”Nhà thần học vĩ đại thứ nhất của Giáo Hội”
VATICAN (Zenit.org).- Bài huấn đức Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI trình bày tại buổi tiếp kiến chung thứ Tư hàng tuần tại Quảng Trường Thánh Phêrô vào ngày 28/3. Bài suy niệm tập trung vào Thánh Irenaeus thành Lyon.
* * *
Anh Chị Em thân mến!
Trong bài giáo lý về các gương mặt lớn của Giáo Hội trong những thế kỷ đầu, hôm nay chúng ta đề cập gương mặt của một nhân vật lỗi lạc, Irenaeus thành Lyon. Sự thông tin tiểu sử của ngài đến từ chính bằng chứng của ngài, do Eusebius truyền lại cho chúng ta trong quyển thứ năm của “Storia Eccleastica.” (Sử Giáo Hội)
Irenaeus có lẽ hơn hết sinh tại Smyrna (ngày nay là Izmir thuộc Thổ Nhĩ Kỳ) giữa năm 135 và 140. Ở đó, khi còn trẻ, ngài theo học trường của Giám Mục Polycarp, vị này là một môn đệ của tông đồ Gioan. Chúng ta không biết lúc nào ngài đã di chuyển từ Tiểu Á tới xứ Gaul, nhưng sự di chuyển này phải trùng hợp với những phát triển đầu tiên của cộng đồng Kitô hữu tại Lyon: Ở đó, trong năm 177, chúng ta gặp Irenaeus được nhắc tới giữa tập đoàn các linh mục.
Năm đó ngài được sai tới Roma, mang một thư từ cộng đồng thành Lyons cho Đức Giáo Hoàng Eleutherius. Sứ vụ Roma giải thoát Irenaeus khỏi cơn bắt đạo của Marcus Aurelius, trong cuộc bắt đạo này ít nhất 48 vị tử đạo đã chết, trong số các ngài có chính giám mục thành Lyon, Pothinus già 90 tuổi, ngài chết vì bị ngược đãi trong tù. Như vậy, khi trở về, Irenaeus được bàu làm giám mục của thành phố. Vị mục tử mới hiến mình hoàn toàn cho thừa tác vụ giám mục của ngài, thừa tác vụ kết thúc lối 202-203, có lẽ bằng sự tử đạo.
Trên hết tất cả Irenaeus là một người trong đức tin và là một mục tử. Như Mục Tử Tốt Lành, ngài có sự khôn ngoan, một nền giáo lý phong phú, và sự nhiệt thành truyền giáo. Như là một văn sĩ, ngài nhắm tới hai mục tiêu: bảo vệ giáo lý thật khỏi những vụ tấn công của những kẻ rối đạo, và trình bày rõ ràng chân lý đức tin. Hai tác phẩm của ngài còn hiện hữu đáp ứng cách chính xác với sự hoàn thành hai mục tiêu này: năm quyển “Phi Bác các Bè Rối,” và quyển “Sự Trình Bày Huấn Giáo Tông Đồ” (quyển này có thể được gọi là “quển giáo lý Kitô giáo xưa nhất”). Không chút nghi ngờ gì Irenaeus là nhà vô địch trong trận chiến chống các bè rối.
Giáo Hội thế kỷ thứ hai bị đe dọa bởi một thuyết được gọi là thuyết ngộ đạo, môt học thuyết quả quyết rằng đức tin do Giáo Hội dạy không gì khác hơn là sự biểu trưng cho những kẻ chất phác, những người này không có khả năng hiểu thấu những sự khó hơn. Ngược lại, những kẻ đã nhập môn, những nhà trí thức---họ tự gọi là những kẻ ngộ đạo—có thể hiểu những gì bên sau sự biểu trưng, và như vậy họ hình thành một nhóm người ưu tú, Kitô Giáo trí thức.
Rõ ràng, Kitô Giáo trí thức ngày càng trở nên rời rạc với nhiều luồng tư tưởng, thường là kỳ lạ và ngông cuồng, nhưng có sức hấp dẫn nhiều người. Một yếu tố chung trong những luồng tư tưởng khác nhau này là thuyết nhị nguyên, nghĩa là một sự chối bỏ đức tin vào một Thiên Chúa duy nhất, là Cha mọi loài, Đấng sáng tạo và cứu độ nhân loại và thế giới. Muốn giải thích sự dữ trong thế giới, họ khẳng định sự hiện hữu của một nguyên lý tiêu cực, bên cạnh Thiên Chúa tốt lành. Nguyên lý tiêu cực này đã tạo dựng vật chất, những sự vật chất.
