"Tôi tự hỏi tại sao chính ngay lúc này đây khi người Kitô Giáo và người Hồi Giáo đã bước vào một giai đoạn mới của lịch sử lại không phải là cấp thiết để nhìn nhận và phát triển những mối dây thiêng liêng có thể hiệp nhất chúng ta, hầu cùng nhau bảo tồn và thăng tiến hòa bình, tự do, công lý và các giá trị đạo đức cho lợi ích của tất cả con người?"Trước các đại diện cao cấp của Hồi Giáo tại Thổ Nhĩ Kỳ và ông vụ trưởng Tôn Giáo Vụ Thổ Nhĩ Kỳ, Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI đã đọc bài diễn văn sau đây.

Tôi lấy làm biết ơn trước cơ hội được thăm viếng miền đất phong phú về lịch sử và văn hóa này, được chiêm ngưỡng vẻ đẹp tự nhiên của đất nước Thổ, được chứng kiến tận mắt sự sáng tạo của người dân Thổ, cũng như được thán phục nền văn hóa và lịch sử cổ kính, cả về dân sự lẫn tôn giáo.

Ngay khi đặt chân đến Thổ Nhĩ Kỳ, tôi được hân hạnh đón tiếp bởi Tổng Thống và các vị Đại Diện Chính Quyền. Tôi cũng được vinh dự to lớn là được chào hỏi và gặp gỡ Ngài Thủ Tướng Erdogan tại sân bay. Khi gặp các vị, tôi đã hài lòng bày tỏ lòng quý mến sâu xa đối với tất cả nhân dân của đất nước vĩ đại này và diễn tả lòng kính trọng của tôi nơi mộ của người sáng lập nước Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại, ngài Mustafa Kemal Atatürk.

Giờ đây tôi vui mừng được gặp gỡ ngài tại đây, thưa ngài Vụ Trưởng Tôn Giáo Vụ. Tôi gởi đến ngài tình cảm quý trọng, trước trách nhiệm lớn lao của ngài; và tôi cũng xin gởi lời chào đến tất cả các nhà lãnh đạo tôn giáo tại Thổ, đặc biệt tới các ngài Đại Giáo Trưởng của Ankara và Istanbul. Qua ngài, thưa ông Vụ Trưởng, tôi xin gởi lời chào đến mọi tín hữu Hồi Giáo với lòng quý mến đặc biệt.

Đất nước quý vị rất thân thương đối với những người Kitô hữu: nhiều cộng đoàn Kitô Giáo tiên khởi đã được hình thành tại đây và đã trưởng thành, nhờ được linh hứng bởi giáo huấn của các Thánh Tông Đồ, đặc biệt của Thánh Phaolô và Thánh Gioan. Truyền thống để lại cho chúng ta ghi nhận rằng Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, đã sống tại Êphêsô, nơi nhà của Thánh Tông Đồ Gioan.

Đất nước cao quý này cũng đã chứng kiến sự thăng hoa đáng kể của nền văn minh Hồi Giáo trong nhiều lãnh vực khác nhau, bao gồm cả văn chương và nghệ thuật, cũng như trong các định chế.

Có rất nhiều những đài kỷ niệm Kitô Giáo và Hồi Giáo làm chứng cho quá khứ vinh quang của Thổ Nhĩ Kỳ. Quý vị có thể tự hào chính đáng về những điều này, trong khi bảo tồn những di tích này cho sự chiêm ngưỡng của con số du khách ngày càng tăng đang tuốn đến đây.

Tôi đã khởi sự chuyến viếng thăm đến Thổ Nhĩ Kỳ với cùng những tình cảm đã được vị tiền nhiệm của tôi là Chân Phước Gioan XXIII diễn đạt, khi ngài đặt chân đến đây với tư cách là Tổng Giám Mục Giuseppe Roncalli, để điền khuyết chức vụ Sứ Thần Tòa Thánh tại Istanbul: “Tôi yêu mến những người dân Thổ, những người mà Chúa đã sai tôi đến với họ…Tôi yêu mến dân tộc Thổ, tôi thán phục những đặc điểm tự nhiên của dân tộc có một chỗ đứng riêng trong tiến trình văn minh” (Nhật ký một Tâm Hồn, trang 228, 233-4).

