1. 41% số phó tế vĩnh viễn trên thế giới phục vụ tại Hoa Kỳ.

Theo một khảo sát mới được Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng trong Tông đồ, gọi tắt là CARA thuộc Đại học Georgetown công bố cho Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ, ước tính có khoảng 21.562 phó tế vĩnh viễn trên thế giới đang phục vụ tại các giáo phận của Hoa Kỳ, nơi chiếm 6% dân số Công Giáo thế giới.

Tháng 3 vừa qua, Vatican báo cáo rằng năm 2024 có 52.102 phó tế vĩnh viễn trên toàn thế giới – tăng từ 51.433 người năm 2023 và 50.150 người năm trước đó. Như vậy, ước tính khoảng 41% số phó tế vĩnh viễn trên thế giới đang phục vụ tại Hoa Kỳ.

Theo Trung Tâm Nghiên Cứu Ứng Dụng Trong Các Hoạt Động Tông Đồ, "Trong năm dương lịch 2025, có 466 phó tế vĩnh viễn mới được phong chức tại các tổng giáo phận/giáo phận tham gia khảo sát. Nếu tính cả các tổng giáo phận/giáo phận và tổng giáo phận/giáo khu không tham gia khảo sát, ước tính có khoảng 570 phó tế được phong chức tại Hoa Kỳ vào năm 2025. Đồng thời, có 494 phó tế nghỉ hưu và 390 phó tế khác qua đời."

Cuộc khảo sát—với sự tham gia trả lời của 77% giáo phận và giáo khu tại Hoa Kỳ—cũng cho thấy rằng

69% phó tế vĩnh viễn tại Hoa Kỳ đang tích cực phục vụ trong chức vụ mục vụ.

Các giáo phận có số lượng phó tế phản hồi nhiều nhất về mặt số lượng là Tổng giáo phận Chicago (812 phó tế vĩnh viễn), Galveston-Houston (686), Los Angeles (507), San Antonio (427) và New York (362)

Các giáo phận có số lượng phó tế nhiều nhất xét theo tỷ lệ, với tỷ lệ phó tế vĩnh viễn trên số tín hữu cao nhất, là các giáo phận Lexington, Kentucky; Rapid City, South Dakota; Tulsa, Oklahoma; Duluth, Minnesota; và Bismarck, North Dakota.

93% phó tế vĩnh viễn đang hoạt động đã kết hôn và 4% là góa vợ.

Trong số các phó tế vĩnh viễn đang hoạt động trong giáo hội, 18% ở độ tuổi 50, 42% ở độ tuổi 60 và 36% từ 70 tuổi trở lên.

71% phó tế vĩnh viễn đang hoạt động trong giáo hội là người da trắng, 23% là người gốc Tây Ban Nha, 4% là người Mỹ gốc Á và 2% là người Mỹ gốc Phi.

68% phó tế vĩnh viễn đang hoạt động trong chức vụ có ít nhất bằng đại học.

Bản khảo sát, được công bố vào tháng 5 năm 2026, đã được Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ đăng tải vào tuần trước.


Source:Catholic World News

2. Các quốc gia tham dự World Cup đang tận hưởng túc cầu trong khi phải đối mặt với sự đàn áp tôn giáo.

Trong bối cảnh con số kỷ lục 48 quốc gia tranh tài tại World Cup, tự do tôn giáo vẫn là mục tiêu khó đạt được ở nhiều quốc gia tham gia, một tổ chức bác ái Công Giáo đã cảnh báo.

Giải vô địch túc cầu thế giới FIFA 2026 – giải đấu lớn nhất trong lịch sử – đã khởi tranh vào ngày 11 tháng 6 trên khắp Hoa Kỳ, Mexico và Canada, và sẽ kéo dài đến ngày 19 tháng 7.

Nhưng đằng sau những tiêu đề về việc đội nào sẽ giành quyền vào vòng loại trực tiếp, hàng triệu người dân sống ở 14 quốc gia tham gia vẫn tiếp tục phải đối mặt với những hạn chế về tự do tôn giáo hoặc tín ngưỡng, theo Marta Petrosillo, tổng biên tập báo cáo Tự do Tôn giáo trên Thế giới của tổ chức Trợ Giúp Các Giáo Hội Đau Khổ, gọi tắt là ACN.

