Trong trại của chúng tôi có một bạn khiếm thị, bạn đó làm tôi cảm phục lắm, vì mặc dù không nhìn được nhưng anh vẫn không quản đường xa để đến tham gia cùng mọi người, nụ cười của anh rất ít khi xuất hiện trên khuôn mặt thoáng buồn, ấy vậy mà nhiều khi anh vẫn cười để làm cho không khí trong trại thêm vui hơn
Không biết cảm xúc của mọi người sau khi tham dự Đại hội truyền thống như thế nào nhỉ? Riêng tôi, bao nhiêu cảm xúc cứ dồn dập ùa về, có bao nhiêu chuyện muốn kể, muốn chia sẻ cho những ai chưa biết được biết, không thể đếm hết cũng như nhớ hết được.
Hôm qua, vác được cái xác 50kg về tới nhà, sau khi tiến hành xong các thủ tục diễn ra hàng ngày như: nấu nướng, dọn dẹp… tôi đã ngồi định viết luôn một bài vì sợ sau một đêm cảm xúc của mình sẽ biến mất, thế nhưng vừa ngồi viết được một lúc thì đã khò khò tới tận 10h sáng.
Tôi vốn là một người bị say xe trầm trọng, thế nên khi nghe nói phải đi xe buýt để tới nhà thờ Thạch Bích – nơi tổ chức ngày Đại hội truyền thống của SVTGP Hà Nội, tôi định không đi. Tuy nhiên, có một động lực nào đó đã thúc đẩy làm cho bước chân của tôi cứ tiến mà không thể dừng được.
Thật may mắn, tôi được anh Thọ trưởng nhóm Hải Hà cho đi nhờ xe máy. Mặc dù đi xe máy nhưng cũng gian nan vất vả lắm, phải ôm một thùng bánh mì cay (đặc sản Hải Phòng quê tôi đó) to chưa từng thấy, ngồi mà cảm giác như có thể bay khỏi xe bất cứ lúc nào ấy, thế nên cho dù là “thiên tài về ngủ gật” nhưng cả một chặng đường khá dài từ Định Công tới Thạch Bích tôi không hề chợp mắt “trộm” được lúc nào cả.
Được cái có thùng bánh mì che chắn nên gió không xuyên “qua miền tối sáng” được. Tới Thạch Bích thì đôi chân của tôi cũng đã rụng rời nhưng không khí náo nhiệt ở đó đã làm tôi quên hết mệt mỏi, và trong lòng cứ bồi hồi xao xuyến như người đang yêu vậy. Nhìn tất cả mọi người ai ai cũng tất bật với công việc được giao của mình nhưng khuôn mặt họ luôn ánh lên niềm vui và hạnh phúc.
Các trại của 21 nhóm đã được dựng xong, trại nào cũng có những nét đẹp riêng, trại của Hải Hà mình thì gam màu chủ đạo là màu xanh tượng trưng cho màu của nước biển cũng như màu xanh của núi. Lúc chiều tôi và Quân được cử đi mua hoa và than củi cho nhóm. Công việc này cũng gian nan lắm, hai chị em phải lên tận ngã ba Ba La mới mua được hoa đẹp và than củi chính hãng.
Lúc về thì hai chị em tôi gặp phải một chút rắc rối trên đường. Khi đi tới khu công nghiệp Thanh Oai thì có lẽ do nhìn từ xa thấy tôi “xinh” quá hay sao mà 5 anh “áo xanh tình nguyện” ấy chết nhầm, 5 anh công an giao thông “cả vàng cả xanh” ra tận giữa đường “đón tiếp” tôi và Quân vào để xin chữ ký với lý do là “không cười với các anh từ xa”.
