“Chỉ khi nào chúng ta cởi mở với Chúa, chúng ta có thể xây dựng một thế giới công chính”.
VATICAN (Zenit.org ).-Bài huấn đức của Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI trình bày ngày 1/8 trong buổi tiếp kiến chung trong phòng Phaolô VI. Suy niệm tập trung vào Thánh Basil tiếp theo bài giáo lý cuối cùng của Đức Giáo Hoàng ngày 4/7.
* * *
Anh chị em thân mến,
Sau ba tuần gián đoạn, chúng ta tiếp tục những cuộc gặp ngày Thứ Tư của chúng ta. Hôm nay, tôi chỉ muốn tóm tắt bài Giáo lý cuối cùng của tôi, mà chủ đề bài này là sự sống và những tác phẩm của Thánh Basil, một Giám Mục tại Turkey ngày nay, thuộc vùng Tiểu Á, trong thế kỷ thứ tư công nguyên. Sự sống và những tác phẩm của vị Thánh cao cả này thì đầy những ý niệm cho việc suy tư và những huấn giáo cũng thích hợp cho chúng ta ngày nay.
Trước hết là sự qui chiếu tới mầu nhiệm Thiên Chúa, một mầu mhiệm vẫn còn là qui chiếu ý nghĩa và sống động nhất đối với những con người. Cha là “đầu mọi sự và là nguyên nhân hiện hữu của mọi vật hiện hữu, căn nguyên sự sống” (Hom 15, 2 de fide: Pg 31, 465c); trước hết, Người là “Cha Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta” (“Anaphora c83a thánh Basil”}. Nếu đi lên tới Chúa Cha qua tạo vật của Người, chúng ta “trở thành hiểu biết về sự tốt lành và khôn ngoan của Người: (Basil, “Adversus Eunomium” 1,14; PG 29, 544b).
Con là “hình ảnh sự tốt lành của Cha và là dấu ấn của Cha trong cũng một hình thức” (x. “Anaphora Thánh basil”). Bằng sự vâng phục và sự Thương Khó của Người, Ngôi Lời Nhập Thể đã thực hiện sứ vụ của mình như đấng Cứu Chuộc con người (x. Basil, “trong Thánh Vịnh” 48,8; PG 29, 452ab; cũng xem “De Baptismo” 1, 2: SC 357, 158).
Sau cùng, ngài đã nói đầy đủ về Chúa Thánh Thần, ngài đã viết một cuốn sách nói về Chúa Thánh Thần, Ngài mạc khải cho chúng ta rằng Thánh Thần làm sống động Giáo Hội, làm tràn đầy Giáo Hội với các ân huệ của Người và thánh hoá Giáo Hội.
Ánh sáng chiếu sáng của mầu nhiệm Chúa được phản chiếu trên con người, hình ảnh của Thiên Chúa, và tuyên dương phẩm giá con người. Nhìn vào Chúa Kitô, người ta hiểu biết đầy đủ phẩm giá nhân bản.
Basil thốt lên: “[Hỡi con người], hãy nhớ tính cao cả của ngươi, bằng cách nhớ cái giá được trả cho ngươi: hãy nhìn cái giá sự cứu chuộc ngươi và hiểu phẩm giá của ngươi!” (“Trong Thánh Vịnh” 48, 8: PG 29, 452b). Những Kitô hữu cách riêng, khi phù hợp những nếp sống của mình với Tin Mừng, thì nhận biết mọi người là anh chị em nhau; sự sống là bổn phận của người cai quản những tài sản của cải nhận lãnh từ Thiên Chúa, đó là lý do người này trách nhiệm người khác, và người giàu phải nên như một “kẻ thực hành những mệnh lệnh của Thiên Chúa Đấng ban phát mọi ơn Lành” (Hom 6 về tính hà tiện: PG 32, 1181-1196). Tất cả chúng ta phải giúp đỡ nhau và hợp tác như những thành viên một thân thể ( Ep 203,3).
