ROME (Zenit.org).-Giải đáp của Cha Edward McNamara, giáo sư phụng vụ tại Đại học Giáo Hoàng Regina Apostolorum.

Trong giáo xứ chúng con, linh mục đã mời dân chúng cùng đọc với ngài trong câu "Nhờ Người, với Người và trong Người." Con nghĩ câu này dành riêng cho linh mục-không biết con có sai không? Nếu điều đó không đúng, có cách nào bác ái nhất để tiếp xúc với ngài không? --K.S., Utica, New York.

Anh hoàn toàn đúng. Cuốn Qui chế Tổng quát về Sách Lễ Roma (GIRM), Số.151, nói rõ: "Cuối Kinh Tạ Ơn, vị tư tế cầm đĩa có bánh thánh và chén, rồi nâng cả hai, đọc lời chúc tụng, 'Chính nhờ Đức Kitô…. Giáo Dân tung hô, Amen. Sau đó vị tư tế đặt đĩa và chén trên khăn thánh."

Linh mục đọc hay hát kinh này một mình (hay với những linh mục đồng tế khác) bởi vì kinh đó là một thành phần nguyên vẹn của Kinh Thánh Thể, luôn luôn dành riêng cho linh mục mà thôi.

Dân chúng bày tỏ sự đồng ý của mình với những lời nói của linh mục qua tiếng nói hay hát Amen, thường được gọi là Amen lớn, vì là quan trọng nhất của Thánh Lễ. Tiếng Amen này được coi như là sự kết thúc dứt khoát của Kinh Tạ Ơn và kinh chúc tụng của nó (một kinh ngợi khen} được biểu trưng bởi sự kiện linh mục không hạ chén và đĩa xuống cho tới khi dân chúng chấm giứt tiếng Amen.

Thật vậy, nghi thức hiện nay của Thánh Lễ gồm có việc cộng đồng tung hô mầu nhiệm đức tin sau khi truyền phép. Nhưng câu tung hô này, nói cho đúng, không phải là một phần Kinh Tạ Ơn, và nghi thức này được bỏ nếu vì lý do chính đáng một linh mục cử hành một mình hay đồng tế mà không người giúp hay cộng đồng hiện diện.

Việc dân chúng kết hợp đọc kinh chúc tụng này xảy ra tại nhiều nơi, thỉnh thoảng do sai lầm của linh mục mời dân chúng kết hợp. Thường thường có lẽ phát sinh ra sau khi cho dùng tiếng bản xứ, do dân chúng tự ý kết hợp trong một kinh có nhịp điệu. Nếu sự này không đính chính kịp thời, thì thành một thói quen--và thường sự này chứng tỏ rất khó bài trừ.

Còn làm sao tiếp xúc được linh mục của anh? Tôi gợi ý rằng anh nhắc cách lịch sự cho ngài những qui luật thích đáng, nhưng đồng thời gợi ý một cách khác để phân biệt tầm quan trọng của lúc này.

Một gợi ý có thể được là xin ngài hát kinh chúc tụng sao cho lời đáp của dân chúng cũng được hát. Một cách khác có thể long trọng hóa tiếng Amen này là theo việc thực hành, bây giờ thường có trong những Thánh Lễ giáo hoàng, lập lại tiếng Amen ba lần trong một giọng đơn sơ nhưng cung điệu lên dần. Điều này cũng cung cấp một chìa khóa để làm sự chuyển nhạc qua kinh Lạy Cha.

Giải pháp này, cùng với một việc dạy giáo lý thích hợp, cũng có thể giúp làm dễ dàng sự thay đổi thói quen trong những nhà thờ mà sự kết hợp trong kinh vinh tụng đã trở thành một thói quen thâm căn cố đế. Trong những trường hợp này cần phải chú tâm về sự trung thành với luật phụng vụ đang khi tránh sự đối đầu không cần thiết bằng cách làm như tác động và rút ngắn phạm vi hành động của cộng đồng.

Đúng như trong đời sống luân lý, phương tiện hiệu nghiệm nhất để bài trừ một thói quen xấu là không phải tập trung quá nhiều trong việc bài trừ nết xấu cho bằng tập luyện một nhân đức đối nghịch.