Mặc dù năn nỉ mãi nhưng cuối cùng phải nhờ tới sự trợ giúp thứ ba là GỌI ĐIỆN THOẠI CHO NGƯỜI THÂN, ấy vậy mà các anh ấy vẫn “tống tiền” với giá 150.000đ mới buông tha đó. Hic, đúng là “xinh” quá cũng khổ thật. Biết vậy mình bảo Quân dùng “nam nhân kế” là xong. Các bạn có biết cảm xúc lúc ấy như thế nào không? Mình vừa lo vừa bực, lại có phần vui nữa. Lo vì được nhóm tin tưởng giao cho nhiệm vụ đó mà lại đi quá lâu, bực vì tốn bao nhiêu lời hay ý đẹp mà các anh vẫn trơ như đá, vui vì cũng nhờ vụ đó mà quen được một đôi SVCG Vinh (cũng vào hoàn cảnh tương tự như của mình). Đến lúc về rồi do mải xả những cảm xúc buồn vui lẫn lộn đó mà hai chúng tôi đi lạc lên trên tận gần 10km nữa. Đúng thật là khổ.
Về tới trại thì cũng đã tới giờ ăn tối với món ăn mà tôi rất thích – xôi gấc. Mọi người ai cũng đói nên ăn rất nhiệt tình, mấy thúng đựng xôi cứ hết vèo vèo, nhưng hết lại có, xôi thì vẫn không bao giờ hết, điều đó làm tôi liên tưởng tới phép lạ hóa bánh ra nhiều mà Chúa Giê-su đã làm cho dân chúng, tất cả mọi người trong nhóm Hải Hà đều được ăn no nê, số còn lại chất được… “nửa già thúng”. Đúng là Chúa luôn đồng hành cùng chúng ta.
Sau khi ăn tối xong là chương trình văn nghệ của các đội sinh viên, tôi thì không được xem các tiết mục đầy đủ được vì phải làm chân “cò mồi” – nhân viên marketing cho hàng bán bánh mì cay của nhóm. Đội quân bán hàng rất đông đảo, anh Dũng (Thanh Xuân) làm đầu bếp chính, cậu ấy nướng bánh mì cực khéo các bạn ạ, mùi bánh mì nướng hấp dẫn vô cùng khiến cho mũi của mọi người cứ nhảy nhót mãi trên những khuôn mặt đáng yêu. Bên cạnh anh đầu bếp khéo tay hay làm là chị Lan, với nụ cười tươi tắn luôn nở trên môi, đôi bàn tay nhỏ nhắn thoăn thoắt của chị cứ liên tục gói bánh mì để giao cho khách. Tôi và Hướng (Hoàng Mai) – hai cô gái đẹp như “tiên giáng …” (không biết là giáng trần hay gì nữa) thì làm chân rao bán, hai cái miệng nhỏ xinh xắn cứ hoạt động không ngừng nghỉ: “bánh mì cay đặc sản nổi tiếng của Hải Phòng đây”, “bánh mì cay Hải Phòng 3 ngàn một ổ, đặc biệt thơm ngon”… mỗi người hai tay hai ổ bánh mì cứ chạy đi chạy lại mời khách “nhìn” rùi kéo vào chỗ nướng bánh cho họ “ngửi” mùi vị thơm ngon của bánh và thuyết phục họ mua, đặc biệt là các anh con trai thì được chúng tôi “lôi” vào rất nhiệt tình.
Đồng hành cùng gian hàng bán bánh mì là đội cổ động của Hải Hà cứ thi thoảng lại có những bài đồng diễn, nhảy nhót theo điệu nhạc trên sân khấu để tạo ra không khí ấm áp xua tan cái giá lạnh đang cố tình thâm nhập vào mỗi người. Trời thi thoảng lại mua lun phun, tuy nhiên không thể làm giảm niềm hăng say bán hàng của chúng tôi được, tất cả mọi người từ cụ già tới người lớn, trẻ em, thanh niên mọi lứa tuổi rồi đến cả các Thầy Dòng cũng đều bị thu hút bởi mùi bánh mì nướng hấp dẫn.
