“Hãy loan báo sứ điệp tình thương chiến thắng nỗi u buồn”
GUARATINGUETA, Brazil, 13/5/2007 (Zenit.org).- Đây là bản dịch lời chào thăm của Đức Bênêđíctô XVI với các Chị em Nghèo khó thánh Clara trong cuộc viếng thăm đan viện “Fazenda da Esperança” ngày thứ Bẩy 12/5/2007 tại Guaratinguetá.
* * *
Ngợi khen Chúa, lạy Chúa tôi, với muôn loài thọ tạo! – Với những lời này dâng lên Thiên Chúa tối cao và tốt lành, vị thánh nghèo thành Assisi nhìn nhận lòng quảng đại độc nhất vô nhị của Thiên Chúa Tạo hoá, và lòng nhân hậu, sức mạnh và vẻ đẹp tuôn trào cách dịu dàng trên các thọ tạo, biến chúng thành những tấm gương của Đấng Tạo hoá toàn năng.
Chị em thân mến, những con cái thiêng liêng của thánh Clara, cuộc tụ họp của chúng ta tại đan viện “Fazenda da Esperança” mang ý nghĩa là dấu chỉ lòng ưu ái của Đấng kế vị thánh Phêrô đối với các chị em dòng kín, và cũng là một biểu lộ thanh thản của tình yêu, vang vọng qua những núi đồi của rặng núi Mantiqueira và lan rộng khắp mặt đất: “Chẳng một lời một lẽ, chẳng nghe thấy âm thanh, mà tiếng vang đã dội khắp hoàn cầu” (Tv 18,4-5). Từ nơi chốn này, các con cái thánh Clara tuyên xưng: “Ngợi khen Chúa, lạy Chúa tôi, với muôn loài thọ tạo!”
Tại những nơi mà xã hội không còn thấy tương lai hay hy vọng gì, những người kitô hữu được mời gọi loan báo quyền năng của sự phục sinh: chính nơi đây, tại đan viện “Fazenda da Esperança” – ngôi nhà của biết bao nhiêu người, đặc biệt những người trẻ, đang tìm cách cai nghiện ma tuý, rượu và thuốc – là một chứng tá rõ nét về Tin mừng của Đức Kitô giữa một xã hội tiêu thụ xa lìa Thiên Chúa. Tương phản biết bao với viễn tượng của Đấng Tạo hoá khi nhìn đến công trình của Người! Trong cuộc sống chiêm ngưỡng của mình, các chị em nghèo khó thánh Clara và các đan sĩ dòng kín khác chú mục đến sự cao cả của Thiên Chúa và khám phá vẻ đẹp của tạo thành; vì thế họ có thể mô tả Người như tác giả thánh đã chỉ cho biết: Thiên Chúa đã ngỡ ngàng trước công trình của Người, thụ tạo yêu dấu của Người (St 1,31).
Khi tội lỗi nhập vào trần gian, và cùng với tội, sự chết, tạo vật yêu dấu của Thiên Chúa, dù bị tổn thương, đã không hoàn toàn mất hết vẻ đẹp: trái lại, một tình yêu lớn hơn đã được đón nhận: “Ôi tội hồng phúc, nhờ tội chúng con mới có được Đấng Cứu tinh cao cả dường này!” – Giáo hội đã loan báo như thế trong bài Exsultet trong đêm Phục sinh huyền nhiệm và rạng ngời. Chính Đức Kitô phục sinh đã chữa lành vết thương và cứu những người con cái nam nữ của Thiên Chúa, cứu nhân loại khỏi chết, tội lỗi và nô lệ các đam mê. Cuộc vượt qua của Đức Kitô nối kết trời và đất. Tại đan viện “Fazenda da Esperança” này, những lời cầu nguyện của chị em nghèo khó thánh Clara được nối kết với công việc cần thiết của thuốc men và điều trị để giải thoát khỏi tù ngục và cắt đứt xiềng xích của ma tuý đang gây đau khổ nơi những người con yêu dấu của Thiên Chúa.
