Tìm Kiếm Search
VietCatholic Network Print Copy To Clipboard
ĐGH Bênêđictô XVI trả lời câu hỏi các bạn trẻ
(VietCatholicNews 30/10/2007)

ĐỨC GIÁO HOÀNG BÊNÊĐICTÔ XVI

TRẢ LỜI CÂU HỎI CỦA CÁC BẠN TRẺ



Ngày mùng 1 tháng 9 năm 2007 vừa qua, trước khi ban huấn từ, ĐGH Bênêđíctô đã trả lời các câu hỏi của một số bạn trẻ đang tụ họp cầu nguyện trước tượng đài Loreto (nước Ý) (catholicculture.org)

Đây là câu hỏi của Piero Tisti và Giovanna di Mucci:

“Nhiều người trẻ như chúng con đang sống tại các vùng ngoại ô đều thấy rằng mình không có một trung tâm, một nơi chốn, hoặc một ai đó để hoà nhập với mình. Nhiều lúc chúng con thấy mình như không hề có một lịch sử, một viễn tượng hoặc ngay cả tương lai. Dường như tất cả những gì chúng con trông chờ sẽ chẳng bao giờ xẩy ra. Từ đó phát sinh cảm nghiệm về cô đơn, và rồi đôi lúc, chúng con thấy mình phải lệ thuộc vào người khác một cách phi lý. Vậy thưa Đức Thánh Cha, liệu có thể có một ai đó hoặc một điều gì đó khiến cho chúng con trở thành quan trọng được không? Làm sao có thể tiếp tục hi vọng trong khi thực tế cứ lần lượt chối từ giấc mơ hạnh phúc cũng như các dự phóng trong đời sống chúng con?”

Đức Thánh Cha trả lời như sau:

“Cám ơn các con đã đặt cho Cha câu hỏi này. Cha thấy các con trình bầy hoàn cảnh của mình rất thiết thực. Thực ra không phải lúc nào cũng dễ trả lời cho những vấn nạn liên quan đến những vùng ngoại biên của thế giới hôm nay với nhiều vấn đề lớn lao, và chúng ta cũng không muốn sống theo kiểu lạc quan dễ dãi, nhưng trái lại, ta cần phải có can đảm để bước tới.

Do đó Cha chỉ trả lời đúng cái cốt lõi của vấn đề mà thôi: Phải, hiện nay chúng ta vẫn có hi vọng; mỗi người chúng con đều quan trọng bởi vì đã được Chúa biết đến và đích thân Ngài muốn dựng nên, để rồi đặt kế hoạch cho từng người. Nhiệm vụ của chúng ta là khám phá ra và đáp trả lại kế hoạch đó, ngõ hầu cho dù sống trong những hoàn cảnh tạm bợ và như bị gạt ra ngoài lề, chúng ta vẫn có thể hoàn thành được kế hoạch mà Chúa đã vạch ra cho ta.

Tuy vậy, đi sâu vào chi tiết hơn một chút, Cha thấy các con đã trình bầy rất thiết thực hoàn cảnh xã hội hiện tại. Xét bề ngoài thì xem chừng khó mà bước tới, khó mà làm thay đổi được thế giới này cho khá hơn lên. Cái gì xem ra cũng đang bị tập trung vào những trung tâm quyền lực kinh tế và chính trị; thói quan liêu như đang ngự trị khắp nơi; và rồi những người ở vùng ngoại biên thì như đang bị loại ra khỏi đời sống này.

Một khía cạnh của tình trạng gạt ra ngoài lề đang ảnh hưởng đến nhiều người là: chính những tế bào quan trọng của xã hội vốn có đủ tiềm năng để kiến tạo ra các trung tâm ngay ở các vùng ven thì cũng bị đập cho nát vụn. Đó chính là trường hợp của gia đình, vốn phải là điểm hội tụ của các thế hệ, từ cha ông cho đến con cháu. Mà không chỉ là điểm hội tụ mà thôi, nhưng còn là nơi tất cả chúng ta đây có thể học tập để mà sống, tập tành các nhân đức căn cốt. Ấy thế mà gia đình đang gặp nguy cơ. Thành ra, ta phải làm hết sức để bảo đảm cho sự tồn tại của gia đình, mà cho đến ngày hôm nay, vẫn phải là tế bào chính yếu, vẫn phải là trung tâm của vùng ngoại biên.

