(VietCatholicNews 14/07/2007)
Hai cuộc khủng hoảng tín ngưỡng
Không có gì phân biệt Hoa Kỳ với Âu Châu cho bằng tôn giáo. Hoa Kỳ bày tỏ lòng đạo đức một cách công khai, và có vô số những giáo phái lớn mạnh, còn Âu Châu chính thức theo chủ nghĩa thế tục và có nhiều nhà thờ thiếu vắng người đến thờ phượng, trở thành như một thứ đồ cổ để ngắm nghía. Chín mươi phần trăm người Mỹ nói rằng họ tin vào Thiên Chúa, trong khi chỉ có khoảng 60 phần trăm dân chúng ở các nước Anh, Pháp và Đức nói là mình tin vào Thiên Chúa. Chính trị ở Hoa Kỳ bị chia rẽ vì những tranh luận liên hệ đến niềm tin, là một điều rất ít khi xảy ra ở bờ bên kia Đại Tây Dương, trong khi những tranh luận ở Âu Châu diễn ra trong không khí phi tín ngưỡng, là một điều không tưởng tượng được ở Hoa Kỳ, nơi mà, theo những cuộc thăm dò dư luận, một tín đồ Hồi Giáo hoặc một người đồng tính luyến ái có nhiều cơ may để thắng cử tổng thống hơn là một người vô thần công khai.
Sau ngày 11-9-2001, sự tương phản này trở nên rõ nét hơn, rồi Âu Châu và Hoa Kỳ xem ra đứng vào hai vị trí đối cực như nước với lửa một cách thường xuyên hơn. Tuy nhiên, có chuyện ngược đời là thời đại chúng ta hôm nay lại có thể được coi như một thời mà hố sâu ngăn cách về tôn giáo giữa hai lục địa đang bắt đầu thu hẹp dần dần. Tại Hoa Kỳ, dưới thời của Tổng Thống George W. Bush, lần đầu tiên trong lịch sử của đất nước này, có một trào lưu thế tục lan rộng và muốn hướng về Âu Châu để bắt chước kiểu mẫu thế tục nơi đây. Trong khi đó, tại Âu Châu, một khối Hồi Giáo đang vươn lên và một nhóm Kitô hữu quả quyết hơn đang gây nên những cuộc chiến về văn hóa theo kiểu Mỹ, trên một lục điạ từng tự hào là đã vượt qua những tranh cãi hỗn độn như vậy.
Khúc quanh về trào lưu thế tục ở Mỹ thực ra bắt đầu vào thập niên 1990, dù rằng mãi đến năm 2002 mới có hai nhà xã hội học ở đại học Berkeley lần đầu tiên nhận ra hiện tượng này. Trong một bài viết trên The American Sociological Review, Michael Hout và Claude S. Fischer loan báo một sự kiện gây nhiều kinh ngạc là tỉ lệ những người Mỹ nói rằng họ không thiên về một tôn giáo nào đã gia tăng gấp đôi trong vòng chưa đầy 10 năm, từ 7 phần trăm lên 14 phần trăm dân số. Sự gia tăng bất ngờ này không phải là hậu quả của một trào lưu vô thần lớn mạnh. Đúng hơn, có thêm nhiều người Mỹ né tránh các tôn giáo có tổ chức quy củ (organized religions) như muốn nói lên sự phản kháng đối với nhóm tôn giáo hữu khuynh (religious right). Hai nhà xã hội học cho rằng, nếu liên hệ giữa tín ngưỡng và khối bảo thủ chính trị tiếp tục gia tăng, “việc những người cấp tiến xa lánh các tôn giáo có tổ chức quy củ có thể trở nên một tục lệ như đã xảy ra ở nhiều quốc gia khác.”