Và về điểm này, ngài đã sử dụng những lời nói can đảm, mạnh mẽ trong các bài giảng của ngài. Thật vậy, bất cứ ai muốn yêu thương người thân cận mình như chính minh, trong sự phù hợp với mệnh lệnh của Chúa, “phải có không hơn người thân cận của mình” (“bài giảng về những kẻ giàu”: PG 31, 281b).
Trong những thời gian đói khổ và hoạn nạn, vị thánh Giám mục khuyên các tín hữu với những lời nồng nhiệt “đừng ở độc ác hơn những con thú… bằng cách giành giựt điều người ta có chung hay là túm lấy điều thuộc về mọi người (“Hom. Temporis famis”: PG 31, 325a).
Tư tưởng sâu sắt của Basil nổi bật trong câu gợi cảm này: “Mọi người túng thiếu nhìn xem tay chúng ta cũng như chúng ta nhìn xem tay của Chúa khi chúng ta túng thiếu.
Do đó, lời ca ngợi của Gregory thành Nazianzus sau khi Basil chết rất là đáng. Ngài nói: “Basil thuyết phục chúng ta rằng bởi vì chúng ta là những con người, chúng ta không nên khinh chê những con người cũng như không xúc phạm Chúa Kitô, Đầu chung của mọi người, với cách ở vô nhân đạo của chúng ta đối với người ta; đúng hơn, chính chúng ta phải làm điều tốt bằng cách học hỏi từ những thảm họa của những kẻ khác và phải cho Chúa mượn lòng thương cảm của chúng ta, vì chúng ta cần lòng thương xót” (Gregory Nazianzus, “Orationes” 43, 63: PG 36, 580b).
Những lời này rất là hợp thời. Chúng ta thấy Thánh Basil thật là một trong những Giáo Phụ dạy học thuyết xã hội của Giáo Hội. Hơn nữa, Basil nhắc chúng ta rằng muốn giữ sống động tình yêu chúng ta đối với Chúa và đối với con người, chúng ta cần Thánh Thể, lương thực thích hợp cho những kẻ đã lãnh bí tích rửa tội, vì Thánh Thể có thể nuôi dưỡng những nghị lực mới phát sinh từ bí tích Rửa tội (x. “De baptismo” 1,3: SC 357,192).
Một nguyên nhân của niềm vui to lớn đó là tham gia Thánh Thể (x. “Moralia” 21,3: PG 31, 741a), đã được thiết lập “để luôn luôn nhớ Đấng đã chết và sống lại vì chúng ta” (“Moralia” 80, 22; PG 31, 869b).
Thánh Thể, một ân huệ to lớn của Chúa, giũ gìn trong mỗi người chúng ta kỷ niệm về ấn tích rửa tội và cho phép sống ân sủng Rửa Tội trọn vẹn và trong sự trung thành.
Vì lẽ này, thánh Giám Mục đã khuyến khích sự năng Rước Lễ, có khi hằng ngày : “Việc Rước Lễ hằng ngày, việc rước Mình Thánh và Máu Thánh Chúa Kitô, là tốt và hữu ích; vì Người đã nói rõ: “Ai ăn thịt thịt tôi và uống máu tôi thì có sự sống đời đời’ (Jn 6: 54). Do đó ai hồ nghi sự rước lễ này cách liên tục khi sống thì là không sống đầy đủ? “ (Ep.93: PG 32, 484b).
Thánh Thể, nói một lời, là cần thiết cho chúng ta nếu chúng ta muốn tiếp nhận trong chúng ta sự sống thật, sự sống đời đời (x. “Moralia” 21, 1: PG 31, 737c).
Sau cùng, Basil dĩ nhiên cũng quan tâm tới phần được tuyển chọn của Dân Chúa, giới trẻ, tương lai xã hội. Ngài dẵ đọc một bài Diễn Văn trước mặt họ phải làm sao hưởng nhờ từ nền văn hoá ngoại giáo của thời đại đó.
