Poss
Poss, Possessor, possessio--Sở hữu chủ, sự sở hữu.
Possession, Demonic
Quỷ ám, quỷ nhập. Là việc ma quỷ kiểm sát từ bên trong các hành động của thân xác trong một con người. Sự tự do của linh hồn nạn nhân không bị ảnh hưởng. Việc quỷ ám có thể là liên tục hay là đứt đoạn, và nạn nhân không phạm tội do ma quỷ kiểm sóat. Có sự trừ quỷ chính thức do Giáo hội đặt ra cho người bị quỷ ám. Việc trừ quỷ công khai phải được giáo quyền cho phép.
Possessive Instinct
Bản năng chiếm hữu. Là xu hướng tự nhiên về quyền lực, hoặc xu hướng thống trị đối tượng yêu thương. Cần có sự thúc đẩy cơ bản để thăng hoa bản năng này bằng ơn Chúa, để con người phát triển trong sự khiêm hạ, vốn kiểm soát xu hướng về quyền lực, và trong đức ái, vốn tìm sự hy sinh cho người mình yêu mến.
Possible
Khả hữu, có thể. Là điều gì có thể là hoặc có thể hiện hữu. Trong số nhiều, các khả hữu là yếu tính của mọi vật được xem xét như là đối tượng sự hiểu biết của Chúa. (Từ nguyên Latinh possibilis, cái gì có thể hiện hữu hoặc được làm.)
Postcommunion
Lời nguyện hiệp lễ. Là lời kinh phụng vụ của Linh mục trong Thánh lễ sau khi tín hữu đã rước lễ. Trong kinh nguyện này, linh mục xin cho việc cử hành mầu nhiệm thánh mang lại các hiệu quả cần có. Những người tham dự thánh lễ cùng hiệp ý với lời kinh bằng cách đáp Amen.
Postconciliar
Hậu Công đồng. Là từ ngữ dùng để mô tả thời kỳ sau Công đồng chung Vatican II (1962-65). Từ ngữ phản ảnh sự phát triển trong giáo lý Công giáo, phụng vụ và luật Giáo hội, đã được Công đống chung cho phép, và được các phẩm trật Giáo hội thi hành.
Post Litteras Apostolicas
Thông báo Post Litteras Apostolicas. Thông báo của Thánh Bộ Giáo lý Đức Tin về sửa đổi quan niệm của Giáo hội cho các sách cấm. Văn kiện này đặt trách nhiệm tránh các văn hóa phẩm có thể gây hại cho đức tin và luân lý vào lương tâm của mỗi Kitô hữu, và vào các hướng dẫn của Giám mục. Nhưng luật cũ của Giáo hội, được cụ thể hóa trong sách Danh mục Sách cấm và trong các biện pháp cấm thích hợp, đã bị hủy bỏ (ngày 14-6-1966).
Postulant
Thỉnh sinh. Là một người đi bước đầu trong đời tu trì, trước khi vào nhà Tập và mặc áo Dòng. Mục đích của thời kỳ thỉnh sinh là học hỏi về đời sống tu trì, và tìm hiểu Dòng tu mà mình muốn gia nhập qua cảm nghiệm cá nhân. Thời kỳ này giúp thỉnh sinh quen biết hơn với các bề trên của cộng đoàn, và sống nhân đức để đủ điều kiện cho việc được nhận vào thời kỳ tập viện. Thời kỳ thỉnh sinh có thể thay đổi, nhưng thường là không quá sáu tháng. (Từ nguyên Latinh postulatum, một điều được xin; postulatio, thỉnh nguyện, cầu bầu.)
Postulate
Định đề, nguyên lý cơ bản. Là một nguyên tắc hay một sự việc vốn được xem là đúng sự thật, và được lấy làm cơ sở cho hành động hoặc lý luận. Trong triết học của triết gia Immanuel Kant, đây là một trong các giả định cho lý luận thực tiễn. Sự hiện hữu của Chúa được thừa nhận để bảo đảm một trật tự luân lý trong thế giới, và sự bất tử của linh hồn được thừa nhận, để cho sự trọn lành luân lý được tiếp tục sau khi một người đã lìa cõi thế. Nhưng trong hệ thống của Kant, đó là các định đề thuần túy; chúng được cho là vượt quá sự chứng minh theo lý trí.
