của thể chế có phải trả giá bằng một lời chứng mang tính tiên tri hơn hay không. Ngài nói rằng đó là một câu hỏi làm ngài trăn trở mỗi ngày.
Thay vì đưa ra những lời an ủi dễ dãi, Đức Thượng phụ đặt câu hỏi liệu Giáo hội đã hoàn toàn sống đúng với sứ mệnh của mình trong thời kỳ đầy sợ hãi và bạo lực hay chưa. Tuy nhiên, hình ảnh chủ đạo vẫn tràn đầy hy vọng: Giêrusalem, không chỉ đơn thuần là một thành phố đang chịu áp lực, mà còn là một dấu hiệu tinh thần của sự hòa giải trong một thế giới đang đánh mất niềm tin vào hòa bình.
Bức thư của Đức Hồng Y Pizzaballa vừa mang âm hưởng than thở vừa là lời kêu gọi. Nó thừa nhận mức độ hỗn loạn sâu sắc trong khu vực, nhưng không cho phép các tín hữu Kitô giáo chỉ hài lòng với việc tồn tại mà thôi. Nhiệm vụ của Giáo hội tại Thánh Địa, như ngài trình bày, không chỉ là tồn tại giữa đống đổ nát của lịch sử, mà còn là làm chứng cho một trật tự hoàn toàn khác: một trật tự mà trong đó sự thật được nói ra không sợ hãi, lời cầu nguyện không bị lợi dụng cho lòng thù hận, và Giêrusalem một lần nữa trở thành nơi mà những vết thương của thế giới có thể bắt đầu được chữa lành.
Source:Catholic Herald
3. Tình trạng Hồng Y Đoàn hiện nay
Khi số lượng Hồng Y có quyền bỏ phiếu đạt đến giới hạn theo giáo luật, Đức Giáo Hoàng Leo XIV phải đối diện với những quyết định quan trọng sẽ định hình tương lai của Giáo Hội Công Giáo.
Vào thứ Tư, ngày 15 tháng 4, Hồng Y người Ý Fernando Filoni đã kỷ niệm sinh nhật lần thứ 80 của mình, và mất tư cách Hồng Y cử tri vào cuối ngày. Với sự thay đổi đó, Hồng Y đoàn có chính xác 120 thành viên đủ tuổi bỏ phiếu. Đây chính xác là giới hạn theo giáo luật do Đức Giáo Hoàng Phaolô VI thiết lập, mặc dù “giới hạn” này thường bị vượt qua với số lượng cử tri lớn hơn.
Trong những năm gần đây, giới hạn 120 đại cử tri do Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đặt ra trong tông hiến pháp Romano Pontifici Eligendo năm 1975 đã liên tục bị vượt qua. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, và đặc biệt là Đức Giáo Hoàng Phanxicô đều vượt quá con số này. Trên thực tế, Đức Giáo Hoàng Phanxicô dường như coi ngưỡng này là mức sàn chứ không phải mức trần. Ví dụ, Hồng Y đoàn có 135 thành viên đủ tuổi bỏ phiếu khi bắt đầu mật nghị năm 2025, với 133 vị tham gia cuối cùng.
120 Hồng Y hiện đang tạo nên Hồng Y đoàn bầu cử được bổ nhiệm bởi ba vị Giáo hoàng gần đây nhất. Phần lớn — 99 Hồng Y — được bổ nhiệm bởi Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Đức Bênêđictô XVI bổ nhiệm 17 người, và chỉ còn lại bốn người từ thời Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, vì các ngài còn khá trẻ khi được phong làm Hồng Y. Bốn người đó là Hồng Y Philippe Barbarin, tổng giám mục danh dự của Lyon; Hồng Y Péter Erdő, tổng giám mục của Budapest; Hồng Y Josip Bozanić, tổng giám mục danh dự của Zagreb; và Hồng Y Peter Turkson, Chánh văn phòng Học viện Khoa học Giáo hoàng.
Một chuyển dịch hướng tới khu vực Nam bán cầu
Hồng Y đoàn bầu cử mà Đức Giáo Hoàng Leo XIV thừa hưởng được đánh dấu bằng sự hiện diện thấp kỷ lục của người châu Âu, hiện chỉ chiếm chưa đến 37% số Hồng Y cử tri. Đây là sự sụt giảm mạnh so với hơn 50% vào cuối triều đại của Giáo hoàng Gioan Phaolô II và 52% sau khi Giáo hoàng Bênêđictô XVI từ chức. Đó là một dấu hiệu rõ ràng của quá trình quốc tế hóa do Đức Giáo Hoàng Phanxicô khởi xướng, mặc dù sự chuyển dịch này thực sự bắt đầu vào giữa thế kỷ 20 dưới thời Đức Giáo Hoàng Piô XII.