Ngài đã công nhận với một sự quân bình và cởi mở rằng các gương đạo đức có thể được gặp trong nền văn chương Hy lạp và Latinh cổ điển. Những gương sống đúng đắn có thể giúp những người trẻ Kitô Giáo trong sự tìm kiếm chân lý và con đường ngay thẳng để sống (x. “Ad Adolescentes” 3)>
Do đó, người ta phải lấy từ những bản văn của các tác giả cổ điển điều gì thích đáng và và phù hợp với chânn lý: như vậy, với một phương pháp phê phán và cởi mở-- đó là một vấn đề “phân định” đúng và thích đáng”-- giới trẻ lớn mạnh trong sự tự do.
Với hình ảnh danh tiếng của các con ong hút từ những đóa hoa chỉ những gì chúng cần để làm mật, Basil khuyên nhủ: “Đúng như những con ong có thể hút mật hoa từ những đoá hoa, không như những con vật khác hạn chế mình trong sự hưởng mùi thơm và màu sắc của hoa, cũng vậy từ những tác phẩm này…người ta có thể hút một số lợi ích cho tinh thần. Chúng ta phải sử dụng những sách này, bằng cách theo trong mọi sự gương các con ong. Chúng không thăm viếng mọi thứ hoa mà không phân biệt, cũng không tìm hút lấy tất cả mật hoa từ những đóa hoa mà chúng đáp xuống đậu, nhưng chỉ hút từ những bông hoa điều chúng cần để làm mật, và bỏ phần còn lại. Và nếu chúng ta khôn, chúng ta sẽ lấy từ những tác phẩm điều gì thích hợp với chúng ta
Basil hơn hết khuyên giới trẻ lớn lên trong nhân đức, trong con đàng ngay của việc sống: “Đang khi những của cải khác…qua từ người này tới người khác như trong việc chơi súc sắc, một mình nhân đức là một của cải không nhân nhượng và bền vững suốt cuộc sống và sau sự chết” (“Ad Adolescentes” 5).
Anh chị em thân mến, tôi tưởng người ta có thể nói rằng Giáo Phụ này đã từ lâu nói với chúng ta và nói với cho chúng ta những sự quan trọng.
Trước hết, sự tham gia chăm chú, phê phán và sáng tạo trong nền văn hóa ngày nay.
Sau đó, trách nhiệm xã hội: đây là một thời đại nơi, trong một thế giới toàn cầu hóa, dầu những kẻ ở xa chúng ta về mặt thể lý, là thật sự những người thân cận chúng ta; do đó tình bạn với Chúa Kitô, Thiên chúa với gương mặt con người.
Và, sau cùng, sự hiểu biết và công nhận Thiên Chúa Đấng Sáng Tạo, người Cha của tất cả chúng ta: chỉ khi nào chúng ta cởi mở với Thiên Chúa, chúng ta có thể xây dựng một thế giới công bình và huynh đệ hơn.
Sau đó Đức Giáo Hoàng chào dân chúng trong nhiều thứ tiếng. Trong tiếng Anh ngài nói:
Tôi chào tất cả những người hành hương nói tiếng Anh hiện diện trong buổi tiếp kiến hôm nay, gòm các nhóm từ Iceland, Japan, Canada và United States of America. Tôi trải dài một lời chào đặc biệt tới những nhạc sĩ hiện diện và nhóm đông đảo từ Cherry Hill, Colorado. Xin sự bình an và niềm vui của Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta ở với anh chị em và xin Chúa chúc lành anh chị em.
Tôi chào nhóm Scouts châu Âu, những kẻ với sự hiện diện của họ sáng nay, ước muốn tái khẳng định tư cách hội viên của họ trong Gáo Hội, sau khi đổi mới lời hứa scout của họ, lời hứa trói buộc họ làm nhiệm vụ của họ đối với Thiên Chúa và phục vụ những người khác cách quảng đại. Tôi cũng nghĩ tới mọi người scouts và những kẻ lãnh đạo trong thế giới, những người này đang đổi mới lời hứa của họ chính ngày nay, ngày kỷ niệm trăm năm của phong trào Scout, được thành lập ngày 1 August 1907 với trại scout đầu tiên trong lịch sử trên đảo Brownsea. Tôi nồng nhiệt hy vọng rằng phong trào giáo dục này, phong trào được sinh ra từ sự nhận thức thâm sâu của Lord Robert Baden Powel, sẽ tiếp tục sinh hoa quả trong sự đào tạo thiêng liêng và công dân của những con người trong mọi nước thế giới.