Được bám chắc trong giáo lý kinh thánh về sự Sáng Tạo, Irenaeus bác bỏ thuyết nhị nguyên và chủ nghĩa bi quan ngộ đạo làm giảm giá những thực tại thể xác. Ngài dứt khoát khẳng định sự thánh thiện nguyên thủy của vật chất, của thể xác, của xác thịt, cũng như của tinh thần. Nhưng công việc của ngài đi xa hơn sự bài bác các bè rối. Trên thực tế, người ta có thể nói rằng ngài biểu hiện mình như là nhà thần học cả thể đầu tiên của Gíáo Hội, người đã thiết lập thần học có hệ thống. Chính ngài nói về hệ thống thần học, tức là, sự cố kết của đức tin.
Vấn đề của “luật đức tin” và sự truyền thông đức tin nằm tại trung tâm giáo lý của ngài. Đối với Irenaeus, “luật đức tin” trên thực tế trùng hợp với kinh Tin Kính các Tông Đồ, và cho chúng ta chìa khóa giải thích Tin Mừng, giải thích tin ngưỡng trong ánh sáng Tin Mừng. Kinh tin kính các Tông Đồ, một thứ tổng hợp Tin Mừng, giúp chúng ta hiểu điều Tin Mừng muốn nói, chúng ta phải đọc Tin Mừng cách nào.
Trên thực tế, Tin Mừng do Thánh Irenaeus giảng là Tin Mừng ngài đã lãnh nhận từ Polycarp, giám mục thành Smyrna, và Tin Mừng của Polycarp đi lui về tông đồ Gioan, vì Polycarp đã là môn đệ Gioan. Như vậy, huấn giáo thật không phải là huấn giáo do các người trí thức bày ra, vượt trên đức tin đơn giản của Giáo Hội. Tin Mừng thật được giảng bởi các giám mục là những kẻ nhận lãnh Tin Mừng nhờ một giây chuyền không dứt từ các tông đồ.
Những người này đã không dạy điều gì ngoài đức tin đơn giản, cũng là chiều sâu thật của mạc khải của Thiên Chúa. Do đó Irenaeus nói, không có giáo lý bí ẩn sau niềm tin chung của Giáo Hội. Không có Kitô giáo cao hơn cho những người trí thức. Đức tin do Giáo Hội công khai tuyên xưng là đức tin chung cho mọi người. Chỉ đức tin này có tính tông đồ, đến từ các tông đồ, tức là, từ Chúa Giêsu và từ Thiên Chúa.
Muốn gắn bó với đức tin này do các tông đồ công khai dạy cho các kẻ kế vị các ngài, các Kitô hữu phải giữ những gì các giám mục nói. Họ phải đặc biệt xem huấn giáo của Giáo Hội Roma, là xuất sắc và lâu đời. Giáo Hội này, vì tuổi tác của nó, có tính tông đồ lớn nhất; trên thực tế những nguồn gốc của nó đến từ những trụ cột của tập đoàn tông đồ, Thánh Phêrô và Thánh Phaolô. Tất cả mọi Giáo Hội phải hoà hợp với Giáo Hội Roma, công nhận trong đó mực thước của truyền thống tông đồ thật và đức tin duy nhất chung cho Giáo Hội.
Với những luận cứ này, được tóm tắt rất ngắn ở đây, Irenaeus bác bỏ chính nền móng của những ý định của những người ngộ đạo, của những người trí thức này: Trước hết, họ không có một chân lý cao hơn đức tin chung, bởi vì điều họ nói không có nguồn gốc tông đồ, nhưng là do họ bày đặt ra. Hai là, chân lý và sự cứu độ không phải là một đặc ân cho một số ít giữ độc quyền, nhưng là điều mà mọi người có thể đạt được qua sự giảng dạy của các vị kế nhiệm các tông đồ, và hơn hết là qua sự giảng dạy của Giám mục Roma.