* * *

Tiếp lần trước: Nhà tạm phải đặt ở đâu?

Sự trả lời của chúng tôi về nơi xứng đáng đặt nhà tạm trong số trước đã được quý độc giả gởi điện thư tới. Nhiều độc giả hỏi tại sao không còn được phép đặt nhà tạm trên bàn thờ làm lễ.

Muốn trả lời câu hỏi này tôi thiết nghĩ điều cần trước hết là suy nghĩ về mối tương quan giữa Thánh Lễ và việc sùng kính sự hiện diện thật sự của Chúa chúng ta.

Hành động cao cả nhất và thánh thiện nhất của Giáo hội là sự cử hành hy lễ Thánh Lễ. Đức Gioan Phaolô II nhắc chúng ta trong thông điệp của ngài "Ecclesia de Eucharistia": "Giáo hội làm Thánh Thể và Thánh Thể làm Giáo hội." Không có hành động quan trọng nào khác của Giáo hội có thể sánh với Thánh lễ.

Đang khi Giáo hội luôn luôn lưu giữ Thánh Thể-- trước tiên là để bảo đảm cho người bịnh và hấp hối có thể rước lễ--không có sự sùng kính đặc biệt nào đối với Thánh Thể giữ trong nhà tạm qua gần một ngàn năm.

Như vậy trong các bài viết của các Giáo phụ vĩ đại như các thánh Ambroise, Augustine và Giáo hoàng Lêo Cả, người ta không thấy nói gì về việc viếng Mình Thánh Chúa nhưng nói nhiều về sự cao trọng của việc cử hành Thánh Thể.

Các thánh tử đạo thời Roma không có hững sự sùng kính Thánh Thể, Nhưng, khi các vị tử đạo Abitene bị bắt năm 304 vì tụ tập bất hợp pháp, các ngài đã mạnh dạn nói mình không thể sống mà không có Thánh Thể ngày Chúa nhật. Trong những cơn bắt đạo mới đây hơn, như trong quê hương Ireland của tôi, không thể lưu giữ Thánh Thể. Nhưng dân chúng liều lĩnh nhiều hơn để tham dự Thánh Lễ trong những đồi núi. Các linh mục nào đã cử hành những Thánh Lễ này bị săn đuổi và có nguy cơ bi bắt.

Dĩ nhiên, sự phát triển lần lần của sự sùng kính Thánh Thể trong Giáo hội là một trong những ân huệ lớn nhất của Chúa Thánh Thần, và là một trong những bức tường thành của Giáo hội. Nhưng điểm tôi muốn nói là trong Thánh Lễ chứa đựng, theo những lời sách Giáo lý số 1324, "tất cả của cải thiêng liêng của Hội Thánh, đó là chính Đức Kitô, Người là mầu nhiệm Phục sinh của chúng ta," và Số 1327 diễn tả Thánh Thể như là: vừa đúc kết vừa tổng hợp đức tin chúng ta."

Việc cử hành hy lễ thánh Thánh Lễ là trung tâm và là trọng tâm đời sống Giáo hội, đối với Thánh Lễ thì tất cả những phương diện khác, kể cả những phương diện gắn liền với chính sự cử hành phải đứng hàng thứ hai.

Như vậy, những qui luật phụng vụ dạy rằng khi nhà tạm hiện diện trong cung thánh thì phải bái gối cúi đầu vào lúc thánh lễ bắt đầu trước khi linh mục lên hôn bàn thờ, và cuối Thánh Lễ sau khi hôn bàn thờ trước khi rời khỏi cung thánh. Nhưng không có bái gối trước nhà tạm trong lúc cử hành Thánh Lễ trừ khi linh mục cất bánh thánh sau khi cho Rước lễ. Như vậy, phải chú tâm đầy đủ đến chính việc cử hành trong mỗi phần Thánh Lễ.

Luật tương đối mới cũng theo một logic này là nhà tạm sẽ không đặt trên chính bàn thờ mặc dầu qua nhiều thế kỷ nhà tạm đặt tại trung tâm bàn thờ ở trên cao cung thánh. Việc thực hành này được thực hiện sau Công đồng Trent như là một phương tiện đề cao giáo lý Giáo hội về sự Hiện diện Thật.