Như thế thụ tạo của Thiên Chúa được phục hồi vẻ đẹp đã từng đem lại sự vui thích và kinh ngạc cho Đấng Tạo hoá. Người là Cha toàn năng, chỉ mình Người có bản tính là tình yêu và vinh quang của Người là con người được sống trọn vẹn, theo kiểu nói của thánh Irênê. Người “yêu mến thế gian đến nỗi đã ban con một duy nhất của mình” (Ga 3,16), để đỡ dậy người đang nằm dài giữa đường, bị kẻ cướp tấn công và sát thương trên con đường từ Giêrusalem đến Giêricô. Trên các nẻo đường của trần gian, Đức Giêsu là “bàn tay” mà Chúa Cha giơ ra cho người tội lỗi; Ngài là con đường dẫn đến bình an (x. Kinh nguyện Thánh Thể Hoà giải). Quả thực ta khám phá nơi đây vẻ đẹp của tạo thành và tình yêu của Thiên Chúa không hề tách lìa nhau. Thánh Phanxicô và thánh Clara cũng đã khám phá bí mật này và đề nghị cho con cái nam nữ của các Ngài một việc rất đơn giản: sống Tin mừng. Đây là quy tắc và luật sống của họ. Thánh Clara đã diễn tả điều đó rất hay khi nói với chị em: “Các con thân mến, giữa các con, ước gì chỉ có một tình yêu mà Đức Kitô đã yêu chúng ta” (Di chúc).
Trong cùng một tình yêu ấy, Anh Hans đã mời gọi họ giữ gìn tất cả các công trình đã thực hiện tại đan viện “Fazenda da Esperança”. Nhờ sức mạnh của lời cầu nguyện thinh lặng, ăn chay và khổ chế, các con cái thánh Clara thực thi giới luật tình yêu đối với Thiên Chúa và người thân cận trong hình thức cao cả nhất, yêu thương đến cùng.
Điều này có nghĩa là chúng ta đừng bao giờ đánh mất niềm hy vọng! Vì thế tên đặt cho công trình này bởi anh Hans là: “Fazenda da Esperança”. Chúng ta cần xây dựng niềm hy vọng, dệt lại một xã hội vì không còn nắm chắc sợi chỉ sự sống, đã đánh mất ý nghĩa đích thực của niềm hy vọng. Sự mất mát này, theo thánh Phaolô, là sự nguyền rủa ta tự chuốc lấy cho mình: “một con người không có trái tim” (x. Rm 1,31).
Chị em thân mến, hãy làm cho công việc của chị em trở thành lời loan báo về “niềm hy vọng không làm ta thất vọng” (Rm 5,5). Ước gì nỗi u sầu của Chúa chịu đóng đinh, đã tràn ngập tâm hồn của Đức Maria dưới chân thập giá, an ủi tâm hồn của nhiều người cha, người mẹ đang khóc lóc khổ sầu vì con cái họ đang tiếp tục bị lệ thuộc vào ma tuý. Nhờ sự dâng hiến và cầu nguyện thầm lặng của chị em, một sự thinh lặng hùng hồn mà Chúa Cha nghe thấy, loan báo sứ điệp tình yêu chiến thắng nỗi u buồn, ma tuý và sự chết. Hãy loan báo Đức Giêsu Kitô, một con người giống như chúng ta, đã chịu đau khổ như chúng ta, đã mang lấy tội lỗi chúng ta trên chính mình để giải thoát chúng ta!
Không bao lâu nữa sẽ bắt đầu Đại Hội Đồng Các Giám Mục Mỹ Châu La Tinh và vùng Caribê tại Đền thánh Aparecida, rất gần với đan viện “Fazenda da Esperança”. Tôi trông cậy vào lời cầu nguyện của chị em, để các dân tộc chúng ta có được sự sống trong Đức Giêsu Kitô và tất cả chúng ta trở thành môn đệ và sứ giả của Ngài. Tôi khẩn cầu Mẹ Maria, Mẹ Aparecida, Trinh nữ Nadarét, trên bước đường theo Đức Kitô, đã giữ gìn tất cả những điều ấy trong lòng, giữ gìn chị em trong sự thinh lặng mang nhiều hoa trái của việc cầu nguyện.
Với hết lòng yêu mến, tôi ban phép lành cho tất cả các chị em dòng kín, đặc biệt những chị em nghèo khó thánh Clara đang hiện diện tại đan viện này.