Vì không đồng ý với đặc tinh “ bí ẩn” của truyền thống ngộ đạo và vì tranh cãi nhiều mâu thuẩn nội tại của nó, Irenaeus lưu tâm làm sáng tỏ quan niệm chân chính của Truyền Thống Tông Đồ, mà chúng ta có thể tổng hợp trong ba điểm.
a)Truyền Thống Tông Đồ là “công khai,” không phải là tư riêng hay là bí mật. Đối với Irenaeus, không có nghi ngờ rằng nội dung đức tin do Giáo Hội truyền lại là điều được nhận lãnh từ các tông đồ và từ Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa. Không có huấn giáo nào ngoài huấn giáo này. Do đó, đối với kẻ nào muốn biết giáo lý chân thật, chỉ cần biết “Truyền Thống đến từ các Tông Đồ và đức tin được loan báo cho người ta”: truyền thống và đức tin “đã đến với chúng ta qua sự kế thừa của các giám mục” (“Adv.Haer.” 3,3,3-4). Như vậy, sự kế thừa của các giám mục, nguyên lý cá nhân, Truyền Thống Tông Đồ, và nguyên lý giáo lý tất cà đều xảy ra đồng thời.
b)Truyền Thống Tông Đồ là “một.” Đang khi thuyết ngộ đạo bị chia thành nhiều phái, truyền Thống của Giáo Hội là một trong những nội dung cơ bản của nó, điều mà—như chúng ta đã thấy—Irenaeus gọi là “luật đức tin” hay là “ sự thật.” Và vì Truyền Thống đó là một. nên nó xây dựng sự hiệp nhất giữa các dân tộc, giữa những văn hoá khác nhau và những cộng đồng khác nhau. Nó có một nội dung chung như nội dung của chân lý, mặc dầu những ngôn ngữ và những văn hóa khác biệt.
Có một sự diễn tả đẹp mà Irenaeus sử dụng trong sách “Bài những bè Rối Đạo’: “Giáo Hội, đã nhận lãnh huấn giáo này và đức tin này, mặc dầu ở rải khắp toàn thế giới, nhưng, dường như chỉ chiếm cứ một nhà, nên bảo tồn nó cách thận trọng.
Giáo Hội cũng tin những điểm này (những điểm giáo lý) đúng như Giáo Hội chỉ có một linh hồn, và cũng một con tim, và Giáo Hội công bố những điểm này, và dạy chúng, và truyền lại chúng, với sự hài hoà tuyệt hảo, dường như Giáo Hội chỉ có một miệng. Vì, mặc dầu những ngôn ngữ thế giới là khác biệt, nhưng ý nghĩa của truyền thống là một và y như nhau. Vì những Giáo Hội đã được thiết lập trong nước Đức, không tin hay là truyền lại một điều gì khác biệt, những Giáo Hội tại Tây Ban- Na cũng không làm như vậy, những Giáo Hội tại Gaul cũng không làm như vậy, những Giáo Hội Phuơng Đông cũng không làm như vậy, những Giáo Hội tại Ai cập cũng không làm như vậy, những Giáo Hội tại Libya cũng không làm như vậy, những Giáo Hội đã được thiết lập trong những vùng trung tâm thế giới cũng không làm như vậy.”
Chúng ta đã có thể thấy tại thời điểm này—chúng ta đang ở trong năm 200- tính phổ quát của Giáo Hội, tính công giáo của Giáo Hội và sức mạnh hiệp nhất của chân lý, là những yếu tố hiệp nhất những thực tại rất khác biệt này, từ Đức, tới Tây-ban-nha, tới Italia, tới Ai cập, tới Lybia, trong chân lý chung được Chú Kitô mặc khải cho chúng ta.
c) Sau cùng, Truyền Thống Tông Đồ là, như ngài nói trong tiếng Hy lạp, ngôn ngữ trong đó ngài đã viết sách của ngài, “pneumatic,” nghĩa là, thiêng liêng, được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần. Trong tiếng Hy Lạp, thần khí là “pneuma.” Đó không phải là một sự truyền thông được phó thác cho những khả năng của những người được giáo dục nhiều hay ít, nhưng Thần Khí Thiên Chúa Đấng bảo đảm sự trung thành trong việc truyền thông đức tin.