Postulation
Thỉnh nguyện. Là sự đề nghị cho việc bổ nhiệm một ứng viên có khả năng cao vào một chức vụ, mà thông thường ứng viên ấy không được bầu chọn, do ngăn trở theo giáo luật. Luật Giáo hội nhìn nhận việc này như là một phương pháp bổ nhiệm hợp pháp.
Potency
Cường lực, tiềm năng, thế lực. Là khả năng của một hữu thể để hiện hữu, hành động hoặc đón nhận. Là tiềm năng hoặc khả năng hoàn thiện, hoặc đổi thay. Mọi thụ tạo đều là trong tiềm năng, bởi vì chỉ có Chúa là Hiện thể Thuần túy và không hề thay đổi. (Từ nguyên Latinh potens, sức mạnh; potentia, sức mạnh, khả năng hiện hữu hoặc trở thành hay làm điều gì.)
Poverty Evangelical
Sự nghèo khó Phúc Âm. Là một lời khuyên Kitô giáo, qua đó một người tự nguyện từ bỏ quyền sở hữu tài sản vật chất.
Poverty Of Dispossession
Sự nghèo khó do từ bỏ của cải. Là sự từ bỏ hoàn toàn quyền sở hữu và quyền thủ đắc của cải vật chất. Nền tảng Kinh thánh cho đức nghèo này là tuyên bố của Chúa Kitô với người thanh niên giàu có: “Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi" (Mt 19:21).
Poverty Of Sharing
Sự nghèo khó trong chia sẻ. Là sự hy sinh tự nguyện tài sản của mình vì lợi ích chung của một cộng đoàn. Mọi phương tiện sinh sống và hoạt động đã được cộng đoàn cung cấp. Được thực thi trong Giáo hội từ thời các thánh Tông đồ, sự nghèo khó trong chia sẻ này đã được thánh Luca mô tả như là một trong các hiệu quả của việc nhận lãnh Chúa Thánh Thần: “Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu" (Cv 2:44-45).
Power
Sức mạnh, sức lực, quyền lực, năng quyền. Nói chung, là khả năng làm hoặc thực hiện một chuyện gì. Cũng còn gọi là nguyên lý của hiệu quả, được áp dụng cho Chúa và các thụ tạo. Một cách đặc biệt hơn, quyền sáng tạo là nguyên lý trực tiếp, qua đó một bản tính được ra lệnh một cách trực tiếp, cốt yếu và thường xuyên, làm một chức năng đã định hoặc một hoạt động đặc biệt. (Từ nguyên Latinh posse, có thể; potentia, sức mạnh, khả năng hiện hữu, hoặc trở nên, hoặc làm việc gì.)
Power Of Jurisdiction
Thẩm quyền tài phán. Là quyền luân lý để cai trị tín hữu trong Giáo hội Công giáo. Cũng gọi là quyền cai trị (potestas regiminis), vốn do Chúa định là thuộc về Giáo hội được Chúa Kitô thành lập. Quyền này bao gồm quyền ở tòa ngòai (được biết công khai) và tòa trong (vấn đề riêng tư của lương tâm), dù là thuộc bí tích hay là không bí tích.
Power Of The Keys
Quyền chìa khóa. Là quyền của Giáo hội được Chúa Kitô ban cho thánh Phêrô và các đấng kế vị Phêrô. Do quyền này, Đức Giáo hòang có quyền tài phán phổ quát và độc lập trên toàn thể các giáo đoàn và mọi tín hữu. Từ ngữ phát sinh từ lời hứa của Chúa Kitô với thánh Phêrô là sẽ trao cho Phêrô Chìa Khóa Nước Trời (Mt 16:19). Tuy nhiên, một cách thông thường hơn, từ ngữ nhắc đến việc Giáo hội thực thi quyền tha tội hay không tha tội trong bí tích Xá giải.
Powers
Uy thần, quyền thần. Là những thiên thần thuộc bậc thấp nhất của phẩm trật thứ hai trong các phẩm thiên thần. Các ngài được gọi là quyền thần (potestates), bởi vì các ngài có một hiệu năng đặc biệt trong việc cản trở các cuộc tấn công của ma quỷ vào con người.