Sau cùng, như thường lệ tôi muốn chào giới trẻ, những người bịnh và những đôi tân hôn, và bày tỏ với họ lòng muốn là được sống động bởi đức bác ái của Chúa Kitô, họ sẽ sống một đời sống nêu gương mẫu cho mọi người. Xin Chúa Giêsu nâng đỡ chúng con trong niềm hy vọng của chúng con, hỡi giới trẻ thân yêu, trong sự đau khổ của anh em, hởi những bịnh nhân n, và trong tình yêu đầy hoa quả của chúng con, hỡi những đôi tân hôn. Tôi ban Phép lành của tôi cho tất cả anh chị em.
Sau khi chào những tín hữu, Đức thánh Cha nói:
Cuối buổi Tiếp Kiến Chung, tôi muốn ghi nhận một số tin tức về Iraq đã gây ra một sự bùng nổ tin vui bình dân khắp Xứ. Tôi qui chiếu về sự thắng của đội bóng đá Iraq, đã nhâ Cup Asian và lần đầu tiên đã trở thành vô địch Asia. Tôi ấn tượng cách hạnh phúc bởi sự nhiệt tình ảnh hưởng mọi người dân, đẩy họ xuống đường mừng biến cố này. Cũng nhu tôi đã thường khóc với người Iraq, thì trong dịp này tôi vui mừng với họ. Kinh nghiệm này về sự chia sẻ vui mừng chứng tỏ lòng muốn của một dân tộc có được một sự sống bình thường, an tịnh. Tôi hy vọng rằng biến cố này có thể giúp xây dựng tại Iraq một tương lai hòa bình đích thực với sự đóng góp của mọi người, trong sự tự do và kính trọng hỗ tương. Xin chúc mừng!
VATICAN (Zenit.org ).-Bài huấn đức của Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI trình bày ngày 1/8 trong buổi tiếp kiến chung trong phòng Phaolô VI. Suy niệm tập trung vào Thánh Basil tiếp theo bài giáo lý cuối cùng của Đức Giáo Hoàng ngày 4/7.
* * *
Anh chị em thân mến,
Sau ba tuần gián đoạn, chúng ta tiếp tục những cuộc gặp ngày Thứ Tư của chúng ta. Hôm nay, tôi chỉ muốn tóm tắt bài Giáo lý cuối cùng của tôi, mà chủ đề bài này là sự sống và những tác phẩm của Thánh Basil, một Giám Mục tại Turkey ngày nay, thuộc vùng Tiểu Á, trong thế kỷ thứ tư công nguyên. Sự sống và những tác phẩm của vị Thánh cao cả này thì đầy những ý niệm cho việc suy tư và những huấn giáo cũng thích hợp cho chúng ta ngày nay.
Trước hết là sự qui chiếu tới mầu nhiệm Thiên Chúa, một mầu mhiệm vẫn còn là qui chiếu ý nghĩa và sống động nhất đối với những con người. Cha là “đầu mọi sự và là nguyên nhân hiện hữu của mọi vật hiện hữu, căn nguyên sự sống” (Hom 15, 2 de fide: Pg 31, 465c); trước hết, Người là “Cha Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta” (“Anaphora c83a thánh Basil”}. Nếu đi lên tới Chúa Cha qua tạo vật của Người, chúng ta “trở thành hiểu biết về sự tốt lành và khôn ngoan của Người: (Basil, “Adversus Eunomium” 1,14; PG 29, 544b).
Con là “hình ảnh sự tốt lành của Cha và là dấu ấn của Cha trong cũng một hình thức” (x. “Anaphora Thánh basil”). Bằng sự vâng phục và sự Thương Khó của Người, Ngôi Lời Nhập Thể đã thực hiện sứ vụ của mình như đấng Cứu Chuộc con người (x. Basil, “trong Thánh Vịnh” 48,8; PG 29, 452ab; cũng xem “De Baptismo” 1, 2: SC 357, 158).