Theo Điều 18 của Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế, mọi người đều có quyền tự do tôn giáo, nhưng nhiều cầu thủ túc cầu và người hâm mộ lại bị tước đoạt quyền này.

Trong suốt giải đấu, ACN sẽ quảng bá bản kiến nghị của mình, kêu gọi các chính phủ và Liên Hiệp Quốc hành động nhiều hơn nữa để bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng và bảo đảm rằng những người chịu trách nhiệm về hành vi bức hại phải bị trừng phạt.

Bà Petrosillo cho biết giải đấu là cơ hội để thu hút sự chú ý đến một số quốc gia nơi tự do tôn giáo đang bị đe dọa.

Bà nói thêm: "World Cup quy tụ mọi người từ mọi nền văn hóa, tôn giáo và quốc gia. Đây cũng là cơ hội để nâng cao nhận thức về những thách thức mà hàng triệu người trên thế giới vẫn phải đối mặt trong việc thực hiện quyền tự do tôn giáo hoặc tín ngưỡng cơ bản của mình."

"Chúng tôi khuyến khích các chính phủ trên toàn thế giới duy trì và bảo vệ quyền con người cơ bản này, bảo đảm rằng mọi người có thể tự do thực hành, thay đổi hoặc chia sẻ tín ngưỡng của mình mà không sợ bị phân biệt đối xử hoặc bức hại."

Theo báo cáo Tự do Tôn giáo trên Thế giới của ACN, ba trong số các quốc gia tham gia được xếp vào danh sách các nơi xảy ra đàn áp tôn giáo – Iran, Ả Rập Xê Út và Cộng hòa Dân chủ Congo – và 11 quốc gia khác được xếp vào danh sách các quốc gia có sự phân biệt đối xử đáng kể.

Hệ thống pháp luật của Iran và Ả Rập Xê Út hạn chế nghiêm ngặt tự do tôn giáo, đặc biệt đối với những người cải đạo từ đạo Hồi và các thành viên của các cộng đồng tôn giáo không được công nhận. Những người thách thức các hạn chế này có nguy cơ bị bắt, bỏ tù và thậm chí bị tử hình.

Cộng hòa Dân chủ Congo phải chịu đựng tình trạng bất ổn và bạo lực kinh niên, vốn đã trở nên trầm trọng hơn do hoạt động thánh chiến ngày càng gia tăng của Lực lượng Dân chủ Đồng minh ở phía đông đất nước.

Các quốc gia nằm trong danh mục phân biệt đối xử bao gồm Haiti, Uzbekistan, Morocco, Tunisia, Algeria, Jordan, Qatar, Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ.

Mexico, một trong ba quốc gia đăng cai, có truyền thống lâu đời về chủ nghĩa chống giáo sĩ được thể chế hóa, nhưng mối lo ngại lớn hơn hiện nay đến từ tội phạm có tổ chức và buôn bán ma túy nhắm vào các linh mục, lãnh đạo tôn giáo và người làm công tác mục vụ khi các nhóm tội phạm cố gắng kiểm soát cộng đồng địa phương.

Tại Iraq, các nhóm thiểu số tôn giáo đã phải chịu đựng sự đàn áp trong nhiều thập niên, nhưng đội tuyển túc cầu quốc gia lại rất đa dạng, bao gồm cả người Hồi giáo Sunni và Shiite cũng như người Kurd. Bốn cầu thủ là Kitô hữu, chiếm khoảng 15% tổng số cầu thủ trong đội.

Bà Petrosillo nói: "Mặc dù người hâm mộ có thể ủng hộ các đội tuyển quốc gia khác nhau, nhưng World Cup cũng nhắc nhở chúng ta về những giá trị gắn kết tất cả – sự tôn trọng phẩm giá con người và tự do tôn giáo hoặc tín ngưỡng."


