Thông điệp thứ nhất của một Giáo Hoàng mới đăng quang là một nghi thức mà mọi người chờ đợi. Đức Benedict XVI đã không phải là kỷ lục trong việc ban hành thông điệp “Deus caritas est (Thiên Chúa là tình yêu). Thông điệp này được ban hành vào ngày 25 tháng giêng ở Roma, chín tháng sau khi được bầu. Đức nguyên Hồng Y Josef Ratzinger, trước kia là người đã viết lách rất nhiều, nay thông điệp này chỉ vỏn vẹn có 45 trang. Thay vì một bài thuyết trình như truyền thống, Đức Benedict XVI đã đưa ra như một suy niệm, một tầm rất cao vế triết lý, với chủ đề tình yêu của con người.
Trong những ngày cuối cùng, tự mình trình bày chủ đề và những nét chính của thông điệp, Đức Benedict XVI tỏ ra rất khiêm nhường là không muốn gây ra sự ngạc nhiên. Ngài không phải là một Giáo Hoàng gây ra nhiêù ngạc nhiên như Đức Gioan Phao lồ II trong thông điệp Redemptor hominis (Đấng Cứu Chuộc nhân loại), thông điệp đầu tiên ban hành không lâu sau khi được bầu vào năm 1978 đã làm ngỡ ngàng khi cổ võ Giáo Hội trong cuộc chiến đấu cho nhân quyền trong một thế giới có nhiều quốc gia còn bị đe dọa bởi chủ nghỉa cọng sản.
Nhà thần học Ratzinger muốn có một cuộc đối thoại với nền văn hóa hiện đại. Chủ đề này làm cho ngài thoải mái. Chủ đề tình yêu, như là bước đầu trong giáo triều của ngài, không có gì là quá sôi nổi với ngòi bút của một tác giả Kitô giáo, nhưng rất hợp thời. Từ ngữ “tình yêu” đã bị làm cho sai ý nghĩa đích thật của nó.. “Làm thỏa mãn xác thịt như chúng ta nhận thấy ngày nay là sai lầm. “Tình ái (eros) được hiểu như là tình dục, trở thành một món hàng, một đồ vật mà người ta dùng để trao đổi mua bán. Thêm vào đó, con người chính họ cũng có thể trở thành một món hàng.” Thông điệp này là một lo âu cảnh giác gởi đến cho nhân loại.
“Vâng, tình ái (eros) muốn nâng cao chúng ta thăng tiến đến Thiên Chúa”
Đức Giáo hoàng bác bỏ những luận đề của hai triết gia, cũng là người Đức như ngài, hai triết gia này được nuôi dưỡng bởi tinh thần chống Kitô giáo tân thời và là nguồn gốc của khủng hoảng đức tin: Nietzsche (1844-1900), đối với ông là đứng trên sự thiện và sự ác, đã trách cứ Kitô giáo đã bóp chết tình ái (eros). Và Marx (1818-1883) đặt vấn đề “bác ái” của Giáo Hội theo lịch sử là có tội, vì dưới mắt ông là “đã không kêu gọi người giàu có về bổn phận phải sống công bình và một chút bố thí đã để cho lương tâm của họ được bình an”. Đức Giáo Hoàng đã mạnh mẽ bác bỏ những luận điệu trên, nhắc đến sự tiến bộ của nhân loại đã được trình bày theo mối liên hệ với triết học Hy lạp và được “thần thánh hóa sai lầm” về tình ái, trái với ý niệm về tình yêu của con người được phát huy bởi Do Thái giáo và Kitô giáo dưới hình thức tình yêu lý tưởng (agape). Đới với Đức Giáo Hoàng, đừng quá phân biêt giữa tình ái và tình yêu lý tưởng nhưng đây là một sự nối tiếp, một sự liên kết dẫn đưa đến tình yêu Thiên Chúa.