Sau cùng, ngài đã nói đầy đủ về Chúa Thánh Thần, ngài đã viết một cuốn sách nói về Chúa Thánh Thần, Ngài mạc khải cho chúng ta rằng Thánh Thần làm sống động Giáo Hội, làm tràn đầy Giáo Hội với các ân huệ của Người và thánh hoá Giáo Hội.
Ánh sáng chiếu sáng của mầu nhiệm Chúa được phản chiếu trên con người, hình ảnh của Thiên Chúa, và tuyên dương phẩm giá con người. Nhìn vào Chúa Kitô, người ta hiểu biết đầy đủ phẩm giá nhân bản.
Basil thốt lên: “[Hỡi con người], hãy nhớ tính cao cả của ngươi, bằng cách nhớ cái giá được trả cho ngươi: hãy nhìn cái giá sự cứu chuộc ngươi và hiểu phẩm giá của ngươi!” (“Trong Thánh Vịnh” 48, 8: PG 29, 452b). Những Kitô hữu cách riêng, khi phù hợp những nếp sống của mình với Tin Mừng, thì nhận biết mọi người là anh chị em nhau; sự sống là bổn phận của người cai quản những tài sản của cải nhận lãnh từ Thiên Chúa, đó là lý do người này trách nhiệm người khác, và người giàu phải nên như một “kẻ thực hành những mệnh lệnh của Thiên Chúa Đấng ban phát mọi ơn Lành” (Hom 6 về tính hà tiện: PG 32, 1181-1196). Tất cả chúng ta phải giúp đỡ nhau và hợp tác như những thành viên một thân thể ( Ep 203,3).
Và về điểm này, ngài đã sử dụng những lời nói can đảm, mạnh mẽ trong các bài giảng của ngài. Thật vậy, bất cứ ai muốn yêu thương người thân cận mình như chính minh, trong sự phù hợp với mệnh lệnh của Chúa, “phải có không hơn người thân cận của mình” (“bài giảng về những kẻ giàu”: PG 31, 281b).
Trong những thời gian đói khổ và hoạn nạn, vị thánh Giám mục khuyên các tín hữu với những lời nồng nhiệt “đừng ở độc ác hơn những con thú… bằng cách giành giựt điều người ta có chung hay là túm lấy điều thuộc về mọi người (“Hom. Temporis famis”: PG 31, 325a).
Tư tưởng sâu sắt của Basil nổi bật trong câu gợi cảm này: “Mọi người túng thiếu nhìn xem tay chúng ta cũng như chúng ta nhìn xem tay của Chúa khi chúng ta túng thiếu.
Do đó, lời ca ngợi của Gregory thành Nazianzus sau khi Basil chết rất là đáng. Ngài nói: “Basil thuyết phục chúng ta rằng bởi vì chúng ta là những con người, chúng ta không nên khinh chê những con người cũng như không xúc phạm Chúa Kitô, Đầu chung của mọi người, với cách ở vô nhân đạo của chúng ta đối với người ta; đúng hơn, chính chúng ta phải làm điều tốt bằng cách học hỏi từ những thảm họa của những kẻ khác và phải cho Chúa mượn lòng thương cảm của chúng ta, vì chúng ta cần lòng thương xót” (Gregory Nazianzus, “Orationes” 43, 63: PG 36, 580b).
Những lời này rất là hợp thời. Chúng ta thấy Thánh Basil thật là một trong những Giáo Phụ dạy học thuyết xã hội của Giáo Hội. Hơn nữa, Basil nhắc chúng ta rằng muốn giữ sống động tình yêu chúng ta đối với Chúa và đối với con người, chúng ta cần Thánh Thể, lương thực thích hợp cho những kẻ đã lãnh bí tích rửa tội, vì Thánh Thể có thể nuôi dưỡng những nghị lực mới phát sinh từ bí tích Rửa tội (x. “De baptismo” 1,3: SC 357,192).