Source:Catholic Herald

3. Người Công Giáo nên tranh luận về chủ nghĩa hậu tự do

Đức Tổng Giám Mục Salvatore Cordileone của San Francisco có bài nhận định nhan đề "Catholics Should Debate ‘Postliberalism’" nghĩa là "Người Công Giáo nên tranh luận về ‘chủ nghĩa hậu tự do’".

Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Thụy Khanh.

Trong vài năm trở lại đây, một cuộc tranh luận sôi nổi đã nổi lên giữa những người Công Giáo và các nhà tư tưởng chính trị khác về "hậu tự do". Trọng tâm của cuộc tranh luận xoay quanh một câu hỏi cơ bản: Những nguyên tắc nào nên định hướng đời sống công cộng và các thể chế chính trị trong thời đại mà nhiều người đã mất niềm tin vào những giả định đạo đức và xã hội đã định hình nên phương Tây hiện đại?

Khi nói đến "chủ nghĩa tự do", những người tham gia tranh luận thường đề cập đến triết lý chính trị đã định hình phần lớn các nền dân chủ phương Tây trong hai thế kỷ qua. Đó là triết lý đề cao tự do cá nhân lên hàng đầu trong xã hội, ngay cả khi phải hy sinh những mối liên kết cộng đồng với các chuẩn mực xã hội tương ứng vốn là nền tảng truyền thống gắn kết xã hội.

Những nhân vật kiệt xuất trong lĩnh vực này, như John Rawls và Ronald Dworkin ở thế giới nói tiếng Anh và Jürgen Habermas ở Âu Châu, cá nhân họ đã bác bỏ niềm tin tôn giáo, và mặc dù khoan dung với quyền của người khác được tin vào Chúa và thực hành tôn giáo, họ vẫn hướng đến việc cung cấp cấu trúc lý thuyết cho sự tách biệt nghiêm ngặt không chỉ giữa Giáo Hội và nhà nước mà còn giữa tôn giáo và các vấn đề công cộng, tất cả nhằm bảo đảm các cá nhân hoạt động trong một không gian công cộng "trung lập", không bị ảnh hưởng từ bên ngoài bởi tôn giáo.

Những người bất đồng chính kiến, bao gồm các triết gia Công Giáo nổi tiếng như Alasdair MacIntyre, John Finnis và Charles Taylor, đã lập luận rằng chủ nghĩa tự do thế tục tự bản thân nó là một học thuyết bè phái và không nên được dành vị thế đặc biệt trong các nền dân chủ đa nguyên.

Cuộc tranh luận này đã lên đến đỉnh điểm trong 15 năm qua, lan rộng từ phạm vi lớp học ra toàn xã hội Mỹ. Sự rạn nứt trong các mối quan hệ xã hội, cảm giác xa rời với thần thánh, và sự bất mãn chung với cuộc sống tự chủ cá nhân đều là những yếu tố khiến nhiều người đặt câu hỏi về hiện trạng của chủ nghĩa tự do thế tục và tìm kiếm những lựa chọn thay thế.

Điều quan trọng cần thừa nhận là các quan điểm cực đoan không đại diện cho quan điểm của cả hai phía trong cuộc tranh luận: Hầu hết những người theo chủ nghĩa "hậu tự do" không muốn xóa bỏ các quyền tự do dân sự hoặc thiết lập các chế độ thần quyền, và những người chỉ trích họ (ít nhất là những người chỉ trích theo đạo Công Giáo) không muốn khôi phục chủ nghĩa thế tục tự do với thái độ dễ dãi đối với những điều xấu xa như phá thai, an tử và khiêu dâm, hoặc cam kết giáo điều của nó trong việc đẩy tôn giáo vào phạm vi hoàn toàn riêng tư.

Tuy nhiên, ngày nay vẫn tồn tại những bất đồng quan trọng giữa các tín hữu Công Giáo về ý nghĩa của việc tôn trọng phẩm giá con người vốn có và bình đẳng cũng như việc thúc đẩy thiện ích chung. Những bất đồng này bao gồm sự khác biệt về bản chất và phạm vi của một số quyền tự do dân sự cơ bản, chẳng hạn như tự do ngôn luận, báo chí và tôn giáo, cũng như sự khác biệt về mức độ tách biệt hoặc liên kết thích hợp giữa Giáo Hội và nhà nước. Ví dụ, những người ủng hộ "chủ nghĩa hậu tự do" thường lập luận cho một phạm vi hẹp hơn đối với một số quyền tự do nhất định và cho mối liên hệ chặt chẽ hơn giữa Giáo Hội và nhà nước so với quan điểm của những người chỉ trích họ.