Powers Of Evil
Quyền lực sự dữ. Là Satan và các thiên thần sa ngã, đã được Chúa sáng tạo và vô hình, được Chúa cho phép cám dỗ con người phạm tội, và thỉnh thoảng được Chúa dùng để trừng phạt con người, ở trần gian, vì đã phạm tội. Từ ngữ này cũng áp dụng cho những ai xa rời Chúa, và do đó là các dụng cụ sẵn sàng của ma quỷ để dẫn đưa người khác phạm tội nữa.
Powers Of The Soul
Quyền của linh hồn. Linh hồn có các quyền ghi nhớ, hiểu biết và ý chí tự do. Các quyền này thường được nói đến trong các trước tác của Giáo phụ, các ngài so sánh Ba Ngôi Thiên Chúa trong một bản tính Thiên Chúa với sự hiện diện của ba quyền trên đây trong một linh hồn.
Pp
Pp, Papa--Đức Giáo hòang; Pp, pontificum--của Giáo hòang.
P.P.
P.P., Parochus—cha xứ, cha quản xứ (từ ngữ được dùng chủ yếu tại Ireland).
Pp. Aa.
Pp. Aa, Patres amplissimi—các Hồng y.
P.P.P.
P.P.P., Propriâ pecuniâ posuit—xây dựng bằng chính tiền của Ngài.
Pr
Pr, Proprium—riêng, phần riêng.
P.R.
P.R., Permanens rector--Viện trưởng thường trực.
Practical Doubt
Hoài nghi thực tế. Là sự không đoan chắc của trí tuệ liên quan đến một chuỗi hoạt động thận trọng, hoặc sự đúng đắn luân lý của việc gì sẽ được làm ngay bây giờ. Nó đối nghịch với hoài nghi thuần túy suy đoán (a merely speculative doubt.) (Từ nguyên Latinh practicus, họat động, công hiệu, thực tế: dubitatio, nghi ngờ, ngần ngại, do dự.)
Praef
Praef, Praefatio—Kinh Tiền tụng của Thánh lễ.
Pragmatism
Chủ nghĩa thực dụng. Là một chủ nghĩa cho rằng mọi chân lý có các hệ quả thực tế, vốn là trắc nghiệm cho tính chất đúng sự thật. Thuyết này được liên kết với triết gia Mỹ William James, người đã định nghĩa sự thật “chỉ là mưu chước trong cách chúng ta suy tư.” Trong từ ngữ tôn giáo, đó là sự gì biện minh một niềm tin hay một nghi thức, chính là khả năng thỏa mãn các nhu cầu tâm lý và tạo ra các giá trị hữu ích cho xã hội.
Praise
Khen ngợi, ca ngợi, tán tụng, ca tụng. Là nói tốt vế các đức tính tốt hay việc tốt của một người. Nó hàm chứa sự nhận thức về điều xuất sắc của người khác, sự đồng ý bên trong, và diễn tả ra bên ngòai sự đồng ý về điều được ca ngợi. Nói cách chặt chẽ, ca ngợi là nhắc đến hoạt động, nhất là sự thánh thiện trong Chúa và lối sống nhân đức nơi người ta. Nhưng từ ngữ cũng áp dụng cho tính tình hay bản tính của một người mà hành động của người này là đáng khen ngợi.