Châu Á, khu vực nhận được sự chú ý đáng kể trong triều đại của vị Giáo hoàng người Argentina, đã đặc biệt gia tăng sự hiện diện của mình từ sự phát triển này. Số lượng cử tri châu Á đã tăng gấp đôi kể từ năm 2013. Châu Phi cũng chứng kiến sự gia tăng nhẹ về số lượng đại diện, tăng hai điểm phần trăm kể từ năm 2013. Mặt khác, Bắc Mỹ lại chứng kiến sự sụt giảm hai điểm phần trăm trong cùng kỳ.
Hồng Y Đoàn có thể sẽ phát triển như thế nào dưới thời Giáo hoàng Leo XIV?
Là một luật sư giáo luật được đào tạo bài bản, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã báo hiệu rằng ngài dự định áp dụng luật Giáo hội một cách nghiêm ngặt. Mùa thu năm ngoái, ngài đã cảnh báo các giám mục Ý rằng ngài dự định thực thi tuổi nghỉ hưu theo giáo luật là 75. Liệu ngài có thể hiện sự tuân thủ nghiêm ngặt tương tự đối với giới hạn 120 Hồng Y do Giáo hoàng Phaolô VI đặt ra hay không? Chúng ta sẽ phải chờ đến kỳ họp thường kỳ tiếp theo để tìm hiểu.
Ngược lại, trên chuyến bay từ Luanda đến Malabo trong chuyến đi đến châu Phi của Giáo hoàng, ngài nói rằng ngài vẫn chưa “quyết định khi nào sẽ bổ nhiệm các Hồng Y mới”.
Ngài đang trả lời câu hỏi của một phóng viên về việc liệu ngài có bổ nhiệm một Hồng Y mới cho Angola hay không. Mặc dù không loại trừ khả năng này, ngài giải thích rằng “cần phải xem xét vấn đề từ góc độ toàn cầu”. Điều này dường như cho thấy ngài đang đánh giá cẩn thận tất cả các yếu tố liên quan đến việc lựa chọn Hồng Y mới, bao gồm cả yếu tố địa lý. Và theo chiều hướng này, Việt Nam cũng như Úc rất có cơ hội có tân Hồng Y
Kể từ khi đắc cử, Đức Giáo Hoàng đã nhấn mạnh tầm quan trọng mà ngài đặt vào tinh thần tập thể. Ngài đã đưa ra những dấu hiệu cụ thể về mong muốn được hợp tác chặt chẽ với các Hồng Y khác, cả trong Giáo triều Rô-ma và trong các giáo phận trên khắp thế giới. Ngài sẽ tham khảo ý kiến chuyên môn của họ trong các cuộc họp công nghị sắp tới vào ngày 26 và 27 tháng 6.
Những ứng cử viên Hồng Y tiềm năng trong tương lai
Một số cái tên nổi bật cho các cuộc bổ nhiệm trong tương lai, bao gồm ba vị trưởng ban mới mà Đức Giáo Hoàng Leo XIV vừa bổ nhiệm. Những người này bao gồm người kế nhiệm ngài đứng đầu Bộ Giám mục, Tổng Giám mục người Ý Filippo Iannone; trưởng ban mới của Bộ Văn bản Pháp luật, Giám mục người Úc Anthony Randazzo; và tân trưởng ban của Bộ Phục vụ Bác ái, Giám mục dòng Augustinô người Tây Ban Nha Luis Marín de San Martín.
Đức Giáo Hoàng cũng có thể bổ nhiệm một số Hồng Y người châu Phi, chẳng hạn như Tổng Giám mục Andrew Nkea, chủ tịch hiện tại của Hội đồng Giám mục Cameroon, một quốc gia mà Đức Giáo Hoàng Leo XIV vừa đến thăm.
Cuối cùng, một số “tòa giám mục” truyền thống đã mất đi chiếc mũ đỏ đặc trưng dưới thời Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Đức Giáo Hoàng Leo XIV có thể xem xét việc khôi phục lại mũ Hồng Y cho các tổng giám mục của một số thành phố lớn. Điều này có thể bao gồm Tổng Giám mục José Gómez của Los Angeles, Tổng Giám mục Josef Grünwidl của Vienna, Tổng Giám mục Laurent Ulrich của Paris, Tổng Giám mục Richard Moth của London, và Tổng Giám mục Mario Delpini của Milan — hoặc những người kế nhiệm các ngài trong tương lai.