Câu hỏi đặt ra trước chúng ta hiện nay là thế giới quan nào nên là kim chỉ nam khi chúng ta xây dựng luật pháp và chính sách công? Tôi cho rằng người Công Giáo có thể – và phải – đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển thế giới quan này. Truyền thống của chúng ta chứa đựng những nguồn lực cần thiết để xây dựng một triết lý chính trị và thiện ích chung, một mặt, tránh được những sai lầm của chủ nghĩa thế tục tự do, mặt khác, tránh được chủ nghĩa độc đoán hoặc phi tự do.

Một lý do khiến cuộc tranh luận này đáng được chú ý kỹ lưỡng là chính truyền thống Công Giáo không đồng nhất thiện ích chung với bất kỳ thể chế hiến pháp duy nhất nào. Trong thông điệp Au Milieu des Sollicitudes năm 1892, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã suy ngẫm về sự kế thừa của các chế độ chính trị khác nhau ở Pháp — "Đế chế, Chế độ quân chủ và Chế độ cộng hòa" — và nhận thấy rằng người Công Giáo có thể có quyền ưu tiên hình thức chính phủ này hơn hình thức chính phủ khác:

"Và thực sự có thể khẳng định rằng mỗi hình thức chính quyền đều tốt, miễn là nó dẫn thẳng đến mục đích của nó — tức là, đến thiện ích chung mà quyền lực xã hội được thiết lập; và cuối cùng, có thể nói thêm rằng, xét về mặt tương đối, hình thức chính quyền này hay hình thức chính quyền kia có thể được ưa chuộng hơn vì nó phù hợp hơn với đặc điểm và phong tục của quốc gia này hay quốc gia khác. Trong trật tự của những ý tưởng mang tính lý thuyết này, người Công Giáo, giống như tất cả các công dân khác, được tự do lựa chọn hình thức chính quyền này hơn hình thức chính quyền khác chính xác là vì không có hình thức xã hội nào trong số này, tự nó, trái ngược với các nguyên tắc của lý tính đúng đắn cũng như các nguyên tắc của giáo lý Kitô giáo" [14].

Sứ mệnh của Giáo hội không phải là thánh hóa một hệ thống chính trị cụ thể nào, mà là giúp hình thành những công dân có khả năng thúc đẩy công lý trong hoàn cảnh cụ thể mà họ đang sống. Một xã hội thấm nhuần tinh thần Kitô giáo là bối cảnh tối ưu để hình thành một tầng lớp công dân đức hạnh. Thật vậy, đó là một điều tuyệt đối cần thiết để nền dân chủ hoạt động đúng đắn, đó là lý do tại sao các vị Cha lập quốc của chúng ta đã ủng hộ mạnh mẽ tự do tôn giáo, trái ngược với Cách mạng Pháp và các hình thức kiểm soát tôn giáo của nhà nước sau đó.

Chính vì những cân nhắc đó mà tôi đã viết lời tựa cho cuốn sách mới, "Tại sao chủ nghĩa hậu tự do thất bại" (Why Postliberalism Failed), của James Patterson, một nhà lý luận chính trị tại Đại học Tennessee, và Thomas Howes, một nhà triết học giảng dạy tại Princeton. Như tiêu đề đã gợi ý, cuốn sách phê phán mạnh mẽ tư tưởng hậu tự do và nêu lên những mối quan ngại quan trọng về lịch sử và triết học liên quan đến các phong trào tìm cách kết hợp quá chặt chẽ quyền lực tôn giáo và quyền lực chính trị. Các tác giả lập luận rằng nhiều thử nghiệm hậu tự do và toàn diện thường tạo ra những kết quả xa rời công lý và sự đổi mới đạo đức mà chúng hứa hẹn.