Đó là sự “sống” của Giáo Hội, làm cho Giáo Hội luôn trẻ trung, nghĩa là sinh hoa quả với nhiều đoàn sủng. Giáo Hội và Thần Khí không thể chia lìa nhau đối với Irenaeus. Đức tin này, chúng ta đọc trong sách thứ ba “Bài trừ các bè Rối” “đã được lãnh nhận từ Giáo Hội, chúng ta phải bảo tồn nó, và đức tin đó luôn luôn, nhờ Thần Khí Thiên Chúa, đổi mới tuổi trẻ của mình, dường như nó là một kho tàng quí báu đựng trong một bình hảo hạng, làm cho chính cái bình đựng nó cũng đổi mới tuổi trẻ của nó… Vì đâu có Giáo Hội, ở đó có Thần Khi Thiên Chúa; và đâu có thần Khí Thiên Chúa, ở đó có Giáo Hội, và mọi thứ ân sủng” (3, 24,1).
Như chúng ta có thể thấy, Irenaeus không dừng lại tại sự định nghĩa quan niệm Truyền Thống. Truyền Thống của ngài, truyền Thống không đứt khoảng, không phải là thuyết Truyền Thống, bởi vì Truyền Thống này luôn luôn được Chúa Thánh thần ban sinh khí, làm cho nó sống động lại, cho phép nó được giải thích và được hiểu trong sức sống của Giáo Hội.
Theo huấn giáo của ngài, đức tin Giáo Hội phải được rao giảng trong một cách nó xuất hiện như nó phải xuất hiện, nghĩa là “công khai,” “một,” thần khí.” “thiêng liêng!”. Từ mỗi đặc tính này, người ta có thể thu lượm một sự phân biệt đầy hiệu quả của sự truyền thông đích thực đức tin trong Giáo Hội ngày nay.
Cách chung hơn, trong giáo lý của Irenaeus, nhân phẩm, xác và hồn, được ăn rễ sâu trong sự Chúa Sáng Tạo, trong hình ảnh của Chúa kitô và trong công việc trường kỳ của sự thánh hoá của Thần Khí. Giáo lý này như là “con đường chính” soi sáng cho mọi người thiện chí, là đối tượng và là những giới hạn đối thoại về các giá trị, và cho một lực đẩy luôn mới cho những sinh hoạt truyền giáo của Giáo Hội, cho sức mạnh của chân lý là nguồn mạch của tất cả giá trị thật trong thế giới.
Sau buổi tiếp kiến, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI chào những khách thăm viếng trong những thứ tiếng khác nhau. Trong tiếng Anh, ngài nói:
Anh Chị Em thân mến,
Tiếp tục bài giáo lý của chúng ta về các Giáo Phụ, bây giờ chúng ta quay về Thánh Irenaeus thành Lyons, một nhà thần học vĩ đại và một giám mục cuối thế kỷ thứ hai, trong các tác phẩm của ngài, Irenaeus giới thiệu những nội dung của đức tin tông đồ và kêu gọi tới truyền thống sống động của Giáo Hội hầu binh vực đức tin này khỏi những huấn giáo sai lầm
Như vậy ngài đề cao regula fidei : “luật đức tin” chứa đựng trong kinh Tin Kính các Tông Đồ và trong Tin Mừng do các Giám Mục Giáo Hội công bố. Tin Mừng Irenaeus rao giảng là Tin Mừng được rao giảng do chính thầy của ngài là Polycarp, là người đã lãnh nhận Tin Mừng ấy từ Gioan Tông Đồ trong một đường kế thừa trọn vẹn trở ngược lại với chính Chúa Kitô: Irenaeus cũng viết về thẩm quyền duy nhất của Giáo Hội Roma vì được xây dựng trên các Tông Đồ. Người mục tử hăng say này phác họa cho chúng ta ba đăc tính quan trọng của Truyền Thống Tông Đố: Truyền Thống ấy là “công khai”, bởi vì được truyền cho tất cả qua huấn giáo của các Giám mục; truyền Thống ấy là “một”, bởi vì nội dung của nó vẫn là một mặc dầu sự khác biệt ngôn ngữ và văn hoá; Truyền Thống ấy là “thần Khí”, bởi vì qua đó Chúa Thánh thần tiếp tục làm sống động và đổi mới Giáo Hội cả ngày nay.
Tôi vui mừng chào nhiều người hành hương nói tiếng Anh hiện diện. Cách riêng, tôi dâng những lời chào chân tình tới các linh mục từ học viện Giáo Dục Tiếp Tục Thần Học và tới các sinh viên Trường Vỡ Bị NATO. Trên tất cả anh chị em tôi cầu xin những phúc lành bình an và niềm vui của Thiên Chúa.