Cũng thế, giáo xứ, vốn là tế bào sống động của Hội Thánh, cũng phải thật sự trở thành một mội trường đầy chất linh hứng, đầy sức sống và tình liên đới, khiến giúp cho con người cùng nhau chung tay xây dựng các trung tâm của vùng ngoại vi. Thế nhưng, phải nói ngay rằng, người ta hay nói về Hội Thánh ở vùng ngoại ô cũng như ở vùng trung tâm, thường hiểu là Rôma, thế nhưng thực ra, trong Hội Thánh, không hề có ngoại ô hay nội thành, bởi vì Chúa Kitô ở đâu thì trung tâm là ở đó. Ở đâu Bí tích Thánh Thể được cử hành, ở đâu có Nhà Tạm, thì ở đó có Chúa Kitô. Bởi đó, trung tâm là có thật, và ta phải làm hết sức để bảo đảm rằng các trung tâm sống động này thực sự hiện diện, thực sự mang lại hiệu quả, và thực sự là một sức mạnh đương đầu với trào lưu gạt ra ngoài lề này.

Hội thánh sống động, Hội thánh của các cộng đồng bé nhỏ, Hội thánh giáo xứ, các phong trào...phải hình thành thật nhiều những trung tâm cho vùng ngoại vi, và nhờ đó giúp vượt qua các khó khăn mà ngay cả các hệ thống chính trị hàng đầu cũng không giải quyết nổi. Cùng lúc ấy, ta cũng cần suy nghĩ rằng, cho dù nắm trọn quyền lực trong tay, xã hội hôm nay vẫn cần đến tình liên đới, tinh thần thượng tôn luật pháp, sáng kiến và óc sáng tạo của tất cả mọi người.

Cha vẫn biết nói dễ hơn làm, nhưng Cha vẫn thấy được rất nhiều người đang nỗ lực góp phần làm tăng thêm con số các trung tâm tại các vùng ngoại biên, khơi thêm niềm tin và hy vọng, bởi đó Cha thấy rằng chúng ta phải cộng tác với sáng kiến này. Hội thánh phải hiện diện ngay giữa lòng ngoại ô; Đức Kitô, trung tâm của thế giới, phải hiện diện.

Trong Phúc âm hôm nay, chúng ta thấy, đối với Chúa, không hề có một biên giới nào cả. Sánh với cả một Đế quốc La Mã thì Thánh Địa chỉ nằm ở một vùng ngoại biên; Nazarét cũng chỉ là một thị trấn không tên, nằm ở một vùng biên lề nào đó. Ấy thế mà nó đã trở thành trung tâm có khả năng xoay chuyển cả thế giới.

Chính vì thế mà ta phải hình thành các trung tâm của lòng tin, cậy, mến và tình liên đới, các trung tâm chất đầy nghĩa công bình, tinh thần thượng tôn luật pháp, và tình hợp tác chặt chẽ. Chỉ có như thế xã hội đương thời mới có thể tồn tại được. Cần phải có lòng can đảm khi kiến tạo các trung tâm, cho dù có một lúc nào đó, dường như không còn có niềm hi vọng nào nữa. Ta phải đương đầu với nỗi tuyệt vọng này; ta phải liên đới hợp tác để gia tăng tối đa niềm hi vọng, ngõ hầu con người hôm nay, cả nam lẫn nữ, có thể cộng tác để sống còn.

Thế giới này phải được thay đổi! Nhưng ta không thể chỉ dùng sức mạnh của mình, mà còn phải hiệp thông trong đức tin và đồng hành với nhau. Hiệp cùng Mẹ Maria và các thánh, hiệp với Chúa Kitô, chúng ta có thể làm được một điều gì đó thật căn cốt. Cha khích lệ và mời gọi các con đặt trọn niềm tin vào Chúa, vào Chúa Kitô.

Hiệp thông với đoàn thể các thánh, cùng tiến bước với các ngài, chúng ta có thể thay đổi được thế giới, kiến tạo các trung tâm ngay ở các vùng ngoại vi, ngõ hầu đoàn thể các thánh ngày càng trở nên hữu hình, và niềm hi vọng ngày càng trở thành hiện thực, để rồi ai cũng có thể nói rằng: ‘Tôi thật sự quan trọng trong toàn thể lịch sử.’ Chúa sẽ trợ giúp chúng ta. Cảm ơn các con!”

Tiếp đến là câu hỏi của Sara Simonetta:

“Con tin Chúa là Đấng đã chạm đến cõi lòng của con, nhưng con vẫn thấy bất ổn làm sao ấy; cả một lô các câu hỏi và nỗi sợ hãi bừng lên ở trong con. Con thấy chẳng dễ gì mà nói về Chúa với lũ bạn của con. Nhiều đứa chỉ nhìn Hội thánh như là một thực thể chuyên phán xét giới trẻ, chuyên đi ngược lại với khát vọng hạnh phúc và tình yêu của chúng. Đứng trước sự chối từ này, con cảm thấy thật là một con người cô đơn; con muốn cảm thấy mình được ở gần kề bên Chúa. Vậy thưa Đức Thánh Cha, trong cái im lặng này, Thiên Chúa đang ở đâu?”