Một nguyên nhân của niềm vui to lớn đó là tham gia Thánh Thể (x. “Moralia” 21,3: PG 31, 741a), đã được thiết lập “để luôn luôn nhớ Đấng đã chết và sống lại vì chúng ta” (“Moralia” 80, 22; PG 31, 869b).
Thánh Thể, một ân huệ to lớn của Chúa, giũ gìn trong mỗi người chúng ta kỷ niệm về ấn tích rửa tội và cho phép sống ân sủng Rửa Tội trọn vẹn và trong sự trung thành.
Vì lẽ này, thánh Giám Mục đã khuyến khích sự năng Rước Lễ, có khi hằng ngày : “Việc Rước Lễ hằng ngày, việc rước Mình Thánh và Máu Thánh Chúa Kitô, là tốt và hữu ích; vì Người đã nói rõ: “Ai ăn thịt thịt tôi và uống máu tôi thì có sự sống đời đời’ (Jn 6: 54). Do đó ai hồ nghi sự rước lễ này cách liên tục khi sống thì là không sống đầy đủ? “ (Ep.93: PG 32, 484b).
Thánh Thể, nói một lời, là cần thiết cho chúng ta nếu chúng ta muốn tiếp nhận trong chúng ta sự sống thật, sự sống đời đời (x. “Moralia” 21, 1: PG 31, 737c).
Sau cùng, Basil dĩ nhiên cũng quan tâm tới phần được tuyển chọn của Dân Chúa, giới trẻ, tương lai xã hội. Ngài dẵ đọc một bài Diễn Văn trước mặt họ phải làm sao hưởng nhờ từ nền văn hoá ngoại giáo của thời đại đó.
Ngài đã công nhận với một sự quân bình và cởi mở rằng các gương đạo đức có thể được gặp trong nền văn chương Hy lạp và Latinh cổ điển. Những gương sống đúng đắn có thể giúp những người trẻ Kitô Giáo trong sự tìm kiếm chân lý và con đường ngay thẳng để sống (x. “Ad Adolescentes” 3)>
Do đó, người ta phải lấy từ những bản văn của các tác giả cổ điển điều gì thích đáng và và phù hợp với chânn lý: như vậy, với một phương pháp phê phán và cởi mở-- đó là một vấn đề “phân định” đúng và thích đáng”-- giới trẻ lớn mạnh trong sự tự do.
Với hình ảnh danh tiếng của các con ong hút từ những đóa hoa chỉ những gì chúng cần để làm mật, Basil khuyên nhủ: “Đúng như những con ong có thể hút mật hoa từ những đoá hoa, không như những con vật khác hạn chế mình trong sự hưởng mùi thơm và màu sắc của hoa, cũng vậy từ những tác phẩm này…người ta có thể hút một số lợi ích cho tinh thần. Chúng ta phải sử dụng những sách này, bằng cách theo trong mọi sự gương các con ong. Chúng không thăm viếng mọi thứ hoa mà không phân biệt, cũng không tìm hút lấy tất cả mật hoa từ những đóa hoa mà chúng đáp xuống đậu, nhưng chỉ hút từ những bông hoa điều chúng cần để làm mật, và bỏ phần còn lại. Và nếu chúng ta khôn, chúng ta sẽ lấy từ những tác phẩm điều gì thích hợp với chúng ta
Basil hơn hết khuyên giới trẻ lớn lên trong nhân đức, trong con đàng ngay của việc sống: “Đang khi những của cải khác…qua từ người này tới người khác như trong việc chơi súc sắc, một mình nhân đức là một của cải không nhân nhượng và bền vững suốt cuộc sống và sau sự chết” (“Ad Adolescentes” 5).
Anh chị em thân mến, tôi tưởng người ta có thể nói rằng Giáo Phụ này đã từ lâu nói với chúng ta và nói với cho chúng ta những sự quan trọng.
Trước hết, sự tham gia chăm chú, phê phán và sáng tạo trong nền văn hóa ngày nay.