Năm năm sau, khuynh hướng này có vẻ như vẫn đang tiếp diễn. Điều này xảy ra trong một thế hệ trẻ đang càng ngày càng trở nên thế tục hóa: Một thăm dò gần đây của Pew Research Center cho thấy 20 phần trăm trong số những thanh niên Mỹ từ 18 đến 25 tuổi cho biết là mình không theo một tôn giáo nào, một gia tăng đáng kể so với 11 phần trăm vào cuối thập niên 1980. Điều này cũng thấy rõ trên danh sách các tác phẩm bán chạy nhất, trong đó những sách như cuốn “American Theocracy” (Chính trị thần quyền Mỹ) của Kevin Phillips muốn thuyết phục những độc giả cấp tiến. Trong các tuyên bố công khai, các nhà khoa học cũng có vẻ hăm hở tấn công các tôn giáo như là một đe dọa chứ không chỉ là một mối gây phiền hà. Bên cạnh đó, thế giới “blogosphere” (bao gồm những “blog” hay “weblog”: nhật ký trực tuyến trên Internet) ngày càng bành trướng đã cung cấp một diễn đàn cho những ai cùng chia sẻ sự khinh bỉ đối với nhóm tôn giáo hữu khuynh. Theo một nghiên cứu của Pew Research Center, 38 phần trăm trong số những người ủng hộ ông Howard Dean – một chính trị gia muốn trở thành ứng cử viên tổng thống của đảng Dân Chủ vào năm 2004 – qua những đóng góp tài chánh trên Internet đã tự nhận mình là “thế tục.”
Khuynh hướng này cũng tạo nên những khác biệt ngay ở phòng bỏ phiếu. Trong sáu năm qua, nhóm cấp tiến đã ra sức để giảm bớt ưu thế của đảng Cộng Hòa trong khối tín đồ các tôn giáo. Nhưng khi đảng Dân Chủ rốt cuộc làm sụp đổ sức mạnh đa số của đảng Cộng Hòa trong kỳ bầu cử năm 2006, thì chính khả năng củng cố khối cử tri “thế tục” đã giúp họ chiến thắng. Mặc dù có bao nhiêu nỗ lực để giảm bớt ảnh hưởng của đảng Cộng Hòa ở các nhà thờ, đảng Dân Chủ hầu như chẳng thêm được bao nhiêu phiếu bầu vào năm 2006 từ những người hay đi nhà thờ. Tuy nhiên, họ đã được thêm số phiếu của những người Mỹ thuộc loại không bao giờ đi nhà thờ, từ 55 phần trăm vào năm 2002 lên tới 67 phần trăm.
Đây không phải là trào lưu thế tục đầu tiên trong lịch sử Mỹ. Thật vậy, nhóm tôn giáo hữu khuynh đã vùng lên, một phần nào đó như một phản ứng đối với sự vô tín ngưỡng của các cơ chế chính trị Hoa Kỳ, từ việc Tối Cao Pháp Viện quyết định cấm cầu nguyện trong các trường công cho đến ảnh hưởng quá đáng, không cân xứng, của những cử tri thế tục trong đảng Dân Chủ vào thập niên 1970. Nhưng khuynh hướng thế tục thời kỳ này được coi như một hiện tượng của những kẻ ưu tú. Ngay cả bài viết nổi tiếng với tựa đề “Is God Dead?” (“Phải chăng Thiên Chúa đã chết?”) trên tuần báo Time vào năm 1966 cũng chỉ giới hạn những phân tích trong giới trí thức, và nhận xét rằng tại Mỹ, “niềm tin của công chúng vào Thiên Chúa có vẻ vẫn chắc chắn như ở bên Pháp vào thời Trung Cổ.”
Trái lại, trào lưu thế tục đã trưởng thành thời ông Bush xem ra thu hút đám đông mạnh hơn. Hơn thế, trong khi trào lưu thế tục trước đây có khuynh hướng nuôi dưỡng một cách ý thức thái độ trung lập đối với tôn giáo, trào lưu thế tục mới rõ ràng là không ngại ngùng bày tỏ thái độ thù địch đối với các tín ngưỡng truyền thống – hay ít ra là đối với bất cứ cố gắng nào nhằm pha trộn tín ngưỡng với chính trị. Những tiếng nói thế tục cực đoan coi tôn giáo là một vi khuẩn hoặc thuốc độc; trong khi những tay bút chiến tinh tế hơn thì chỉ lý luận rằng những đối thủ thuộc loại tôn giáo hữu khuynh là “un-American” hay là đối nghịch với những cơ chế và nguyên lý Mỹ, và cho rằng chính trị đặt trên nền tảng tín ngưỡng là một thứ chính trị thần quyền ngấm ngầm.