Chúng ta được đánh động bởi những trích dẫn từ những tập tục của Do thái trong đề tài này, như tác giả đã cảm thấy một sự thoái hóa trong tình yêu của con người là một sự thất bại của hai tôn giáo này. Nhưng đào sâu trong truyền thống lớn lao từ thời thánh Augustin đến thời Đức Gioan Phao lồ II, Đức Benêdict cố gắng giải thích là Kitô giáo không phải là kẻ thù của tình ái (eros), tình yêu sinh lý, ham muốn tình dục và thể lý: “Đức tin Kitô giáo luôn tin tưởng con người, là một sinh vật gồm có tinh thần và thể xác thâm nhập vào nhau và tạo nên một sự cao cả mới. Vâng, tình ái muốn đưa chúng ta lên trong niềm hoan lạc đến Thiên Chúa, đưa chúng ta đến một thế giới siêu việt. Lẽ dỉ nhiên vì lý do đó đòi hỏi phải bước trên con đường đi lên cao, từ bỏ chính mình, làm cho trong sạch và lành mạnh.”,
Trong phần thứ hai thay vì nêu lên những bất công trong lịch sử, “bác ái”, một từ ngữ đã bị làm cho hư hỏng, như là một bổ túc cần thiết cho hành vi chính trị.
Sinh hoạt của những Giáo Hội, những tổ chức từ thiện và bác ái rất đáng được khuyến khích. Không nên minh oan cho những vô trách nhiệm của các nhà chính trị không thực thi những công bình xã hội. Ngài nhấn mạnh: “Công bình là là sự đo lường đứng đắn cho tất cả mọi chính sách”. Và cũng như không có tình yêu đích thật ngoài tình ái (eros) và tình yêu lý tưởng (agape), cũng như trong chính trị thì bị lôi cuốn bởi quyền lực, và nếu chỉ là quyền lực mà thôi thì còn thiếu sót
Trong ý nghĩa đó, ngưới tín hữu Công giáo được kêu gọi giữ gìn truyền thống bác ái của Gíáo Hội, mà Đức Giáo Hoàng lo lắng sẽ bị tan rả đi trong các tổ chức từ thiện to lớn: “Bác ái không chỉ dành cho Giáo Hội như một thứ trợ giúp xã hội mà có thể giao cho những người khác, nhưng đó là bản chất của Gíao Hội. Đó là một sự trưng bày bản chất của mình mà Giáo Hội không thể từ chối.”
Thông điệp của Đức Bênêdict XVI nói về tình yêu không giống như một tài liệu giáo huấn như đã được ban hành bởi những Giáo Hoàng tiền nhiệm, Phao lồ VI và Gioan Phao lồ II, về vấn đế tính dục và luân lý của lứa đôi. Không phải Đức Giáo Hoàng này cắt đứt lề lối của các vị tiền nhiệm, nhưng ngài cho rằng các giáo huấn đó đã được phổ biến.. Ngài cũng không làm một cuộc cách mạng, nhưng lời lẽ thì hoàn toàn khác biệt. Điều không thể chối cải được đây là một luận đề triết lý và tôn giáo, được trình bày với những nguyên lý cao siêu và sâu sắc. (Trích từ báo Le Monde ngày 25 tháng 1)
Trong những ngày cuối cùng, tự mình trình bày chủ đề và những nét chính của thông điệp, Đức Benedict XVI tỏ ra rất khiêm nhường là không muốn gây ra sự ngạc nhiên. Ngài không phải là một Giáo Hoàng gây ra nhiêù ngạc nhiên như Đức Gioan Phao lồ II trong thông điệp Redemptor hominis (Đấng Cứu Chuộc nhân loại), thông điệp đầu tiên ban hành không lâu sau khi được bầu vào năm 1978 đã làm ngỡ ngàng khi cổ võ Giáo Hội trong cuộc chiến đấu cho nhân quyền trong một thế giới có nhiều quốc gia còn bị đe dọa bởi chủ nghỉa cọng sản.
Nhà thần học Ratzinger muốn có một cuộc đối thoại với nền văn hóa hiện đại. Chủ đề này làm cho ngài thoải mái. Chủ đề tình yêu, như là bước đầu trong giáo triều của ngài, không có gì là quá sôi nổi với ngòi bút của một tác giả Kitô giáo, nhưng rất hợp thời. Từ ngữ “tình yêu” đã bị làm cho sai ý nghĩa đích thật của nó.. “Làm thỏa mãn xác thịt như chúng ta nhận thấy ngày nay là sai lầm. “Tình ái (eros) được hiểu như là tình dục, trở thành một món hàng, một đồ vật mà người ta dùng để trao đổi mua bán. Thêm vào đó, con người chính họ cũng có thể trở thành một món hàng.” Thông điệp này là một lo âu cảnh giác gởi đến cho nhân loại.