Ngay cả khi tuân thủ nghiêm ngặt ngưỡng 120 Hồng Y, Đức Giáo Hoàng có thể sẽ để lại dấu ấn đáng kể trong Hồng Y đoàn trong những năm tới. Hiện tại, hơn 40% số Hồng Y cử tri từ 75 tuổi trở lên. Điều này có nghĩa là trong vòng năm năm, một tỷ lệ tương đương — hoặc thậm chí nhiều hơn nếu Đức Giáo Hoàng quyết định vượt quá giới hạn — có thể sẽ được ngài bổ nhiệm.
Source:Aleteia
4. Đức Giáo Hoàng nhắn nhủ các nhà ngoại giao tương lai: Có thể sẽ rất nản lòng, nhưng đừng mất hy vọng
Khi các xung đột toàn cầu gia tăng, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV kêu gọi các nhà ngoại giao tương lai của Vatican hãy kết hợp mục vụ và ngoại giao trong việc bảo vệ hòa bình, chân lý và phẩm giá con người.
Trong chuyến thăm đầu tiên với tư cách là Giáo hoàng tới Học viện Giáo hội Giáo hoàng vào ngày 27 tháng 4 năm 2026, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã gửi một thông điệp rõ ràng tới các nhà ngoại giao tương lai của Tòa Thánh: vai trò của họ mang tính chiến lược, nhưng cũng vô cùng quan trọng về mặt mục vụ.
Được thành lập vào năm 1701 dưới thời Đức Giáo Hoàng Clement XI và nằm gần trung tâm lịch sử của Rôma, Học viện đào tạo các linh mục cho công tác ngoại giao trên toàn cầu. Các cựu sinh viên của học viện này sau đó trở thành các sứ thần Tòa Thánh – thực chất là các đại sứ của Đức Giáo Hoàng – được giao nhiệm vụ đại diện cho Tòa Thánh trong cả lĩnh vực giáo hội và quốc tế. Ngày nay, học viện do Đức Tổng Giám Mục SaTLatore Pennacchio lãnh đạo, với sự giám sát của Hồng Y Pietro Parolin, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh.
Bộ máy ngoại giao của Vatican vừa vô cùng rộng khắp, vừa có vị thế độc đáo. Tòa Thánh có quan hệ chính thức với 184 quốc gia, chưa kể Liên minh Âu Châu và Dòng Malta. Điều đó chỉ còn lại 12 quốc gia không có quan hệ ngoại giao chính thức với Tòa Thánh – bao gồm Trung Quốc, Afghanistan và Bắc Hàn. Các cơ quan ngoại giao này được bổ sung bởi công việc thực tiễn của Giáo hội tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, chẳng hạn như các nữ tu phục vụ các cộng đồng khó khăn.
Nhân kỷ niệm 325 năm thành lập Học viện, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV nhấn mạnh sự tiếp nối các cải cách được khởi xướng dưới thời Đức Giáo Hoàng Phanxicô, đặc biệt là việc tập trung vào sự thống nhất như là đặc điểm nổi bật của ngoại giao Vatican. Ngài lưu ý rằng, “mọi cuộc cải cách đều nhằm mục đích bảo tồn sứ mệnh thiết yếu này”.
Một sứ mệnh ngoại giao được định hình bởi những căng thẳng toàn cầu
Bài phát biểu của Đức Giáo Hoàng được đưa ra vào thời điểm xung đột quốc tế vẫn còn lan rộng. Theo Chương trình Dữ liệu Xung đột Uppsala, hơn 50 cuộc xung đột giữa các quốc gia đang diễn ra trên toàn thế giới vào năm 2024, con số cao nhất kể từ Thế chiến II. Trong khi đó, Cao ủy Liên Hiệp Quốc về Người tị nạn báo cáo rằng hiện có hơn 120 triệu người đang bị buộc phải di dời do chiến tranh và đàn áp.
Trong bối cảnh này, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã định hình ngoại giao của Vatican như một “sứ mệnh đặc biệt phục vụ hòa bình, sự thật và công lý”. Ngài kêu gọi các sứ thần tương lai tiếp tục rao giảng thông điệp hòa bình của Kitô giáo ngay cả khi “đối thoại và hòa giải dường như biến mất”.
Vượt ra ngoài chính sách: một bản sắc mục vụ
Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh rằng các đại diện của Tòa Thánh phải là “mục tử trước tiên, nhà ngoại giao thứ hai”. Đường lối này phân biệt các đặc phái viên của Vatican với những người đồng cấp thế tục của họ. Thay vì thúc đẩy lợi ích quốc gia, họ được kỳ vọng sẽ hiện thân một chứng tá đạo đức và tâm linh — đặc biệt là trong môi trường địa chính trị phức tạp.
