ĐHY George Pell
Ba năm trước tôi đã viếng thăm Li Băng lần thứ hai, được tiếp đón nồng hậu ở khắp nơi, được tổng thống Emile Lahoud tiếp đón và tôi đã đi thăm xã giao các nhà lãnh đạo Hồi Giáo Sunnis và Shi'ites tại đó là Mohammed Rashid Kabbani và Mohammed Hussein Fadlallah.

Ông Kabbani, nhà lãnh đạo Sunni, nói chuyện với tôi trong một giờ, với sự giúp đỡ của một thông dịch viên. Ông cố biện minh cho thực hành của đế quốc Ottoman trong đó người Kitô Giáo phải tránh sang một bên không được đi chung một lối đi với người Hồi Giáo (để bảo vệ cho họ, ông giải thích như thế). Người Kitô Giáo sau đó cũng phải công khai vẽ những dấu hiệu trên quần áo của họ, nhưng chúng tôi không thảo luận về điều này.

Khi tôi ra về, Kabbani yêu cầu tôi làm mọi điều có thể để bảo vệ quyền lợi của thiểu số người Hồi Giáo tại Úc được sống trong hòa bình. Tôi đưa ra một lời bảo đảm rõ rệt về điểm này và yêu cầu ông cũng bảo vệ người Công Giáo tại Li Băng. Ông nói điều đó không thực sự cần thiết vì họ không phải là thiểu số nhưng cũng là người Ả rập như chính ông.

Dù sao, đó cũng là một cuộc trao đổi thú vị, và tôi rất hài lòng nhắc lại công khai nơi đây lời hứa của tôi tiếp tục hoạt động cho hòa bình tại Úc, tiếp tục nỗ lực tránh những xung đột bạo động như đang xảy ra ở các nước khác giữa người Hồi Giáo và người Kitô Giáo, ngay cả tại Indonesia.

Tôi cam kết dấn thân đối thoại và nếu cần thiết thảo luận với các bạn bè Hồi Giáo của chúng ta trong khuôn khổ của đời sống dân chủ tại Úc. Tôi hy vọng là đang đóng góp vào nền hòa bình lâu dài qua những gì tôi nói đây.

Cho phép tôi nêu ra đây những giả định và những sự kiện mà theo ý tôi đang đặt ra những đường hướng dẫn đến một cuộc đối đầu tế nhị và có lẽ nguy hiểm với các xã hội Tây phương.

Bất cứ khi nào có thể, đối thoại và các giao tiếp cá nhân đều được mong mỏi giữa các nhà lãnh đạo tôn giáo, các nhà lãnh đạo cộng đồng địa phương, đặc biệt các cộng đồng tôn giáo và người trẻ.

Thông tin chính xác, sự hiểu biết đúng đắn, và một lòng tôn trọng sự thật ngay cả trước những khác biệt là những cơ sở lâu dài duy nhất cho những trao đổi có kết quả.

Đối thoại giữa những bạn bè không loại trừ việc nêu ra công khai các vấn nạn hay việc phê bình công khai miễn sao chúng có tính cách xây dựng và không được đề ra hầu làm cho tình hình xấu đi bằng cách đe dọa hòa bình hay khơi gợi lòng thù hận, chẳng hạn như thế.

Đây là những sự kiện: Các nền dân chủ phương Tây đang có chiến tranh với những kẻ khủng bố Hồi Giáo. Các cơ quan an ninh, bao gồm cả các cơ quan an ninh Úc, đang phải ráo riết hoạt động hầu ngăn chặn các cuộc tấn công khủng bố. Những thành phần khủng bố Hồi Giáo này muốn một cuộc xung đột giữa các nền văn minh, chúng muốn Tây phương phản ứng quá đáng, phạm sai lầm và vì thế mau đưa cuộc chiến Armageddon (cuộc chiến chung cuộc giữa thiện và ác – chú thích của người dịch) sớm đến hơn.

Tôi không tin là một cuộc đối đầu như thế là không thể tránh khỏi nhưng với mỗi cuộc tấn công khủng bố quy mô và thành công tại Tây phương, chúng ta ngả gần hơn đến một đại họa như thế.

Nếu có một biến cố kiểu 11 tháng Chín nữa xảy ra, sự tức giận của người Mỹ sẽ không còn kềm chế được. Một biến cố như thế tại Úc cũng sẽ gây nên một công luận tương tự có điều là chúng ta không có khả năng quân sự để làm nhiều hơn được.

Kiến thức cơ bản về Hồi Giáo, chẳng hạn như Kinh Koran rất có lợi, có lẽ là thiết yếu vì đó là kiến thức căn bản giải thích cho lịch sử bành trướng của Hồi Giáo. Một quan điểm chính trị chỉ biết hằn học lên án cuộc Thập Tự Chinh mà không đoái hoài đến những điều này trong lịch sử không đưa ra được một cơ sở cho sự hiểu biết thoả đáng cuộc khủng hoảng chúng ta đang gặp phải hiện nay.

Có hai thành kiến về tôn giáo cần phải được loại bỏ. Trước hết là thành kiến cho rằng mọi tôn giáo về căn bản là như nhau: hoặc tốt hết hoặc xấu hết.