Praises Of God
Kinh ngợi khen Thiên Chúa Tối cao của thánh Phanxicô Átxidi. Là trang giấy gốc ghi các lời ngợi khen Thiên Chúa được lưu giữ hiện nay trong một hòm thánh tích ở Vương cung thánh đường thánh Phanxicô tại Átxidi (Assisi, Ý.) Các lời ngợi khen này minh họa đỉnh cao thần nghiệm mà thánh Phanxicô đã đạt được, vào lúc Ngài được ghi Năm dấu thánh của Chúa. Kinh này đọc: “Ngài là Thiên Chúa thánh thiện, duy mình Ngài làm nên những kỳ công (Tv 76,15)./ Ngài mạnh mẽ, Ngài vĩ đại (x. Tv 85,10), Ngài cao cả, Ngài là Vua toàn năng, lạy Cha chí thánh (Ga 17,11), Ngài là Vua thống trị trời đất (x. Mt 11,25)./ Ngài là Ba Ngôi và là Một Thiên Chúa, là Thần trên mọi chư thần (x. Tv 135,2). Ngài là sự thiện, làm phát sinh mọi sự thiện, là sự thiện tuyệt đỉnh, là Thiên Chúa hằng sống và chân thật (x. 1Tx 1,9)./ Ngài là tình yêu, là bác ái; Ngài là hiện thân của sự khôn ngoan, của đức khiêm nhường và của lòng nhẫn nại (Tv 70,5). Ngài tuyệt đẹp, Ngài nhân từ, Ngài là nơi nương tựa an toàn, Ngài là chốn nghỉ ngơi, Ngài là niềm vui, Ngài là niềm hy vọng và hân hoan, Ngài là sự công chính và tiết độ. Ngài là tất cả kho tàng sung mãn của chúng con./ Ngài tuyệt đẹp, Ngài nhân từ, Ngài là Đấng che chở (Tv 30,5), gìn giữ và bảo vệ chúng con, Ngài là sức mạnh, Ngài là sự mát mẻ. Chúng con trông cậy Ngài./ Chúng con tin tưởng Ngài, Chúng con yêu mến Ngài. Ngài là tất cả sự dịu ngọt và là sự sống đời đời của chúng con, Ngài là Đức Chúa lớn lao và kỳ diệu là Thiên Chúa toàn năng, là Đấng Cứu tinh nhân hậu.”
Prayer
Cầu nguyện. Là sự đáp trả tự nguyện cho sự nhận thức có Chúa hiện diện. Sự đáp trả này có thể là nhận biết sự cao cả của Chúa và sự lệ thuộc hoàn toàn của con người vào Chúa (thờ lạy), hoặc tạ ơn Chúa về ơn lành ban cho mình và cho người khác (tạ ơn), hoặc lo buồn vì tội đã phạm và xin Chúa tha thứ (đền tội), hoặc xin các ơn cần thiết (cầu xin), hoặc xin lòng mến Chúa, là Đấng trọn lành (yêu thương).
Prayer, Constant
Cầu nguyện liên lỉ. Là một tập tục Kitô giáo, được thánh Phaolô cổ vũ, “Hãy cầu nguyện không ngừng" (I Tx 5:17), nhờ đó một người luôn sống kết hiệp với Chúa. Còn gọi là sự cầu nguyện của con tim, vì không cần nhận thức có Chúa hiện diện. Nó hàm ý rằng con người là luôn sẵn sàng làm theo ý chúa.
Prayer Book
Sách kinh. Là một cẩm nang có các kinh nguyện để tín hữu làm việc đạo đức riêng tư, hoặc dùng chung cho một cộng đoàn tu trì hay một phụng hội. Sách kinh Công giáo không giống như “Sách kinh cầu nguyện chung của Anh giáo”, bởi vì các sách phụng vụ Công giáo về cầu nguyện và thánh ca là hòan toàn khác với sách kinh thông thường, vốn chứa đựng nhiểu kinh được phép đọc, bài suy niệm hoặc bài đọc giúp suy tư.
Prayer During The Day
Kinh trưa. Là kinh giờ Ba của Kinh Nhật tụng, cũng còn gọi là “Giờ giữa.” Giờ kinh này có ba thánh vịnh, một bài đọc ngắn, và kinh nguyện thay đổi theo thời gian trong ngày mà Kinh được đọc.
Prayer Of Christ
Lễ Chúa Kitô cầu nguyện trong Vườn. Trước đây là một lễ phụng vụ, vào ngày thứ ba sau chủ nhật Bảy Mươi, tưởng nhớ lời cầu nguyện thống khổ của Chúa Kitô trong Vườn Cây Dầu.