Tuy nhiên, mục đích của tôi khi viết lời tựa không phải là để ủng hộ một phía nào trong cuộc tranh luận. Tôi tin rằng Patterson và Howes đã nêu ra những câu hỏi nghiêm chỉnh đáng được xem xét. Tuy nhiên, tôi cũng lưu ý rằng nhiều người Công Giáo bị thu hút bởi chủ nghĩa hậu tự do — những nhân vật như nhà lý luận chính trị Patrick Deneen của Đại học Notre Dame và nhà thần học Chad Pecknold của Đại học Công Giáo Hoa Kỳ — bởi vì họ nhận thấy những vấn đề thực sự trong xã hội đương đại và đang tìm kiếm một cách hiểu sâu sắc hơn về thiện ích chung. Những mối quan tâm của họ không nên bị bóp méo hay bác bỏ.

Một trong những chủ đề trọng tâm của lời tựa là các ý tưởng cần được kiểm chứng một cách trung thực — về mặt lịch sử, triết học và thần học. Các tác giả mời độc giả xem xét lại lịch sử của các dự án hậu tự do và toàn diện, chẳng hạn như Bồ Đào Nha dưới thời António de Oliveira Salazar (1932-1968). Về phần mình, những người ủng hộ chủ nghĩa hậu tự do có quyền thách thức các diễn giải và kết luận của các tác giả. Sự tham gia như vậy là lành mạnh. Đó là cách các truyền thống trí tuệ phát triển và cách mà chân lý được hiểu đầy đủ hơn.

Điều quan trọng nữa là phải ghi nhớ những nguyên tắc mà các tín hữu Công Giáo trung thành đều đồng ý: rằng mỗi con người đều sở hữu phẩm giá vốn có vì được tạo dựng theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa; rằng đời sống công cộng cần hướng tới công lý và thiện ích chung; và rằng quyền lực chính trị tồn tại để phục vụ con người, chứ không phải ngược lại.

Tranh luận văn minh mang lại cơ hội học hỏi từ quá khứ, vừa sửa chữa những sai lầm vừa giữ lại hoặc khôi phục những gì đã được chứng minh là hữu ích cho một xã hội lành mạnh. Có lẽ chúng ta đã đánh mất những điều trong quá khứ xa xôi, đồng thời cũng học được những điều mới mẻ quý giá trong quá khứ gần đây hơn. Tuy nhiên, những bất đồng thực sự vẫn còn tồn tại. Cuộc tranh luận giữa những người Công Giáo theo chủ nghĩa hậu tự do và những người chỉ trích họ đặt ra những câu hỏi nghiêm chỉnh với những hàm ý quan trọng đối với luật pháp, văn hóa và chính sách công, đặc biệt là khi chúng liên quan đến ý nghĩa của thiện ích chung và mối quan hệ thích hợp giữa nhà thờ và nhà nước.

Xét cho cùng, luật pháp và hiến pháp rất quan trọng, nhưng chúng không thể thay thế cho đức hạnh, thứ nuôi dưỡng thói quen trách nhiệm, tự kiềm chế, tinh thần đoàn kết và quan tâm đến người khác, những yếu tố mà bất kỳ trật tự chính trị lành mạnh nào cũng phụ thuộc vào. Thậm chí hơn cả hình thức chính phủ cụ thể, chính phẩm chất của những người cầm quyền mới thực sự quan trọng.

Với tư cách là một người Công Giáo và một Tổng Giám Mục, tôi tin rằng người Công Giáo nên đọc kỹ, suy nghĩ sâu sắc và đối thoại một cách bác ái với những người có quan điểm khác biệt. Tôi hy vọng lời tựa của tôi cho cuốn sách "Tại sao chủ nghĩa hậu tự do thất bại" có thể đóng góp, dù chỉ là một phần nhỏ, vào nỗ lực đó. Mục tiêu không nên là chiến thắng cho phe phái này hay phe phái khác, mà là sự hiểu biết sâu sắc hơn về chân lý. Hãy để đây là một cuộc tranh luận mà trong đó "sắt mài sắt".


Source:National Catholic Register