VATICAN (Zenit.org).- Bài huấn đức Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI trình bày tại buổi tiếp kiến chung thứ Tư hàng tuần tại Quảng Trường Thánh Phêrô vào ngày 28/3. Bài suy niệm tập trung vào Thánh Irenaeus thành Lyon.
* * *
Anh Chị Em thân mến!
Trong bài giáo lý về các gương mặt lớn của Giáo Hội trong những thế kỷ đầu, hôm nay chúng ta đề cập gương mặt của một nhân vật lỗi lạc, Irenaeus thành Lyon. Sự thông tin tiểu sử của ngài đến từ chính bằng chứng của ngài, do Eusebius truyền lại cho chúng ta trong quyển thứ năm của “Storia Eccleastica.” (Sử Giáo Hội)
Irenaeus có lẽ hơn hết sinh tại Smyrna (ngày nay là Izmir thuộc Thổ Nhĩ Kỳ) giữa năm 135 và 140. Ở đó, khi còn trẻ, ngài theo học trường của Giám Mục Polycarp, vị này là một môn đệ của tông đồ Gioan. Chúng ta không biết lúc nào ngài đã di chuyển từ Tiểu Á tới xứ Gaul, nhưng sự di chuyển này phải trùng hợp với những phát triển đầu tiên của cộng đồng Kitô hữu tại Lyon: Ở đó, trong năm 177, chúng ta gặp Irenaeus được nhắc tới giữa tập đoàn các linh mục.
Năm đó ngài được sai tới Roma, mang một thư từ cộng đồng thành Lyons cho Đức Giáo Hoàng Eleutherius. Sứ vụ Roma giải thoát Irenaeus khỏi cơn bắt đạo của Marcus Aurelius, trong cuộc bắt đạo này ít nhất 48 vị tử đạo đã chết, trong số các ngài có chính giám mục thành Lyon, Pothinus già 90 tuổi, ngài chết vì bị ngược đãi trong tù. Như vậy, khi trở về, Irenaeus được bàu làm giám mục của thành phố. Vị mục tử mới hiến mình hoàn toàn cho thừa tác vụ giám mục của ngài, thừa tác vụ kết thúc lối 202-203, có lẽ bằng sự tử đạo.
Trên hết tất cả Irenaeus là một người trong đức tin và là một mục tử. Như Mục Tử Tốt Lành, ngài có sự khôn ngoan, một nền giáo lý phong phú, và sự nhiệt thành truyền giáo. Như là một văn sĩ, ngài nhắm tới hai mục tiêu: bảo vệ giáo lý thật khỏi những vụ tấn công của những kẻ rối đạo, và trình bày rõ ràng chân lý đức tin. Hai tác phẩm của ngài còn hiện hữu đáp ứng cách chính xác với sự hoàn thành hai mục tiêu này: năm quyển “Phi Bác các Bè Rối,” và quyển “Sự Trình Bày Huấn Giáo Tông Đồ” (quyển này có thể được gọi là “quển giáo lý Kitô giáo xưa nhất”). Không chút nghi ngờ gì Irenaeus là nhà vô địch trong trận chiến chống các bè rối.
Giáo Hội thế kỷ thứ hai bị đe dọa bởi một thuyết được gọi là thuyết ngộ đạo, môt học thuyết quả quyết rằng đức tin do Giáo Hội dạy không gì khác hơn là sự biểu trưng cho những kẻ chất phác, những người này không có khả năng hiểu thấu những sự khó hơn. Ngược lại, những kẻ đã nhập môn, những nhà trí thức---họ tự gọi là những kẻ ngộ đạo—có thể hiểu những gì bên sau sự biểu trưng, và như vậy họ hình thành một nhóm người ưu tú, Kitô Giáo trí thức.
Rõ ràng, Kitô Giáo trí thức ngày càng trở nên rời rạc với nhiều luồng tư tưởng, thường là kỳ lạ và ngông cuồng, nhưng có sức hấp dẫn nhiều người. Một yếu tố chung trong những luồng tư tưởng khác nhau này là thuyết nhị nguyên, nghĩa là một sự chối bỏ đức tin vào một Thiên Chúa duy nhất, là Cha mọi loài, Đấng sáng tạo và cứu độ nhân loại và thế giới. Muốn giải thích sự dữ trong thế giới, họ khẳng định sự hiện hữu của một nguyên lý tiêu cực, bên cạnh Thiên Chúa tốt lành. Nguyên lý tiêu cực này đã tạo dựng vật chất, những sự vật chất.