Xem ra điều đó được cổ võ đầu tiên bởi Giám mục Matteo Giberti thành Verona từ 1524 đến 1543, lần đầu tiên giám mục đặt nhà tạm trên bàn thờ cao trong nhà thờ chính tòa của ngài. Sáng kiến này được thánh Charles Borromeo và Đức Giáo hoàng Paul IV công nhận. Năm 1614, sáng kiến đó được đức Giáo hoàng Phaolô V đưa vào trong sách Nghi thức Roma, sau đó trở thành cách thức bình thường lưu giữ Thánh Thể cho tới những sự cải tổ của Công đồng Vatican II.

Cũng có một sự giải thích chính thức tại sao nhà tạm không nên đặt trên bàn thờ cử hành, như đã nói trong văn kiện "Mầu Nhiệm Thánh Thể” (Eucharisticum Mysterium) (1967) Số 55:

"Trong việc cử hành Thánh Lễ, những cách thức chính về sự hiện diện của Chúa Kitô cho Giáo hội Người lần lượt được nổi bật lên rõ ràng: trước hết Chúa Kitô được thấy hiện diện trong cộng đồng các tín hữu tập hợp nhân danh Người; rồi trong lời Người, với việc đọc và giải thích Kinh Thánh; cũng trong con người thừa tác viên; sau cùng một cách đặc biệt dưới những yêu tố Thánh Thể. Do vậy, trên nền tảng của giá trị dấu chỉ, qua sự lưu trữ bí tích trong nhà tạm, điều đúng với bản chất việc cử hành hơn là Chúa Kitô không hiện diện cách Thánh Thể từ đầu trên bàn thờ nơi cử hành Thánh Lễ. Sự hiện diện này là hậu quả của sự truyền phép và phải được xem ra như thế."

Cũng có những nhận xét cụ thể cần quan tâm đến

Ngày nay hầu hết các Thánh Lễ được cử hành quay mặt về phía dân chúng và sự hiện diện nhà tạm trên bàn thờ sẽ là cớ lo ra hơn là giúp về mặt thiêng liêng. Cần thiết phải đăt trước mặt linh mục, như vậy ngăn cản dân chúng thấy hành động thánh được thực hiện trên bàn thờ. Điều này cũng có thể đòi hỏi xử dụng những nhà tạm rất nhỏ, ít được xử dụng trong một hoàn cảnh giáo xứ.

Dầu sao, chính sự kiện là luật phụng vụ chỉ phải theo cách thực hành nào khi nhà tạm đặt trong cung thánh, cũng chứng tỏ rằng--nghịch với ý kiến của một số nhà chuyên phụng vụ--không có sự đối nghịch nội tại khi đặt nhà tạm trong chính cung thánh.

Những người chuyên phụng vụ này lập luận rằng sự hiện diện rõ ràng của nhà tạm trong cung thánh--vì khác với sự hiện diện trên bàn thờ-- làm chia trí khỏi hành động thánh của việc cử hành.

Tuy điều này có thể xem ra đúng trên lý thuyết, kinh nghiệm mục vụ xem ra khẳng định rằng họa hiếm đó là một vấn đề đối với đa số rộng lớn các tín hữu là những người bình thường chăm chú tới những nghi thức thánh, và tại một số ít quốc gia, xem ra họ bị chia trí bởi những cây nến thắp sáng nơi các vị thánh được mến chuộng của họ hơn là bởi nhà tạm

Một người biên thư từ North Carolina, thành viên ủy ban phụng vụ trong một giáo xứ, hỏi có thể đặt nhà tạm sau bàn thờ không?

Mặc dầu quyết định chung cuộc phải đặt nhà tạm ở đâu là thuộc thẩm quyền giám mục chớ không phải của ủy ban, nhưng vì ủy ban này đi theo sát với giáo xứ nên có thể cho ý kiến.

Nhà tạm có thể đặt một bên, nhưng một cách nổi bật tốt nhất là trên một bàn thờ cao cũ không còn dùng cho việc cử hành (x. Qui Chế Tổng Quát Sách lễ Roma, Số 303,310 và 315).