Đức Giáo Hoàng Lêô XIV cũng cảnh báo chống lại việc thu hẹp ngoại giao thành những nguyên tắc trừu tượng. Thay vào đó, ngài kêu gọi một sự hiện diện cụ thể, mang tính quan hệ, bắt nguồn từ sự lắng nghe, khiêm nhường và liêm chính bản thân.
“Cuộc cải cách quan trọng nhất,” ngài nói, “là sự hoán cải bản thân.”
Bảo vệ các quyền cơ bản
Một phần đáng kể trong bài phát biểu tập trung vào phẩm giá con người. Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh tự do tôn giáo và quyền được sống là những ưu tiên thiết yếu đối với các nhà ngoại giao Vatican, khuyến khích họ thúc đẩy công lý không phải bằng sự đối đầu mà bằng sự tham gia kiên nhẫn.
Sự nhấn mạnh này phù hợp với những mối quan tâm toàn cầu rộng lớn hơn. Một báo cáo năm 2025 của Trung tâm Nghiên cứu Pew cho thấy các hạn chế của chính phủ đối với tôn giáo vẫn còn cao ở gần 60 quốc gia, ảnh hưởng đến hàng tỷ người. Tòa Thánh từ lâu đã ủng hộ tự do tôn giáo như một nền tảng của các xã hội hòa bình.
Quan điểm gần đây của Đức Giáo Hoàng Lêô về ngoại giao Vatican
Trên đường trở về từ chuyến thăm bốn nước Phi Châu vào giữa tháng Tư, Đức Giáo Hoàng Lêô đã chia sẻ với các nhà báo cái nhìn sâu sắc về cách ngài nhìn nhận công việc của các nhà ngoại giao của mình.
Đây là những gì ngài nói:
Tôi muốn quay lại với điều tôi đã nói trong bài phát biểu ban đầu về tầm quan trọng của việc hiểu mục đích chính của những chuyến đi mà tôi, mà Đức Giáo Hoàng, thực hiện, đó là thăm viếng người dân, và giá trị to lớn mà hệ thống, mà Tòa Thánh duy trì, đôi khi với sự hy sinh lớn lao, để duy trì quan hệ ngoại giao với các quốc gia trên khắp thế giới. Và đôi khi chúng ta có quan hệ ngoại giao với các quốc gia có những nhà lãnh đạo độc tài.
Chúng ta có cơ hội nói chuyện với họ ở cấp độ ngoại giao, ở cấp độ chính thức. Chúng ta không phải lúc nào cũng đưa ra những tuyên bố lớn lao—chỉ trích, phán xét hoặc lên án. Nhưng có rất nhiều công việc diễn ra đằng sau hậu trường để thúc đẩy công lý, thúc đẩy các mục tiêu nhân đạo, tìm kiếm, đôi khi, những trường hợp có thể có tù nhân chính trị, và tìm cách để họ được trả tự do. Những tình huống đói nghèo, bệnh tật, v.v.
Vì vậy, Tòa Thánh, bằng cách duy trì, nếu bạn muốn, sự trung lập và tìm cách tiếp tục quan hệ ngoại giao tích cực của chúng ta... Với mối quan hệ ngoại giao với rất nhiều quốc gia khác nhau, chúng tôi thực sự đang cố gắng tìm cách áp dụng Tin Mừng vào những tình huống cụ thể để cải thiện cuộc sống của người dân.
Mọi người sẽ diễn giải phần còn lại theo cách riêng của họ, nhưng tôi nghĩ điều quan trọng là chúng ta phải tìm cách tốt nhất có thể để giúp đỡ người dân của bất cứ quốc gia nào.
Kiên trì trong một thế giới đầy xung đột
Thừa nhận sự thất vọng có thể đi kèm với công việc ngoại giao, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV khuyến khích các học viên đừng nản lòng, ngay cả khi những nỗ lực của họ dường như không hiệu quả. Mặc dù các chính phủ thường mặc định sử dụng xung đột như một phương tiện để giải quyết căng thẳng, ngài lập luận rằng sự kiên trì trong đối thoại vẫn là điều thiết yếu.
Chuyến thăm này báo hiệu một ưu tiên ban đầu trong triều Giáo Hoàng của ngài: tăng cường sự hiện diện ngoại giao toàn cầu của Giáo hội trong khi vẫn duy trì bản sắc riêng biệt của mình. Khi các xung đột mới nổi lên và các xung đột cũ vẫn tồn tại, việc đào tạo các nhà ngoại giao của Vatican - bắt nguồn từ cả đức tin và chủ nghĩa hiện thực - tiếp tục đóng một vai trò thầm lặng nhưng có ảnh hưởng trên trường quốc tế.
Source:Aleteia