Trào lưu thế tục cứng rắn này là một điều tương đối cực đoan trong bối cảnh của nước Mỹ, nơi mà sự tách biệt giữa tôn giáo và nhà nước rất ít khi tách rời Thiên Chúa khỏi chính trị. Từ phong trào bãi bỏ nô lệ và hoạt động “Phúc Âm Xã Hội” trong thế kỷ XIX cho tới phong trào dân quyền và chống phá thai của thế kỷ XX, những hoạt động chính trị với động lực tôn giáo vẫn là một phần thông thường trong đời sống quốc gia. Thật vậy, một loại Mỹ Quốc thế tục hóa, mà nhiều người mong muốn, rất giống với Âu Châu hôm nay, nơi rất hiếm những chính trị gia nhắc đến Thiên Chúa, và các chính phủ đề cao cảnh giác đối với những “giáo phái” nào lạc xa khỏi trào lưu thế tục.
Nhưng Âu Châu ngày mai có thể lại giống như… Hoa Kỳ hiện nay, với một thứ chính trị càng ngày càng bị chi phối bởi những xung đột loảng xoảng giữa các tín đồ với nhau, hoặc giữa người có tín ngưỡng với người vô tín ngưỡng. Lục địa Âu Châu thực ra đã bắt đầu một cuộc chiến văn hóa tầm mức nhỏ, do sự đụng độ giữa lòng nhiệt thành tôn giáo của khối di dân Hồi Giáo và nền văn hóa thế tục bao quanh họ. Trong những bùng nổ, từ việc ám sát ông Theo Van Gogh, nhà làm phim chống Hồi Giáo của Hòa Lan, cho đến tranh cãi về những hí họa bị coi là lăng mạ Hồi Giáo của Đan Mạch, cho đến việc có nên nhận vào Liên Hiệp Âu Châu một nước Hồi Giáo là Thổ Nhĩ Kỳ hay không, Âu Châu thế tục thấy mình ở vào một tình huống xa lạ, vẫn bị quấy rầy vì những vấn đề liên hệ đến tín ngưỡng, gần như là bên Mỹ. Những tranh cãi như vậy có thể sẽ dịu xuống khi di dân Hồi Giáo được đồng hóa theo những quy tắc Âu Châu, nhưng ít nhất cho đến lúc này, đề kháng của di dân Hồi Giáo đối với sự đồng hóa đưa ra một giả thuyết là họ có thể thành công trong việc thay đổi những quy tắc ấy cũng như họ bị những quy tắc này thay đổi.
Trong khi đó, có những dấu hiệu cho thấy Kitô Giáo cũng vươn mình lên sau những thập niên co cụm phòng thủ. ĐGH Bênêđictô XVI đã coi việc tái phục hồi ảnh hưởng Kitô Giáo tại Âu Châu là một chủ đề trong triều đại giáo hoàng của mình, và những can thiệp của Giáo Hội trong cuộc tranh luận về giao kết đồng tính ở Tây Ban Nha cũng như trong cuộc trưng cầu dân ý ở Ý Đại Lợi về việc nới lỏng những hạn chế về sự thụ thai trong ống nghiệm cho thấy một sự tương đồng rõ rệt với thái độ cương quyết mà dân Mỹ mong đợi từ các nhà lãnh đạo tôn giáo của mình.