Được bám chắc trong giáo lý kinh thánh về sự Sáng Tạo, Irenaeus bác bỏ thuyết nhị nguyên và chủ nghĩa bi quan ngộ đạo làm giảm giá những thực tại thể xác. Ngài dứt khoát khẳng định sự thánh thiện nguyên thủy của vật chất, của thể xác, của xác thịt, cũng như của tinh thần. Nhưng công việc của ngài đi xa hơn sự bài bác các bè rối. Trên thực tế, người ta có thể nói rằng ngài biểu hiện mình như là nhà thần học cả thể đầu tiên của Gíáo Hội, người đã thiết lập thần học có hệ thống. Chính ngài nói về hệ thống thần học, tức là, sự cố kết của đức tin.
Vấn đề của “luật đức tin” và sự truyền thông đức tin nằm tại trung tâm giáo lý của ngài. Đối với Irenaeus, “luật đức tin” trên thực tế trùng hợp với kinh Tin Kính các Tông Đồ, và cho chúng ta chìa khóa giải thích Tin Mừng, giải thích tin ngưỡng trong ánh sáng Tin Mừng. Kinh tin kính các Tông Đồ, một thứ tổng hợp Tin Mừng, giúp chúng ta hiểu điều Tin Mừng muốn nói, chúng ta phải đọc Tin Mừng cách nào.
Trên thực tế, Tin Mừng do Thánh Irenaeus giảng là Tin Mừng ngài đã lãnh nhận từ Polycarp, giám mục thành Smyrna, và Tin Mừng của Polycarp đi lui về tông đồ Gioan, vì Polycarp đã là môn đệ Gioan. Như vậy, huấn giáo thật không phải là huấn giáo do các người trí thức bày ra, vượt trên đức tin đơn giản của Giáo Hội. Tin Mừng thật được giảng bởi các giám mục là những kẻ nhận lãnh Tin Mừng nhờ một giây chuyền không dứt từ các tông đồ.
Những người này đã không dạy điều gì ngoài đức tin đơn giản, cũng là chiều sâu thật của mạc khải của Thiên Chúa. Do đó Irenaeus nói, không có giáo lý bí ẩn sau niềm tin chung của Giáo Hội. Không có Kitô giáo cao hơn cho những người trí thức. Đức tin do Giáo Hội công khai tuyên xưng là đức tin chung cho mọi người. Chỉ đức tin này có tính tông đồ, đến từ các tông đồ, tức là, từ Chúa Giêsu và từ Thiên Chúa.
Muốn gắn bó với đức tin này do các tông đồ công khai dạy cho các kẻ kế vị các ngài, các Kitô hữu phải giữ những gì các giám mục nói. Họ phải đặc biệt xem huấn giáo của Giáo Hội Roma, là xuất sắc và lâu đời. Giáo Hội này, vì tuổi tác của nó, có tính tông đồ lớn nhất; trên thực tế những nguồn gốc của nó đến từ những trụ cột của tập đoàn tông đồ, Thánh Phêrô và Thánh Phaolô. Tất cả mọi Giáo Hội phải hoà hợp với Giáo Hội Roma, công nhận trong đó mực thước của truyền thống tông đồ thật và đức tin duy nhất chung cho Giáo Hội.
Với những luận cứ này, được tóm tắt rất ngắn ở đây, Irenaeus bác bỏ chính nền móng của những ý định của những người ngộ đạo, của những người trí thức này: Trước hết, họ không có một chân lý cao hơn đức tin chung, bởi vì điều họ nói không có nguồn gốc tông đồ, nhưng là do họ bày đặt ra. Hai là, chân lý và sự cứu độ không phải là một đặc ân cho một số ít giữ độc quyền, nhưng là điều mà mọi người có thể đạt được qua sự giảng dạy của các vị kế nhiệm các tông đồ, và hơn hết là qua sự giảng dạy của Giám mục Roma.