Vì bàn thờ cao cũ hầu như chắc được đặt trực tiếp sau bàn thờ mới, chỉ dẫn này của GIRM có lẽ xem ra hàm ý rằng nhà tạm cũng có thể đặc trực tiếp sau bàn thờ dầu trong những nhà thờ mới hơn hay trùng tu mà không có bàn thở cũ. Nhưng ghế ngồi linh mục không bao giờ được đặt dưới hay trực tiếp trước nhà tạm (GIRM, số 310)

Có nhiều chọn lựa cho phép nhà tạm được nổi bật đúng cách đang khi giữ những qui luật liên quan với sự an toàn, tính thực tiễn và giá trị thích hợp cho nhà tạm

Một là đóng cố định nhà tạm vào một cây cột hay là gắn sâu vào bức tường kiểu như một két sắt, có lẽ làm cho nó nổi bật bằng cách xử dụng một số yếu tố cần thiết phải hài hòa với những yếu tố kiến trúc khác như bàn thờ và giá đọc sách.

Nếu có thể, nên có hình thức bục nào đó trước nhà tạm đễ dễ cử động và cho phép các linh mục đặt mình Thánh Chúa khi mở cửa nhà tạm. Ngoài cây đèn bắt buộc phải để nơi cung thánh, nhà tạm cũng có thể được làm nổi bật bởi những giàn ánh sáng cố định có thể rẽ ra trong lúc cử hành Thánh Lễ.

Các đọc giả từ Australia và Canada gợi ý rằng có lẽ những luật Giáo hội về vấn đề này quá mơ hồ và cho phép những lạm dụng dễ dàng. Một độc giả khác hỏi những văn kiện chính thức trong việc chọn lựa và kiểu cách không.

Tôi nghĩ nhiều người sẽ đánh giá những qui luật rõ ràng và chính xác về phía Tòa Thánh trong nhiều vấn đề. Nhưng thực tế Giáo hội là một cơ chế được tổ chức rất ít tập trung hơn nhiều người tưởng, và Toà Thánh xem ra thích như vậy.

Những qui luật xuất phát từ Tòa Thánh thường ban bố những nguyên tắc chung, còn nhiệm vụ làm luật chính xác áp dụng những qui luật này theo những hoàn cảnh cụ thể, thì tùy thuộc nơi hội đồng giám mục hay các giám mục địa phương. Ví dụ các giám mục Hoa kỳ đã phát hành một văn kiện, "Được xây dựng bằng những Viên đá Sống," cung cấp những qui luật và những chỉ dẫn cho việc xây cất và trùng tu các nhà thờ.

Cả hai những qui luật xuất phát từ Tòa Thánh và những qui luật do các giám mục ra lệnh, đều giả thiết đức tin vững và ý thức chung của những người giải thích chúng .

Một số tác giả gợi ý rằng sự kiện mà các văn kiện trước muốn nhắc đến lần đầu tiên và có khi khuyên nữa, đó là sự chọn nhà nguyện Thánh Thể, đang khi những văn kiện mới hơn, kể cả tân GIRM, kể nhà nguyện Thánh Thể sau và coi trọng tính khả kiến sáng sủa của nhà tạm, biểu thị một thay đổi trong sự nhấn mạnh từ sự chọn lựa nhà nguyện cho tới cung thánh. Dầu Tòa Thánh có muốn sao đi nữa, sự kiện chủ yếu vẫn là sự lựa chọn cuối cùng tùy thuộc giám mục địa phương.

Mặc dầu tôi không được đào tạo cách riêng trong ngành kiến trúc, tôi đánh bạo để đưa ra những gợi ý mục vụ sau trong sự quyết định nên chọn một nhà nguyện hay nhà tạm trong cung thánh. Vì phạm vi rộng rãi, tôi không tự phụ là nói dứt điểm hay dứt khoát.

--Đặc tính của người tín hữu: Phải luôn luôn coi trọng điều này. Một giáo xứ với một dân cư di động cao có những nhu cầu thiêng liêng khác với một giáo xứ với một nền tảng vững bền. Những người giáo xứ lâu đời muốn phát triển một tương quan cá nhân với nhà thờ của mình. Họ thích một chỗ và thường quỳ tại một hàng ghế từ năm này qua năm khác, nhất là tại những nhà thở cổ kích hay có nhiều ngóc ngách.