Prayer Of Quiet
Cầu nguyện trong an tịnh. Là sự nghỉ ngơi an lành nội tâm nhờ đó linh hồn được quyến rủ bởi sự hiện diện của Chúa. Đây là kết quả của tình yêu chiêm ngắm, và là hoa quả của ơn khôn ngoan. Trong lúc cầu nguyện trong an tịnh, tâm trí được soi sáng đặc biệt bởi ơn Chúa và niềm vui thiêng liêng xâm chiếm trọn con người ấy. Mặc dầu các khả năng bậc thấp và giác quan vẫn tự do thực hiện các họat động tự nhiên của chúng, Chúa được cảm nhận một cách được che khuất trong phần tinh tế nhất của linh hồn như là Thực tại Vĩ đại. Lúc đầu sự cầu nguyện này thường là ngắn. Với ảnh hưởng của ơn Chúa, thời gian sẽ kéo dài hơn và có thể trở nên thường xuyên nữa.
Prayer Of Recollection
Cầu nguyện hồi tâm. Còn được gọi là cầu nguyện đơn sơ, trong đó linh hồn gom lại các khả năng khác nhau, để tập trung tâm trí và ý chí vào Chúa
Prayer Of Simplicity
Cầu nguyện đơn sơ. Là sự suy niệm được thay thế bởi sự cầu nguyện tinh tuyền và thân thiết hơn, bao gồm trong một cái nhìn đơn sơ hoặc tư duy yêu thương về Chúa, hoặc về một trong các ưu phẩm của Chúa, hoặc về một mầu nhiệm của đức tin Kitô giáo. Lý luận được đặt qua một bên, và linh hồn thanh thản tham dự vào các họat động của Chúa Thánh Thần với các tình cảm yêu thương.
Prayer Of The Faithful
Lời nguyện tín hữu. Là Lời cầu xin chung hoặc Lời cầu thốt ra. Trong lời kinh này, tín hữu thực thi chức năng tư tế của mình, bằng cách cầu nguyện cho toàn nhân lọai. Lời nguyện tín hữu thường được thực hiện ở nơi nào có đông tín hữu dự thánh lễ. Chuỗi các ý cầu nguyện thường là: các nhu cầu của Giáo hội, chính quyền, sự cứu độ của tòan thế giới, những người bị áp bức bằng nhiều cách, và cộng đòan địa phương. Vào các dịp đặc biệt, các ý cầu nguyện có thể điều chỉnh sao cho thích hợp. Vị linh mục có chức năng chủ sự cho phần phụng vụ này bằng lời mở đầu và phần kết thúc Lời nguyện tín hữu, với một người phụ tá đọc các ý cầu xin, và cộng đòan đáp trả bằng lời cầu khẩn phù hợp.
Prayer Of Union
Cầu nguyện hợp nhất. Là một sự kết hiệp thân mật nhất của linh hồn với Chúa, kèm theo sự hiện diện của Chúa với linh hồn, và một sự ngưng trệ mọi khả năng bên trong. Với việc cầu nguyện này, không có sự chia trí nào bởi vì linh hồn hoàn tòan thấm nhập vào Chúa. Không có sự mỏi mệt, dù việc kết hiệp kéo dài bao lâu chăng nữa, bởi vì không nỗ lực cá nhân nào được thực hiện cả, mà chỉ là sự cảm nghiệm lạ thường của niềm vui sướng. Linh hồn sẽ có lòng nhiệt thành say mê để tôn vinh Chúa; sự dứt bỏ hòan tòan mọi điều thụ tạo; sự quy phục trọn vẹn cho ý Chúa; và lòng yêu mến lớn với tha nhân.
Prayers Over The People
Lời nguyện trên Dân Chúa. Là lời khẩn nguyện đặc biệt, “tùy vào sự nhận định của Linh mục,” vào cuối Thánh lễ hoặc sau Phụng vụ giờ Kinh, Thần Tụng, và cử hành Bí tích. Lời nguyện này diễn ra trước khi Linh mục ban phép lành cuối lễ, và có nhiều công thức để đọc.
Prb. Presbit.
Prb. Presbit., Presbyter-linh mục.