Vì không đồng ý với đặc tinh “ bí ẩn” của truyền thống ngộ đạo và vì tranh cãi nhiều mâu thuẩn nội tại của nó, Irenaeus lưu tâm làm sáng tỏ quan niệm chân chính của Truyền Thống Tông Đồ, mà chúng ta có thể tổng hợp trong ba điểm.
a)Truyền Thống Tông Đồ là “công khai,” không phải là tư riêng hay là bí mật. Đối với Irenaeus, không có nghi ngờ rằng nội dung đức tin do Giáo Hội truyền lại là điều được nhận lãnh từ các tông đồ và từ Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa. Không có huấn giáo nào ngoài huấn giáo này. Do đó, đối với kẻ nào muốn biết giáo lý chân thật, chỉ cần biết “Truyền Thống đến từ các Tông Đồ và đức tin được loan báo cho người ta”: truyền thống và đức tin “đã đến với chúng ta qua sự kế thừa của các giám mục” (“Adv.Haer.” 3,3,3-4). Như vậy, sự kế thừa của các giám mục, nguyên lý cá nhân, Truyền Thống Tông Đồ, và nguyên lý giáo lý tất cà đều xảy ra đồng thời.
b)Truyền Thống Tông Đồ là “một.” Đang khi thuyết ngộ đạo bị chia thành nhiều phái, truyền Thống của Giáo Hội là một trong những nội dung cơ bản của nó, điều mà—như chúng ta đã thấy—Irenaeus gọi là “luật đức tin” hay là “ sự thật.” Và vì Truyền Thống đó là một. nên nó xây dựng sự hiệp nhất giữa các dân tộc, giữa những văn hoá khác nhau và những cộng đồng khác nhau. Nó có một nội dung chung như nội dung của chân lý, mặc dầu những ngôn ngữ và những văn hóa khác biệt.
Có một sự diễn tả đẹp mà Irenaeus sử dụng trong sách “Bài những bè Rối Đạo’: “Giáo Hội, đã nhận lãnh huấn giáo này và đức tin này, mặc dầu ở rải khắp toàn thế giới, nhưng, dường như chỉ chiếm cứ một nhà, nên bảo tồn nó cách thận trọng.
Giáo Hội cũng tin những điểm này (những điểm giáo lý) đúng như Giáo Hội chỉ có một linh hồn, và cũng một con tim, và Giáo Hội công bố những điểm này, và dạy chúng, và truyền lại chúng, với sự hài hoà tuyệt hảo, dường như Giáo Hội chỉ có một miệng. Vì, mặc dầu những ngôn ngữ thế giới là khác biệt, nhưng ý nghĩa của truyền thống là một và y như nhau. Vì những Giáo Hội đã được thiết lập trong nước Đức, không tin hay là truyền lại một điều gì khác biệt, những Giáo Hội tại Tây Ban- Na cũng không làm như vậy, những Giáo Hội tại Gaul cũng không làm như vậy, những Giáo Hội Phuơng Đông cũng không làm như vậy, những Giáo Hội tại Ai cập cũng không làm như vậy, những Giáo Hội tại Libya cũng không làm như vậy, những Giáo Hội đã được thiết lập trong những vùng trung tâm thế giới cũng không làm như vậy.”
Chúng ta đã có thể thấy tại thời điểm này—chúng ta đang ở trong năm 200- tính phổ quát của Giáo Hội, tính công giáo của Giáo Hội và sức mạnh hiệp nhất của chân lý, là những yếu tố hiệp nhất những thực tại rất khác biệt này, từ Đức, tới Tây-ban-nha, tới Italia, tới Ai cập, tới Lybia, trong chân lý chung được Chú Kitô mặc khải cho chúng ta.
c) Sau cùng, Truyền Thống Tông Đồ là, như ngài nói trong tiếng Hy lạp, ngôn ngữ trong đó ngài đã viết sách của ngài, “pneumatic,” nghĩa là, thiêng liêng, được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần. Trong tiếng Hy Lạp, thần khí là “pneuma.” Đó không phải là một sự truyền thông được phó thác cho những khả năng của những người được giáo dục nhiều hay ít, nhưng Thần Khí Thiên Chúa Đấng bảo đảm sự trung thành trong việc truyền thông đức tin.