Trong mỗi trường hợp nêu trên, thay đổi về dân số có thể đã đẩy tôn giáo trở lại chính trường Âu Châu. Sinh suất của dân Hồi Giáo tại lục địa này cao hơn hẳn so với sinh suất của các sắc dân không Hồi Giáo, và việc di dân từ các nước Hồi Giáo vẫn tiếp tục ở mức độ nhanh chóng. Trong khi đó, di dân từ châu Phi và châu Mỹ Latinh “bơm” thêm sinh lực vào Kitô Giáo ở châu Âu, tạo nên những cộng đoàn Evangelical và Pentecostal lớn mạnh ở các vùng đô thị, nơi mà nhiều nhà thờ bị trống vắng. Theo nhà xã hội học Rodney Stark, ưu thế về dân số của Kitô Giáo đã giúp họ kiểm soát Âu Châu trong thế giới thượng cổ, và sinh suất cao của hai nhóm Evangelical và Mormon đã giải thích sự tăng trưởng của họ ở Hoa Kỳ trong thế kỷ XX. Trong một bài viết trên tạp chí Prospect của Anh Quốc năm ngoái, nhà chính trị học Eric Kaufmann lý luận rằng, bây giờ những thế lực dân số tương tự có thể “đang đưa Âu Châu đến gần một thời hiện đại như kiểu Hoa Kỳ,” theo đó bức tường tách biệt giữa tôn giáo và nhà nước trông giống như một hàng rào với những cọc gỗ thưa thớt, dễ dàng để dẹp bỏ hoặc chui qua lại.
Tuy nhiên chúng ta không nên phóng đại những khuynh hướng này. Nước Mỹ vẫn là một quốc gia nặng về tôn giáo và phe thế tục hóa vẫn là một thiểu số phải vất vả phòng thủ, trong khi Âu Châu vẫn mạnh mẽ trong nỗ lực ngăn cản tín ngưỡng xâm nhập vào chính trị. Nhưng cả hai lục địa có thể sẽ trôi dạt vào một vùng, nơi mà tín ngưỡng tôn giáo có lẽ vẫn tiếp tục là nguyên cớ thường xuyên gây căng thẳng, chứ không phải là một chuyện tầm thường hoặc kỳ lạ hiếm hoi.
Một nhóm kinh tế gia ở đại học Harvard gần đây lý luận rằng tôn giáo gây nên những tranh cãi căng thẳng nhất khi một nửa dân số tích cực với tín ngưỡng và một nửa kia thì vô tín ngưỡng; xung đột suy giảm khi những người sùng đạo hợp thành một đại đa số hoặc một thiểu số nhỏ nhoi. Khi một nền văn hóa bị chia đôi đồng đều về những vấn đề tối hậu, các nhà chính trị hay dùng chiêu “cực đoan chiến lược” và vận động một phe chống lại phe kia. Chính sự chia rẽ tạo nên những đối cực như vậy đã kiềm chế chính trường Âu Châu kể từ cuộc Cách Mạng Pháp (1789-1799) cho đến giữa thế kỷ XX, gây ra bao xung đột thường xuyên giữa ý thức hệ thế tục và ý thức hệ tôn giáo, như là cuộc đấu tranh văn hóa (Kulturkampf) ở Đức, vụ kết án Dreyfus ở Pháp, hoặc cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha.
Nước Mỹ đã tránh được tình trạng đối cực nói trên nhờ vào lòng sùng đạo gần như phổ quát. Âu Châu, ít nhất là trong thời gian gần đây, đã tránh được xung đột nhờ nuôi dưỡng một thái độ hoài nghi gần như phổ quát. Nhưng nếu hố sâu ngăn cách về tôn giáo giữa hai lục địa giảm bớt, sự chia rẽ ở mỗi lục địa sẽ trở nên sâu rộng hơn, và bình an về tín ngưỡng sẽ dần dần trở thành chiến tranh văn hóa - hoặc có thể còn tệ hại hơn thế.
(Bài viết tựa đề “Crises of Faith” của Ross Douthat trên nguyệt san Atlantic, số tháng 7 và 8, năm 2007)
Lm. Bùi Tiếng (dịch thuật)
|
|
LM Bùi Tiếng
|
 | Tin Có Thể Liên Quan |  | |
|