Preacher Apostolic
Nhà thuyết giáo phủ Giáo hòang. Là một giám chức của Văn phòng Quản gia Giáo hòang, có nhiệm vụ là giảng Lời Chúa cho Đức Giáo hòang và giáo triều, bốn lần trong mùa Vọng và mỗi tuần một lần trong mùa Chay. Một giáo sĩ thuộc Dòng Phanxicô Lúp Dài đã giữ chức vụ này từ năm 1753, khi Đức Giáo hoàng Biển Đức XIV ban chức vụ này cho Dòng.
Preaching
Giảng Lời Chúa. Là việc giảng công khai một chủ đề tôn giáo của người có quyền giảng này. Như thế việc giảng Lời Chúa có thể áp dụng đúng cho các Giám mục, Linh mục, Phó tế trong việc thực thi sứ vụ rao giảng Lời Chúa của các ngài. Nói về linh mục, Công đồng chung Vatican II đặt sứ vụ này là sứ vụ số một trong các sứ vụ của hàng linh mục, là người “rao giảng Tin Mừng, chăn dắt tín hữu và cử hành việc thờ phượng Thiên Chúa" (Hiến chế Tín lý về Giáo Hội, Lumen Gentium III, 28).
Pre-Adamites
Tiền Adam. Là thuyết cho rằng đã có một lòai người, nhưng đã tuyệt chủng trước khi ông Adam và bà Eve xuất hiện. Là một giả thuyết thuần túy, nó được một số người nêu ra trong một nỗ lực để tránh xung khắc hiển nhiên, giữa trình thuật Kinh thánh về con người trước khi sa ngã và các suy đoán về tiến hóa.
Preambles Of Faith
Khai đọan đức tin, bước dẫn nhập đức tin. Là các tiền đề chính của lý trí, mà hành vi đức tin lệ thuộc vào đó như là nền tảng rất có lý. Có ba tiền đề chính: 1. sự hiện hữu của Chúa; 2. quyền uy của Chúa, hoặc Chúa có quyền được con người tin, bởi vì Chúa biết mọi sự và là Đấng chân thật hoàn toàn; và 3. sự kiện là Chúa đã thật sự tỏ lộ mặc khải, vốn được chứng minh bằng các phép lạ hoặc các lời sứ ngôn, được thực hiện trong chứng từ của một ngôn sứ (hoặc Chúa Kitô) phát ngôn nhân danh Chúa. (Từ nguyên Latinh praeambulus, đi trước: prae, trước mặt + ambulare, đi.)
Prebend
Bổng lộc. Tiền thu nhập cho một kinh sĩ, được trích từ nguồn thu nhập của một nhà thờ. Theo luật Giáo hội, nếu tiền thu nhập là không đủ, một giám mục có thể trích từ các nguồn khác để bù vào số tiền thiếu hụt.
Precedence
Quyền ưu tiên, quyền ưu vị, quyền ưu trạch. Là sự sắp xếp đúng cách của Giáo hội cho các cá nhân tùy theo cấp bậc, chức vụ, hoặc thâm niên, cho bất cứ mục đích gì mà họ được sắp xếp. Quyền ưu trạch theo giáo luật được xác định bởi quyền của một người trên một người khác, thứ bậc của họ trong phẩm trật có quyền tài phán và trong thứ bậc của chức thánh, sau đó là ưu tiên về thăng chức và tuổi lớn hơn. Khi quyền ưu vị không liên quan đến các cá nhân, thứ tự sẽ là: giáo sĩ triều, giáo sĩ Dòng, tu sĩ không phải là giáo sĩ, và giáo dân—nam giới trước nữ giới. Đức Giáo hòang luôn có vị trí số một trong bất cứ khía cạnh nào của quyền ưu vị. Trong một cuộc rước, người giữ vị trí danh dự đi sau cùng.
Precept
Mệnh lệnh, giới luật, châm ngôn, huấn chỉ. Là một lệnh của Chúa hoặc của một người có quyền hợp pháp cho một người hoặc một công việc đặc biệt. Một mệnh lệnh được phân biệt với toàn bộ các luật, như bất cứ luật đặc biệt hoặc lệnh nào dưới luật. Các mệnh lệnh khẳng định ra lệnh cho một người phải hành động, hoặc phải làm việc gì đó. Còn các mệnh lệnh phủ định cấm một hành động nào đó. (Từ nguyên Latinh praeceptum, luật, châm ngôn.)