Đó là sự “sống” của Giáo Hội, làm cho Giáo Hội luôn trẻ trung, nghĩa là sinh hoa quả với nhiều đoàn sủng. Giáo Hội và Thần Khí không thể chia lìa nhau đối với Irenaeus. Đức tin này, chúng ta đọc trong sách thứ ba “Bài trừ các bè Rối” “đã được lãnh nhận từ Giáo Hội, chúng ta phải bảo tồn nó, và đức tin đó luôn luôn, nhờ Thần Khí Thiên Chúa, đổi mới tuổi trẻ của mình, dường như nó là một kho tàng quí báu đựng trong một bình hảo hạng, làm cho chính cái bình đựng nó cũng đổi mới tuổi trẻ của nó… Vì đâu có Giáo Hội, ở đó có Thần Khi Thiên Chúa; và đâu có thần Khí Thiên Chúa, ở đó có Giáo Hội, và mọi thứ ân sủng” (3, 24,1).
Như chúng ta có thể thấy, Irenaeus không dừng lại tại sự định nghĩa quan niệm Truyền Thống. Truyền Thống của ngài, truyền Thống không đứt khoảng, không phải là thuyết Truyền Thống, bởi vì Truyền Thống này luôn luôn được Chúa Thánh thần ban sinh khí, làm cho nó sống động lại, cho phép nó được giải thích và được hiểu trong sức sống của Giáo Hội.
Theo huấn giáo của ngài, đức tin Giáo Hội phải được rao giảng trong một cách nó xuất hiện như nó phải xuất hiện, nghĩa là “công khai,” “một,” thần khí.” “thiêng liêng!”. Từ mỗi đặc tính này, người ta có thể thu lượm một sự phân biệt đầy hiệu quả của sự truyền thông đích thực đức tin trong Giáo Hội ngày nay.
Cách chung hơn, trong giáo lý của Irenaeus, nhân phẩm, xác và hồn, được ăn rễ sâu trong sự Chúa Sáng Tạo, trong hình ảnh của Chúa kitô và trong công việc trường kỳ của sự thánh hoá của Thần Khí. Giáo lý này như là “con đường chính” soi sáng cho mọi người thiện chí, là đối tượng và là những giới hạn đối thoại về các giá trị, và cho một lực đẩy luôn mới cho những sinh hoạt truyền giáo của Giáo Hội, cho sức mạnh của chân lý là nguồn mạch của tất cả giá trị thật trong thế giới.
Sau buổi tiếp kiến, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI chào những khách thăm viếng trong những thứ tiếng khác nhau. Trong tiếng Anh, ngài nói:
Anh Chị Em thân mến,
Tiếp tục bài giáo lý của chúng ta về các Giáo Phụ, bây giờ chúng ta quay về Thánh Irenaeus thành Lyons, một nhà thần học vĩ đại và một giám mục cuối thế kỷ thứ hai, trong các tác phẩm của ngài, Irenaeus giới thiệu những nội dung của đức tin tông đồ và kêu gọi tới truyền thống sống động của Giáo Hội hầu binh vực đức tin này khỏi những huấn giáo sai lầm
Như vậy ngài đề cao regula fidei : “luật đức tin” chứa đựng trong kinh Tin Kính các Tông Đồ và trong Tin Mừng do các Giám Mục Giáo Hội công bố. Tin Mừng Irenaeus rao giảng là Tin Mừng được rao giảng do chính thầy của ngài là Polycarp, là người đã lãnh nhận Tin Mừng ấy từ Gioan Tông Đồ trong một đường kế thừa trọn vẹn trở ngược lại với chính Chúa Kitô: Irenaeus cũng viết về thẩm quyền duy nhất của Giáo Hội Roma vì được xây dựng trên các Tông Đồ. Người mục tử hăng say này phác họa cho chúng ta ba đăc tính quan trọng của Truyền Thống Tông Đố: Truyền Thống ấy là “công khai”, bởi vì được truyền cho tất cả qua huấn giáo của các Giám mục; truyền Thống ấy là “một”, bởi vì nội dung của nó vẫn là một mặc dầu sự khác biệt ngôn ngữ và văn hoá; Truyền Thống ấy là “thần Khí”, bởi vì qua đó Chúa Thánh thần tiếp tục làm sống động và đổi mới Giáo Hội cả ngày nay.
Tôi vui mừng chào nhiều người hành hương nói tiếng Anh hiện diện. Cách riêng, tôi dâng những lời chào chân tình tới các linh mục từ học viện Giáo Dục Tiếp Tục Thần Học và tới các sinh viên Trường Vỡ Bị NATO. Trên tất cả anh chị em tôi cầu xin những phúc lành bình an và niềm vui của Thiên Chúa.