Cũng vậy trong nhiều giáo xứ một số giáo dân đáng kể thích tới sớm để cầu nguyện riêng trước Thánh Lễ, hay là quỳ lại sau thánh lễ để cám ơn lâu hơn.

Trong những hoàn cảnh này, nhà tạm trong cung thánh xem ra là sự lựa chọn tốt nhất, vì người tín hữu thường thích cầu nguyện trước Bí Tích Thánh Thể cũng tại một chỗ mà họ sẽ tham dự Thánh Lễ. Những yếu tố này có thể ít quan trọng hơn trong những giáo xứ với một sự khởi động cao hay tham dự không đều hòa. Nhưng, những giáo xứ quá lớn, hầu như các thánh lễ nối tiếp nhau nên không có thời gian giữa các Thánh Lễ Chúa nhật, có thể thấy rằng sự ước muốn của những người giáo xứ để cầu nguyện riêng sẽ được thoả mãn tốt nhất bởi một nhà nguyện riêng.

--Vị trí: Một giáo xứ nơi thành thị đón nhận nhiều khách thăm viếng đến bất chợt trong ngày, có lẽ tốt nhất là giữ nhà tạm trong cung thánh vì cung thánh là điểm trung tâm tự nhiên. Những giáo xứ ngoại ô hay tại nhà quê họa hiếm mới được kính viếng vì sự thúc bách khác trong cuộc sống, thì tốt hơn nên có một nhà nguyện, và cũng cần để ý tới những yếu tố khác như sưởi ấm, điều hòa không khí và bảo hiểm. Một số giáo xứ đã xoay xở dung hòa được cả hai với một nhà nguyện xây sau vách cung thánh trong đó một nhà tạm có cửa sau và cửa trước.

--Các sinh hoạt: Vì mục đích chính của nhà tạm là cổ võ sự chầu và cầu nguyện riêng, những giáo xứ lớn có nhiều sinh hoạt trong nhà thờ như đám cưới và đám tang, hay có nhiều Thánh Lễ hằng ngày, có lẽ tốt nhất là nên có nhà nguyện Thánh Thể. Điều này cũng đúng cho những giáo xứ có chầu Bí Tích Thánh Thể vĩnh viễn hầu tránh làm gián đọan của việc chầu thường xuyên này.

Chắc có lẽ còn nhiều yếu tố khác liên quan như kích thước nhà thờ và cung thánh và chỗ thích hợp để xây nhà nguyện.

Nếu muốn chọn xây một nhà nguyện, thì cần nhớ rằng chỗ nhà nguyện phải được thấy rõ ràng từ phần chính nhà thờ. Nhà nguyện đó cũng phải dễ dàng tới được từ cung thánh nếu cần thêm bánh thánh trong Thánh Lễ hay lưu giữ bánh thánh còn dư. Như vậy một nhà nguyện gần cửa vào nhà thờ ít khi thích hợp và thêm sự bất tiện là sau lưng Giáo Dân có Bí Tích Thánh Thể.

Nhà nguyện phải cho phép cầu nguyện riêng, như vậy phải là một nhà nguyện thật chớ không phải thuần túy là một hốc tường. Phải có đủ chỗ cho nhiều người môt trật tùy theo giáo xứ. Nhà nguyện cũng không nên đặt quá gần cửa hay những khu vực khác thường nhiều người qua lại, hầu khỏi làm chia trí những người tín hữu đang cầu nguyện và để tránh có người qua lại mà không nhận ra hay có khi mắc thói quen không bái gối.

Buồn thay có một ít độc giả viết thơ nhắc tới một số gương thật đáng tiếc không thích hợp về nơi đặt nhà tạm, cũng như một số câu trả lời ít xứng đáng từ những linh mục khi được hỏi đến vấn đề này. Tất cả chúng ta phải cầu nguyện sao cho ý muốn mà Đức Giáo hoàng Gioan Phaolo II đã bày tỏ là một sự tái khám phá chung về ý nghĩa của sự khâm phục trước mầu nhiệm Thánh Thể, có thể thực hiện cách hoàn hảo