Về phần mình, tôi cũng muốn làm rõ những tính cách của dân tộc Thổ. Ở đây tôi muốn nhắc đến những lời của vị tiền nhiệm ngay trước tôi, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đáng kính, người đã nói trong dịp thăm viếng vào năm 1979: “Tôi tự hỏi tại sao chính ngay lúc này đây khi người Kitô Giáo và người Hồi Giáo đã bước vào một giai đoạn mới của lịch sử lại không phải là cấp thiết để nhìn nhận và phát triển những mối dây thiêng liêng có thể hiệp nhất chúng ta, hầu cùng nhau bảo tồn và thăng tiến hòa bình, tự do, công lý và các giá trị đạo đức cho lợi ích của tất cả con người?” (Diễn từ cho Cộng Đoàn Công Giáo tại Ankara 28/11/1979)

Những câu hỏi này tiếp tục hiện diện trong suốt những năm qua, thật vậy, như tôi đã xác định vào lúc khởi đầu triều Giáo Hoàng của mình, chúng thúc đẩy chúng ta tiến hành cuộc đối thoại như một trao đổi chân thành giữa những bằng hữu với nhau. Khi tôi hân hạnh được gặp các thành viên của các cộng đồng Hồi Giáo tại Köhn vào năm ngoái, nhân dịp ngày Quốc Tế Giới Trẻ, tôi đã lặp lại nhu cầu đẩy mạnh đối thoại liên tôn và liên văn hóa với sự lạc quan và hy vọng. Nó không thể bị giản lược thành một nhiệm ý: trái lại nó là “một nhu cầu sinh tử mà tương lai chúng ta phụ thuộc nặng nề vào đó” (Diễn từ với các cộng đồng Hồi Giáo tại Köhn 20/8/2005).

Các Kitô hữu và các tín hữu Hồi Giáo, theo những tôn giáo của mình, hướng đến sự thật về tính chất thánh thiêng và phẩm giá của con người. Đây là cơ sở cho sự kính trọng và quý mến lẫn nhau, là cơ sở cho sự hợp tác phục vụ hòa bình giữa các quốc gia và các dân tộc, là mong muốn tha thiết nhất của tất cả mọi tín hữu và tất cả những người thiện chí.

Hơn bốn mươi năm qua, giáo huấn của Công Đồng Chung Vaticanô II đã linh hứng và hướng dẫn đường hướng của Tòa Thánh và các Giáo Hội địa phương trên toàn thế giới trong việc thiết lập những mối quan hệ với tín hữu các tôn giáo khác. Theo truyền thống của Thánh Kinh, Công Đồng dạy rằng toàn thể loài người chia sẻ một nguồn gốc chung và một đích điểm chung là Thiên Chúa, Tạo Hóa của chúng ta và là cùng đích của cuộc lữ hành dương thế. Các Kitô hữu và các tín hữu Hồi Giáo cùng thuộc một gia đình những ai tin tưởng nơi một Thiên Chúa duy nhất, và những ai tùy theo truyền thống của mình, công nhận tổ phụ mình là Abraham (x. Công Đồng Chung Vaticanô II, Tuyên Ngôn về Quan Hệ của Giáo Hội với các Tôn Giáo Không Kitô "Nostra Aetate" 1, 3). Sự hiệp nhất về mặt con người và thiêng liêng nơi nguồn cội chúng ta và nơi vận mệnh của chúng ta thúc đẩy chúng ta tìm kiếm một con đường chung khi chúng ta thực hiện vai trò của mình trong cuộc tìm kiếm những giá trị căn bản tiêu biểu cho con người trong thời đại chúng ta. Là các tín hữu nam nữ, chúng ta bị thách đố bởi khát khao rộng lớn và mỏi mòn cho công lý, phát triển, liên đới, tự do, an ninh, hòa bình, bảo vệ sự sống, bảo vệ môi trường và các nguồn tài nguyên của trái đất. Bởi lẽ chính chúng ta, trong khi tôn trọng tính chất độc lập hợp lý của phần đời, cũng có một trách nhiệm đóng góp cụ thể trong việc tìm kiếm một giải pháp thỏa đáng cho những vấn nạn cấp thiết này.