Đức Thánh Cha trả lời như sau:

“Phải, cho dù là tín hữu, chúng ta luôn cảm thấy Chúa im lặng. Đoạn Thánh vịnh ta vừa đọc cho ta nghe thấy tiếng kêu tuyệt vọng này: ‘Lậy Chúa, xin hãy mau đáp lời con...Xin Chúa đừng che mặt dấu mày nữa!’ Mới đây nhất, cuốn sách viết về cảm nghiệm thiêng liêng của Mẹ Têrêsa đã được xuất bản, cho chúng ta thấy rõ rằng: dù có lòng bác ái bao la và đức tin kiên vững đến thế, Mẹ Têrêsa cũng đã phải chịu đau khổ vì nỗi im lặng của Thiên Chúa.

Một mặt, ta phải chấp nhận niềm im lặng của Thiên Chúa để có thể thông cảm với những người anh em không biết Chúa. Mặt khác, theo Thánh vịnh, ta vẫn luôn có thể kêu than cùng Chúa một lần nữa: ‘Xin mau đáp lời con, xin tỏ dung nhan của Chúa cho con!’

Trong cuộc sống, nếu có tâm hồn rộng mở, chắc hẳn chúng ta sẽ tìm được những khoảnh khắc quan trọng cho thấy sự hiện diện của Chúa thật sự có thể sờ chạm được. Cha nhớ đến mẩu chuyện mà Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô đệ nhị đã thuật lại khi ngài giảng tuần lễ Linh thao tại Vatican (lúc đó ngài chưa lên ngôi Giáo Hoàng). Ngài nói rằng sau khi thế chiến thứ hai kết thúc, một sĩ quan người Nga đến thăm ngài. Vì là một nhà khoa học, thế nên ông bảo ngài rằng: ‘Tôi đoan chắc rằng Thiên Chúa không hề có. Tuy vậy, nếu như tôi leo lên đỉnh núi cao, thấy được vẻ uy nghi và hùng vĩ của ngài, thì lúc đó tôi mới tin rằng thực sự phải có một đấng Tạo Hoá, và chắc chắn phải có Thiên Chúa.’

Vẻ đẹp của tạo vật là một trong những ngọn nguồn nơi ta có thể thực sự sờ chạm được vẻ tuyệt mỹ của Thiên Chúa, và ta có thể thấy rằng đấng Tạo Hoá đang hiện diện, ngài là đấng từ ái vô song. Điều này đúng với lời Thánh Kinh khi nói về cuộc sáng tạo: đó là việc Thiên Chúa cưu mang và tạo thành vũ trụ này với hết cả trái tim, ý muốn và lý trí của ngài, để rồi ngài thấy rằng thật là tốt đẹp.

Chúng ta cũng phải có lòng từ ái để rồi có được một tâm hồn rộng mở mà nhận thức được sự hiện diện đích thực của Chúa. Tiếp đến là phải lắng nghe lời Chúa trong các buổi cử hành phụng vụ, cử hành đức tin, trong dòng nhạc tuyệt vời của niềm tin. Ta thật sự cảm được sự hiện diện này. Một lần nữa, Cha lại nhớ đến một mẩu chuyện khác mà một Giám Mục vừa kể lại khi đến viếng thăm Giáo đô Vaticăng theo Giáo Luật. ‘Có một bà nọ không phải là Công Giáo nhưng rất thông minh. Bà bắt đầu chọn nghe các nhạc phẩm lừng danh của Bach, Handel và Mozart. Một ngày nọ, trong cơn mê say, bà đã thốt lên: ‘Tôi nhất định phải tìm cho ra nguồn mạch của vẻ tuyệt mỹ này.’ Thế rồi bà trở lại Kitôgiáo, tìm đến niềm tin Công giáo, bởi vì bà khám phá ra rằng vẻ tuyệt mỹ này phải có một nguồn gốc, và đó chính là sự hiện diện của Chúa Kitô trong tâm hồn con người; đó cũng là sự mạc khải của Chúa Kitô trong thế giới hôm nay. Từ đó, ta có các buổi cử hành đức tin, cử hành phụng vụ long trọng; ngoài ra còn có việc đối thoại riêng tư với Chúa Kitô: không phải lúc nào Chúa cũng trả lời đâu, nhưng rồi có lúc Ngài sẽ trả lời thực sự.