Phan Du Sinh chuyển ý
GUARATINGUETA, Brazil, 13/5/2007 (Zenit.org).- Đây là bản dịch lời chào thăm của Đức Bênêđíctô XVI với các Chị em Nghèo khó thánh Clara trong cuộc viếng thăm đan viện “Fazenda da Esperança” ngày thứ Bẩy 12/5/2007 tại Guaratinguetá.
* * *
Ngợi khen Chúa, lạy Chúa tôi, với muôn loài thọ tạo! – Với những lời này dâng lên Thiên Chúa tối cao và tốt lành, vị thánh nghèo thành Assisi nhìn nhận lòng quảng đại độc nhất vô nhị của Thiên Chúa Tạo hoá, và lòng nhân hậu, sức mạnh và vẻ đẹp tuôn trào cách dịu dàng trên các thọ tạo, biến chúng thành những tấm gương của Đấng Tạo hoá toàn năng.
Chị em thân mến, những con cái thiêng liêng của thánh Clara, cuộc tụ họp của chúng ta tại đan viện “Fazenda da Esperança” mang ý nghĩa là dấu chỉ lòng ưu ái của Đấng kế vị thánh Phêrô đối với các chị em dòng kín, và cũng là một biểu lộ thanh thản của tình yêu, vang vọng qua những núi đồi của rặng núi Mantiqueira và lan rộng khắp mặt đất: “Chẳng một lời một lẽ, chẳng nghe thấy âm thanh, mà tiếng vang đã dội khắp hoàn cầu” (Tv 18,4-5). Từ nơi chốn này, các con cái thánh Clara tuyên xưng: “Ngợi khen Chúa, lạy Chúa tôi, với muôn loài thọ tạo!”
Tại những nơi mà xã hội không còn thấy tương lai hay hy vọng gì, những người kitô hữu được mời gọi loan báo quyền năng của sự phục sinh: chính nơi đây, tại đan viện “Fazenda da Esperança” – ngôi nhà của biết bao nhiêu người, đặc biệt những người trẻ, đang tìm cách cai nghiện ma tuý, rượu và thuốc – là một chứng tá rõ nét về Tin mừng của Đức Kitô giữa một xã hội tiêu thụ xa lìa Thiên Chúa. Tương phản biết bao với viễn tượng của Đấng Tạo hoá khi nhìn đến công trình của Người! Trong cuộc sống chiêm ngưỡng của mình, các chị em nghèo khó thánh Clara và các đan sĩ dòng kín khác chú mục đến sự cao cả của Thiên Chúa và khám phá vẻ đẹp của tạo thành; vì thế họ có thể mô tả Người như tác giả thánh đã chỉ cho biết: Thiên Chúa đã ngỡ ngàng trước công trình của Người, thụ tạo yêu dấu của Người (St 1,31).
Khi tội lỗi nhập vào trần gian, và cùng với tội, sự chết, tạo vật yêu dấu của Thiên Chúa, dù bị tổn thương, đã không hoàn toàn mất hết vẻ đẹp: trái lại, một tình yêu lớn hơn đã được đón nhận: “Ôi tội hồng phúc, nhờ tội chúng con mới có được Đấng Cứu tinh cao cả dường này!” – Giáo hội đã loan báo như thế trong bài Exsultet trong đêm Phục sinh huyền nhiệm và rạng ngời. Chính Đức Kitô phục sinh đã chữa lành vết thương và cứu những người con cái nam nữ của Thiên Chúa, cứu nhân loại khỏi chết, tội lỗi và nô lệ các đam mê. Cuộc vượt qua của Đức Kitô nối kết trời và đất. Tại đan viện “Fazenda da Esperança” này, những lời cầu nguyện của chị em nghèo khó thánh Clara được nối kết với công việc cần thiết của thuốc men và điều trị để giải thoát khỏi tù ngục và cắt đứt xiềng xích của ma tuý đang gây đau khổ nơi những người con yêu dấu của Thiên Chúa.