“Vâng, tình ái (eros) muốn nâng cao chúng ta thăng tiến đến Thiên Chúa”
Đức Giáo hoàng bác bỏ những luận đề của hai triết gia, cũng là người Đức như ngài, hai triết gia này được nuôi dưỡng bởi tinh thần chống Kitô giáo tân thời và là nguồn gốc của khủng hoảng đức tin: Nietzsche (1844-1900), đối với ông là đứng trên sự thiện và sự ác, đã trách cứ Kitô giáo đã bóp chết tình ái (eros). Và Marx (1818-1883) đặt vấn đề “bác ái” của Giáo Hội theo lịch sử là có tội, vì dưới mắt ông là “đã không kêu gọi người giàu có về bổn phận phải sống công bình và một chút bố thí đã để cho lương tâm của họ được bình an”. Đức Giáo Hoàng đã mạnh mẽ bác bỏ những luận điệu trên, nhắc đến sự tiến bộ của nhân loại đã được trình bày theo mối liên hệ với triết học Hy lạp và được “thần thánh hóa sai lầm” về tình ái, trái với ý niệm về tình yêu của con người được phát huy bởi Do Thái giáo và Kitô giáo dưới hình thức tình yêu lý tưởng (agape). Đới với Đức Giáo Hoàng, đừng quá phân biêt giữa tình ái và tình yêu lý tưởng nhưng đây là một sự nối tiếp, một sự liên kết dẫn đưa đến tình yêu Thiên Chúa.
Chúng ta được đánh động bởi những trích dẫn từ những tập tục của Do thái trong đề tài này, như tác giả đã cảm thấy một sự thoái hóa trong tình yêu của con người là một sự thất bại của hai tôn giáo này. Nhưng đào sâu trong truyền thống lớn lao từ thời thánh Augustin đến thời Đức Gioan Phao lồ II, Đức Benêdict cố gắng giải thích là Kitô giáo không phải là kẻ thù của tình ái (eros), tình yêu sinh lý, ham muốn tình dục và thể lý: “Đức tin Kitô giáo luôn tin tưởng con người, là một sinh vật gồm có tinh thần và thể xác thâm nhập vào nhau và tạo nên một sự cao cả mới. Vâng, tình ái muốn đưa chúng ta lên trong niềm hoan lạc đến Thiên Chúa, đưa chúng ta đến một thế giới siêu việt. Lẽ dỉ nhiên vì lý do đó đòi hỏi phải bước trên con đường đi lên cao, từ bỏ chính mình, làm cho trong sạch và lành mạnh.”,
Trong phần thứ hai thay vì nêu lên những bất công trong lịch sử, “bác ái”, một từ ngữ đã bị làm cho hư hỏng, như là một bổ túc cần thiết cho hành vi chính trị.
Sinh hoạt của những Giáo Hội, những tổ chức từ thiện và bác ái rất đáng được khuyến khích. Không nên minh oan cho những vô trách nhiệm của các nhà chính trị không thực thi những công bình xã hội. Ngài nhấn mạnh: “Công bình là là sự đo lường đứng đắn cho tất cả mọi chính sách”. Và cũng như không có tình yêu đích thật ngoài tình ái (eros) và tình yêu lý tưởng (agape), cũng như trong chính trị thì bị lôi cuốn bởi quyền lực, và nếu chỉ là quyền lực mà thôi thì còn thiếu sót
Trong ý nghĩa đó, ngưới tín hữu Công giáo được kêu gọi giữ gìn truyền thống bác ái của Gíáo Hội, mà Đức Giáo Hoàng lo lắng sẽ bị tan rả đi trong các tổ chức từ thiện to lớn: “Bác ái không chỉ dành cho Giáo Hội như một thứ trợ giúp xã hội mà có thể giao cho những người khác, nhưng đó là bản chất của Gíao Hội. Đó là một sự trưng bày bản chất của mình mà Giáo Hội không thể từ chối.”
Thông điệp của Đức Bênêdict XVI nói về tình yêu không giống như một tài liệu giáo huấn như đã được ban hành bởi những Giáo Hoàng tiền nhiệm, Phao lồ VI và Gioan Phao lồ II, về vấn đế tính dục và luân lý của lứa đôi. Không phải Đức Giáo Hoàng này cắt đứt lề lối của các vị tiền nhiệm, nhưng ngài cho rằng các giáo huấn đó đã được phổ biến.. Ngài cũng không làm một cuộc cách mạng, nhưng lời lẽ thì hoàn toàn khác biệt. Điều không thể chối cải được đây là một luận đề triết lý và tôn giáo, được trình bày với những nguyên lý cao siêu và sâu sắc. (Trích từ báo Le Monde ngày 25 tháng 1)