Tiếp đến là tình bằng hữu và cộng đoàn đức tin. Giờ đây, khi tụ họp tại Loreto, ta thấy rõ ràng đức tin thì hợp nhất, tình bằng hữu thì kiến tạo một nhóm bạn đồng hành. Ta cảm nhận rằng điều này không phải tự nhiên mà có, nhưng thật sự phải có một nguồn gốc. Ta cũng nghiệm thấy rằng vị Thiên Chúa câm lặng cũng chính là một Thiên Chúa đang nói, đang tự mạc khải, và trên hết, chúng ta có thể trở thành chứng nhân của việc ngài đang hiện diện, để rồi từ đức tin, một dòng sáng sẽ thật sự chiếu giãi cho mọi người.

Chính vì thế, một mặt, ta phải chấp nhận việc Thiên Chúa thường im lặng trong thế giới này, thế nhưng ta không được phép giả điếc trước những lời ngài nói hoặc giả mù không nhìn thấy ngài xuất hiện rất nhiều lần. Ta nhìn thấy Chuá hiện diện trong tạo vật, trong phụng vụ tươi đẹp, trong tình bằng hữu giữa lòng Hội thánh. Khi đã chất đầy sự hiện diện của ngài, ta có thể dọi sáng đến cho những người khác nữa.

Bây giờ, chuyển sang phần thứ hai, đúng ra là phần câu hỏi thứ nhất của con: thật là khó nói về Chúa cho bạn bè, và có lẽ còn khó hơn nữa nếu muốn nói về Hội thánh, bởi vì họ chỉ nhìn thấy Chúa như một giới hạn cho sự tự do của mình, chỉ thấy Chúa của những giới luật, những cấm cản, và thấy Hội thánh như là một cơ chế chỉ làm cho tự do con người bị hạn chế thêm và áp đặt những rào cản cho con người mà thôi.

Chính vì thế, ta phải cố gắng làm cho họ nhìn thấy một Hội thánh sống động, không theo nghĩa của một trung tâm quyền lực, mà là một cộng đoàn của những người bạn đồng hành, trong đó, cho dẫu các vấn đề của đời sống vẫn còn, thế nhưng niềm vui sống vẫn bừng dậy mãnh liệt.

Đến đây Cha lại nhớ đến một kỷ niệm nữa. Khi ở Ba Tây, Cha có dịp đến Fazenda da Esperanca nơi một cộng đoàn các anh chị em đang được cai nghiện ma túy. Cha thấy họ khám phá ra lại nguồn hy vọng cũng như niềm vui sống trong cuộc đời này. Họ cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa mang lại ý nghĩa cho việc họ trở lại từ trong nỗi cô đơn tuyệt vọng. Và rồi họ hiểu rằng cuộc đời này có một ý nghĩa. Từ đó, họ tìm lại được nguồn vui sống, và khám phá ra niềm hoan lạc ngay chính khi phải đương đầu với các vấn đề của kiếp nhân sinh.

Do đó, trong mỗi tâm hồn con người, giữa ngổn ngang những vấn nạn, vẫn vọng lên nỗi khao khát Thượng Đế, và khi Ngài biến mất, thì vầng thái dương phát ra nguồn ánh sáng và niềm vui cũng tan biến theo. Niềm khát khao về Đấng Vô Biên này cũng được bộc lộ ngay cả trong thực tại của nghiện ngập, ma tuý: con người muốn sống một nếp đời đầy phẩm chất, vượt qua cả chính cuộc sống này, để nắm lấy Vô Biên. Thế nhưng ma túy chỉ là ảo giác và dối trá. Nó không hề làm cho cuộc sống vươn lên, mà chỉ tiêu diệt nó thôi.

Niềm khao khát lớn lao ấy nói cho ta về Thiên Chúa, đưa ta vào nẻo chính đường ngay hướng vọng đến Ngài, nhưng ta cũng phải biết tương trợ nhau. Chúa Kitô đến để kiến tạo một mạng lưới hiệp thông trên thế giới này, nơi tất cả chúng ta cùng chen vai sát cánh, dắt dìu nhau trên đường dẫn đến cõi sống. Từ đó, ta nhận thức được rằng các Giới răn của Chúa chẳng những không giới hạn tự do của ta, mà còn trở thành những nẻo đường khoảng khoát hơn, dẫn đến đời sống sung mãn.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa giúp nhận ra sự hiện diện của Ngài, được tràn đầy nguồn Mạc Khải cũng như niềm hoan lạc của Ngài, biết giúp đỡ nhau tiến lên trong cộng đoàn của đức tin, để rồi cùng với Chúa Kitô ngày càng khám phá ra Dung Nhan đích thực của Thiên Chúa là nguồn sống chân chính.”



30/10/07
Nguyễn Kim Ngân
Tin Có Thể Liên Quan