Như thế thụ tạo của Thiên Chúa được phục hồi vẻ đẹp đã từng đem lại sự vui thích và kinh ngạc cho Đấng Tạo hoá. Người là Cha toàn năng, chỉ mình Người có bản tính là tình yêu và vinh quang của Người là con người được sống trọn vẹn, theo kiểu nói của thánh Irênê. Người “yêu mến thế gian đến nỗi đã ban con một duy nhất của mình” (Ga 3,16), để đỡ dậy người đang nằm dài giữa đường, bị kẻ cướp tấn công và sát thương trên con đường từ Giêrusalem đến Giêricô. Trên các nẻo đường của trần gian, Đức Giêsu là “bàn tay” mà Chúa Cha giơ ra cho người tội lỗi; Ngài là con đường dẫn đến bình an (x. Kinh nguyện Thánh Thể Hoà giải). Quả thực ta khám phá nơi đây vẻ đẹp của tạo thành và tình yêu của Thiên Chúa không hề tách lìa nhau. Thánh Phanxicô và thánh Clara cũng đã khám phá bí mật này và đề nghị cho con cái nam nữ của các Ngài một việc rất đơn giản: sống Tin mừng. Đây là quy tắc và luật sống của họ. Thánh Clara đã diễn tả điều đó rất hay khi nói với chị em: “Các con thân mến, giữa các con, ước gì chỉ có một tình yêu mà Đức Kitô đã yêu chúng ta” (Di chúc).
Trong cùng một tình yêu ấy, Anh Hans đã mời gọi họ giữ gìn tất cả các công trình đã thực hiện tại đan viện “Fazenda da Esperança”. Nhờ sức mạnh của lời cầu nguyện thinh lặng, ăn chay và khổ chế, các con cái thánh Clara thực thi giới luật tình yêu đối với Thiên Chúa và người thân cận trong hình thức cao cả nhất, yêu thương đến cùng.
Điều này có nghĩa là chúng ta đừng bao giờ đánh mất niềm hy vọng! Vì thế tên đặt cho công trình này bởi anh Hans là: “Fazenda da Esperança”. Chúng ta cần xây dựng niềm hy vọng, dệt lại một xã hội vì không còn nắm chắc sợi chỉ sự sống, đã đánh mất ý nghĩa đích thực của niềm hy vọng. Sự mất mát này, theo thánh Phaolô, là sự nguyền rủa ta tự chuốc lấy cho mình: “một con người không có trái tim” (x. Rm 1,31).
Chị em thân mến, hãy làm cho công việc của chị em trở thành lời loan báo về “niềm hy vọng không làm ta thất vọng” (Rm 5,5). Ước gì nỗi u sầu của Chúa chịu đóng đinh, đã tràn ngập tâm hồn của Đức Maria dưới chân thập giá, an ủi tâm hồn của nhiều người cha, người mẹ đang khóc lóc khổ sầu vì con cái họ đang tiếp tục bị lệ thuộc vào ma tuý. Nhờ sự dâng hiến và cầu nguyện thầm lặng của chị em, một sự thinh lặng hùng hồn mà Chúa Cha nghe thấy, loan báo sứ điệp tình yêu chiến thắng nỗi u buồn, ma tuý và sự chết. Hãy loan báo Đức Giêsu Kitô, một con người giống như chúng ta, đã chịu đau khổ như chúng ta, đã mang lấy tội lỗi chúng ta trên chính mình để giải thoát chúng ta!
Không bao lâu nữa sẽ bắt đầu Đại Hội Đồng Các Giám Mục Mỹ Châu La Tinh và vùng Caribê tại Đền thánh Aparecida, rất gần với đan viện “Fazenda da Esperança”. Tôi trông cậy vào lời cầu nguyện của chị em, để các dân tộc chúng ta có được sự sống trong Đức Giêsu Kitô và tất cả chúng ta trở thành môn đệ và sứ giả của Ngài. Tôi khẩn cầu Mẹ Maria, Mẹ Aparecida, Trinh nữ Nadarét, trên bước đường theo Đức Kitô, đã giữ gìn tất cả những điều ấy trong lòng, giữ gìn chị em trong sự thinh lặng mang nhiều hoa trái của việc cầu nguyện.
Với hết lòng yêu mến, tôi ban phép lành cho tất cả các chị em dòng kín, đặc biệt những chị em nghèo khó thánh Clara đang hiện diện tại đan viện này.
Phan Du Sinh chuyển ý