Đối diện với gian hàng bánh mì là gian hàng mây tre đan với đủ các mẫu mã kiểu dáng trông rất bắt mắt, đặc biệt là đội ngũ bán hàng cũng rất chuyên nghiệp – chị Thức (Hoàng Mai), anh Phúc (Thanh Xuân) và rất nhiều người khác nữa… đã tạo nên một lực lớn để thu hút mọi người đến mua hàng.
Bên cạnh đó, các nhóm khác cũng mở những gian hàng không kém phần long trọng: nhóm Vinh – bán bánh giò và cà phê, nhóm Hà Nam – cà phê với không gian rất lãng mạn, rồi có nhóm bán bánh khoai, ngô luộc. Hàng xóm của Hải Hà – nhóm Công Nghiệp thì tổ chức chơi trò chơi cõng nhau vượt chướng ngại vật với điều kiện người cõng phải bị bịt mắt…(tôi và một em nhỏ cũng tham gia trò chơi đó và tất nhiên là… thua), cùng với các hoạt động đó là chương trình văn nghệ sôi nổi và không kém phần thú vị trên sân khấu vẫn thu hút được nhiều khán giả.
Tất cả tạo nên một không khí sôi động, lòng tôi cũng rạo rực khi được hòa mình vào không gian ấy. Kết thúc chương trình văn nghệ mà phần bánh mì cay của bọn tui mới vơi đi được có nửa già, thế là hai “lôi kéo viên” – tôi và Hướng lại làm việc hết công suất, mời miệng không được thì bắt đầu “lôi” khách vào và quây để khách được mời phải mua thì thôi, khách mà là con gái thì sẽ “được” các hoàng tử của Hải Hà vây xung quanh và hô lớn tiếng “mua đi, mua đi…”, khi khách đồng ý mua rồi thì lại hô “trả tiền đi, trả tiền đi…”, cũng may là khi khách đã mua xong mọi người không hô “đi đi, đi đi,,,” đấy chứ không thì chắc họ không dám quay lại mất. Với những khách hàng là con trai thì lại được các cô gái Hải Hà xinh xắn, dễ thương “chăm sóc” rất nhiệt tình. Nhờ đó mà bánh mì cứ ngày một cạn dần cạn dần và khi chỉ còn có một bịch nữa thì mọi người quyết định là không bán nữa vì sức chưa cạn nhưng than đã gần tàn, còn một ít than để dành để gần đêm nướng cho mọi người trong nhóm ăn để lấy sức còn đi giao lưu với các trại khác nữa.
Khi đã gần khuya, tôi vào trong trại để kiếm một chỗ an nghỉ (tạm thời thôi chứ không phải an nghỉ ngàn thu đâu đấy) nhưng hỡi ơi, chẳng còn chỗ nào để tôi nương thân nữa vì trong trại đã chật ních, mọi người ngồi ca hát, trò chuyện rất vui vẻ, lại có cả ca sĩ Gia Ân tới thăm trại của chúng tôi và hát nữa chứ. Không khí trong trại lúc ấy vui lắm, chẳng có từ nào có thể diễn tả được. Tôi lúc ấy cũng đã thấm mệt rùi nhưng vẫn hát như chưa bao giờ được hát vậy.
Trong trại của chúng tôi có một người bị khiếm thị, người đó làm tôi cảm phục lắm, vì mặc dù không nhìn được nhưng anh ấy vẫn không quản đường xa để đến chia tham gia cùng mọi người, nụ cười của anh rất ít khi xuất hiện trên khuôn mặt thoáng buồn, ấy vậy mà nhiều khi anh vẫn cười để làm cho không khí trong trại thêm vui hơn.