Trên tất cả mọi sự, chúng ta có thể đưa ra một lời đáp trả khả tín cho một câu hỏi nảy sinh rõ rệt từ xã hội ngày nay, cho dù câu hỏi này thường bị gạt qua một bên, đó là câu hỏi về ý nghĩa và mục đích của cuộc sống này, đối với mỗi cá nhân cũng như toàn thể nhân loại. Chúng ta được mời gọi để hoạt động cùng nhau, để có thể giúp xã hội mở lòng ra cho sự siêu việt, và đặt Thiên Chúa Toàn Năng ở một vị thế xứng đáng. Con đường tốt nhất để đi tới là thông qua đối thoại thực sự giữa các Kitô hữu và các tín hữu Hồi Giáo, dựa trên sự thật và được linh hứng bởi một ước muốn chân thành hiểu biết lẫn nhau tốt hơn, trong khi tôn trọng những khác biệt và nhìn nhận những gì chúng ta có chung với nhau. Điều này sẽ dẫn đến một sự kính trọng thật sự trước những lựa chọn có trách nhiệm mà mỗi người đưa ra, đặc biệt đối với những ai gắn bó với các giá trị căn bản và các xác tín tôn giáo cá nhân của mình.

Như một dẫn chứng cho sự kính trọng huynh đệ mà các tín hữu Kitô và các tín hữu Hồi Giáo có thể hoạt động chung với nhau, tôi xin trích dẫn những lời Đức Thánh Cha Grêgôriô VII đã nói vào năm 1076 với một hoàng tử Hồi Giáo ở Bắc Phi, người đã hành xử rất quảng đại đối với các Kitô hữu do mình cai trị. Đức Thánh Cha Grêgôriô đã nói về tình bác ái mà các tín hữu Kitô và các tín hữu Hồi Giáo mắc nợ lẫn nhau “bởi vì chúng ta cùng tin nơi một Thiên Chúa duy nhất, dù cho trong một cách thế khác biệt, và bởi vì chúng ta cùng chúc tụng Ngài và cùng thờ lạy Ngài như là Đấng Tạo Hóa và Đấng Cai Quản thế giới”.

Tự do tôn giáo, được bảo đảm bởi luật lệ và được tôn trọng trong thực tế, dành cho cá nhân cũng như các cộng đoàn, đem lại cho tất cả các tín hữu những điều kiện cần thiết cho sự đóng góp trung thành của họ vào việc xây dựng xã hội, trong một thái độ phục vụ thật sự, đặc biệt biệt trước những người yếu thế và nghèo khó.

Thưa ông Vụ Trưởng, tôi muốn kết thúc diễn từ này bằng việc ngợi khen Thiên Chúa Toàn Năng và Lân Tuất đã ban cho chúng ta có cơ hội hạnh phúc là được ngồi lại với nhau trong thánh danh Ngài. Tôi cầu xin sao cho đó là một dấu chỉ cho dấn thân chung của chúng ta cho sự đối thoại giữa các tín hữu Kitô và các tín hữu Hồi Giáo, và là một khích lệ để chúng ta theo đuổi con đường này trong niềm kính trọng và tình bằng hữu. Cầu xin cho chúng ta hiểu biết nhau hơn, trong khi tăng cường những mối liên hệ quý mến giữa chúng ta trong một ước nguyện chung để sống với nhau trong hài hòa, thanh bình và tin tưởng lẫn nhau. Như những người tín hữu, chúng ta kín múc từ lời cầu nguyện chúng ta sức mạnh cần thiết để vượt qua mọi dấu vết của thành kiến và mang một chứng tá chung cho đức tin kiên vững của chúng ta nơi Thiên Chúa. Xin bình an của Ngài tuôn đổ lên chúng ta!.