Sau đó, trách nhiệm xã hội: đây là một thời đại nơi, trong một thế giới toàn cầu hóa, dầu những kẻ ở xa chúng ta về mặt thể lý, là thật sự những người thân cận chúng ta; do đó tình bạn với Chúa Kitô, Thiên chúa với gương mặt con người.
Và, sau cùng, sự hiểu biết và công nhận Thiên Chúa Đấng Sáng Tạo, người Cha của tất cả chúng ta: chỉ khi nào chúng ta cởi mở với Thiên Chúa, chúng ta có thể xây dựng một thế giới công bình và huynh đệ hơn.
Sau đó Đức Giáo Hoàng chào dân chúng trong nhiều thứ tiếng. Trong tiếng Anh ngài nói:
Tôi chào tất cả những người hành hương nói tiếng Anh hiện diện trong buổi tiếp kiến hôm nay, gòm các nhóm từ Iceland, Japan, Canada và United States of America. Tôi trải dài một lời chào đặc biệt tới những nhạc sĩ hiện diện và nhóm đông đảo từ Cherry Hill, Colorado. Xin sự bình an và niềm vui của Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta ở với anh chị em và xin Chúa chúc lành anh chị em.
Tôi chào nhóm Scouts châu Âu, những kẻ với sự hiện diện của họ sáng nay, ước muốn tái khẳng định tư cách hội viên của họ trong Gáo Hội, sau khi đổi mới lời hứa scout của họ, lời hứa trói buộc họ làm nhiệm vụ của họ đối với Thiên Chúa và phục vụ những người khác cách quảng đại. Tôi cũng nghĩ tới mọi người scouts và những kẻ lãnh đạo trong thế giới, những người này đang đổi mới lời hứa của họ chính ngày nay, ngày kỷ niệm trăm năm của phong trào Scout, được thành lập ngày 1 August 1907 với trại scout đầu tiên trong lịch sử trên đảo Brownsea. Tôi nồng nhiệt hy vọng rằng phong trào giáo dục này, phong trào được sinh ra từ sự nhận thức thâm sâu của Lord Robert Baden Powel, sẽ tiếp tục sinh hoa quả trong sự đào tạo thiêng liêng và công dân của những con người trong mọi nước thế giới.
Sau cùng, như thường lệ tôi muốn chào giới trẻ, những người bịnh và những đôi tân hôn, và bày tỏ với họ lòng muốn là được sống động bởi đức bác ái của Chúa Kitô, họ sẽ sống một đời sống nêu gương mẫu cho mọi người. Xin Chúa Giêsu nâng đỡ chúng con trong niềm hy vọng của chúng con, hỡi giới trẻ thân yêu, trong sự đau khổ của anh em, hởi những bịnh nhân n, và trong tình yêu đầy hoa quả của chúng con, hỡi những đôi tân hôn. Tôi ban Phép lành của tôi cho tất cả anh chị em.
Sau khi chào những tín hữu, Đức thánh Cha nói:
Cuối buổi Tiếp Kiến Chung, tôi muốn ghi nhận một số tin tức về Iraq đã gây ra một sự bùng nổ tin vui bình dân khắp Xứ. Tôi qui chiếu về sự thắng của đội bóng đá Iraq, đã nhâ Cup Asian và lần đầu tiên đã trở thành vô địch Asia. Tôi ấn tượng cách hạnh phúc bởi sự nhiệt tình ảnh hưởng mọi người dân, đẩy họ xuống đường mừng biến cố này. Cũng nhu tôi đã thường khóc với người Iraq, thì trong dịp này tôi vui mừng với họ. Kinh nghiệm này về sự chia sẻ vui mừng chứng tỏ lòng muốn của một dân tộc có được một sự sống bình thường, an tịnh. Tôi hy vọng rằng biến cố này có thể giúp xây dựng tại Iraq một tương lai hòa bình đích thực với sự đóng góp của mọi người, trong sự tự do và kính trọng hỗ tương. Xin chúc mừng!