Thực ra, những tôn giáo lớn khác nhau vô cùng về tín lý và về những xã hội mà chúng hình thành. Các tôn giáo có thể là nguồn mạch của chân thiện mỹ và chúng cũng có thể, thông qua sự dối trá, trở thành nguồn mạch của độc ác và hủy diệt. Tôi không loại trừ Kitô Giáo khỏi điều này.

Thành kiến thứ hai hoặc cho rằng tôn giáo là nguồn gốc gây ra chiến tranh hoặc cho rằng tôn giáo chẳng bao giờ khơi dậy chiến tranh.

Những sự dữ thê thảm nhất trong thế kỷ 20 được gây nên bởi những thành phần chống tôn giáo như Hitler, Stalin, Mao và Polpot. Tôn giáo thường được dùng hơn như là cớ cho chiến tranh hay như một dấu chỉ chia rẽ, chẳng hạn như cố gắng quân sự của IRA tại Á Nhĩ Lan, nhưng tôn giáo còn có thể nhúng tay trực tiếp và đã được dùng để biện minh cho xung đột vũ trang và gây hấn.

Những biến cố bên ngoài có thể gây ra đe dọa lớn cho những hoạt động bên trong của xã hội Úc. Giờ đây là thời điểm thăng tiến đối thoại hòa bình vượt qua những khác biệt.

Người dân Úc có quyền chất vấn tôi về những khúc mắc trong giáo huấn Công Giáo hay Kitô Giáo. Và người Úc chúng ta có quyền có những câu trả lời cụ thể từ những bạn bè chúng ta liên quan đến các khía cạnh của giáo huấn Hồi Giáo, chẳng hạn như các đoạn Suras về Gươm Giáo (Sword 9:5 và Sword 9:36) trong kinh Koran. Thật là thất vọng khi những yêu cầu như thế hay những lời phê bình chỉ được đáp lại bằng những cáo buộc là ngu dốt hay lạm dụng, trong khi những điểm cụ thể được khôn khéo lờ đi.

Sự hỗ tương là một khái niệm căn bản trong cuộc đối thoại với Hồi Giáo: không phải theo nghĩa là lấy ác báo ác, mắt đền mắt, răng đền rằng nhưng là một yêu cầu theo đó các quyền dân sự chính đáng mà chúng ta ban cấp cho tất cả mọi người ở đây cần phải được thực hiện như thế đối với thiểu số những người Kitô Giáo tại tất cả các nước Hồi Giáo. Hiện nay tình hình không được như vậy.

Cho phép tôi đi ra ngoài các sự kiện này để đi đến kết luận về những điều Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI đã đưa ra tại ngôi trường đại học cũ của ngài tại Regensburg. Sự chú ý đáng kể đã đặt trọng tâm nơi việc ngài dùng một câu trích dẫn – mà ngài đã mô tả là "brusque" (thô bạo) và không tán đồng – từ vị đại đế Byzantine thuộc thế kỷ thứ 14 là Manuel II Paleologus trong cuộc đối thoại với một học giả Hồi Giáo Ba Tư.

Cuộc đối thoại này có thể đã diễn ra trong khi kinh thành Constantinople bị quân Thổ bao vây. Cuối cùng thành này bị thất thủ khoảng 60 năm sau đó vào năm 1453. Câu trích dẫn này là một phần nhỏ trong của một diễn từ dày đặc ý tưởng nhưng rất đẹp liên quan đến đức tin và lý trí.

Đức Thánh Cha cũng đã trích dẫn một người chỉ trích cho rằng đại học Regensburg này độc đáo vì nó có hai phân khoa (một phân khoa thần học Tin Lành và một phân khoa thần học Công Giáo) chuyên tâm nghiên cứu sự hiện hữu của một điều không có thực. Đây cũng là một câu trích mà ngài có tán thành đâu.

Mạch chính trong diễn từ là bạo lực không phù hợp với bản tính Thiên Chúa và bản thiện của tâm hồn. Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI đã là một tiếng nói chống đối công khai cuộc chiến Iraq lần thứ hai và ngài cũng công nhận rằng các tôn giáo có thể có nguy hiểm khác nhau. Một nhà bình luận đã cho rằng lời yêu cầu minh bạch của Đức Thánh Cha cho việc sử dụng lý trí là “một viên đá nền móng hướng đến con đường tranh luận với nhau mà không cần động đến vũ khí”.

Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI thật đúng khi ngài nhấn mạnh nhu cầu đối thoại giữa các dị biệt, bao gồm những dị biệt nội tại của văn minh phương Tây. Nói chung, Đức Thánh Cha đã chế riễu “ý tưởng một hành tinh theo trật tự toán học” không có bàn tay của Thiên Chúa.

Ngài nhấn mạnh rằng “một lý trí điếc lác trước Thiên Chúa và hạ thấp tôn giáo vào trong lãnh vực những yếu tố văn hóa thứ yếu không có khả năng bước vào cuộc đối thoại văn hóa.” Điều này đúng hơn nữa trong cuộc đối thoại với Hồi Giáo, đặc biệt tại các xã hội Tây phương bị tục hóa.

+ Đức Hồng Y George Pell

Tổng Giám Mục Sydney