Sau khi ca sĩ Gia Ân chia tay nhóm, chúng tôi ăn bánh mì cay, có nhiều nhóm sinh viên công giáo khác cũng đến giao lưu với trại của chúng tôi, rồi sau đó cũng là lúc mọi người (kẻ nằm thẳng, người nằm co, người ngồi gục mặt vào đầu gối…) và thoang thảng đâu đó đã có tiếng khò khò. Mọi người đã buồn ngủ rùi, tôi cũng thế, buồn ngủ nhưng không tìm được chỗ nào, thế là đành nằm ngay phía ngoài, cái lạnh kéo đến, tiếng nói chuyện trong trại đã vắng dần nhưng tiếng nhạc bên ngoài vẫn không dứt. Anh Luyện – Phó nhóm đã thể hiện là một người rất quan tâm và lo lắng cho “dân”, anh đã lấy chiếc bàn để chắn ngoài cửa trại để gió không lùa vào làm mọi người thêm lạnh, rồi anh ngồi đó trông cho mọi người ngủ, khuôn mặt lộ rõ vẻ mệt mỏi nhưng anh không lúc nào ngủ gật, đôi mắt vẫn mở to, có khi nhìn xa xăm như đang nghĩ về một chuyện gì đó, tôi nằm ngay ngoài nên thi thoảng “ti hí” xem anh làm gì, cũng tại trời lạnh quá nên không ngủ được.
Có nhiều trại khác cũng sang giao lưu nhưng đều bị anh Luyện từ chối với lý do muốn để mọi người trong trại được nghỉ ngơi. Quả thật là một phó nhóm tuyệt vời! Tôi nằm ngoài lạnh quá không chịu được, cuối cùng anh Luyện lại phải đích thân đi tìm chỗ ngủ cho bọn tôi. Ba giờ sáng chúng tôi mới đến được ngôi nhà mà nhóm được nhận để ngủ qua đêm, mọi người đã ngon giấc hết rồi, tôi và mấy người nữa dễ dàng tìm được một chỗ ngủ cho riêng mình, nhưng mà thật khó để ngủ vì những chỗ đó rất gần cửa (cửa thì bị hở gần một nửa), lại không có chăn đắp nên tôi còn lạnh hơn khi nằm ngoài trại nữa.
Sáng dậy, sau khi đánh răng rửa mặt, tôi và mọi người lại quay trở về nhà thờ, đi đường mà mắt cứ díu lại vì buồn ngủ. Buổi sáng, mọi người tham gia trò chơi do Ban Điều hành tổ chức, đây là trò chơi “giải mật thư”, mỗi đội sẽ được bốc thăm mật thư và phải giải được bức mật thư đó, sau đó sẽ đi theo các chỉ dẫn trên đường đi để tới đích. Đội nào tới đích sớm sẽ được ăn sáng trước tiên.
Sau khi nhận được mật thư do anh Quang bốc được, chị Nga và chị Thức (Hoàng Mai) cùng mọi người đã nhanh chóng lên đường, nhưng do quá vui vì sắp được ăn sáng thế nên cả đội đã xuất phát sai, vì thế sau một hồi đi, chạy, gặp cả thử thách, rồi bị ném nước mà nhóm vẫn không tới được đích, thế là đành ngồi “ngâm cứu” lại và quay trở lại nơi xuất phát. Mãi sau đó mới tìm được hướng đi đúng nhưng lúc này tốc độ di chuyển không còn được như trước nữa, mặc dù vậy ai cũng vẫn vui vẻ và cố gắng cười để động viên nhau “cố lên”.
Và những nỗ lực của bọn tôi đã được đền đáp, căn nhà có chữ “i” – đích đến của chúng tôi đã xuất hiện, mọi người tập trung ở cổng cùng hát vang bài hát (tôi không nhớ tên là gì) để tặng chủ nhà thân thiện của chúng tôi. Sau khi ăn sáng xong, Hải Hà lại quay về Nhà Truyền Thống của Nhà Thờ, rồi trở về trại nghỉ ngơi một lúc và tiếp tục cuộc vui chơi theo những chỉ dẫn trên đường đi để ra tới cánh đồng thơ mộng đầy “rạ”, nơi đây chúng tôi được các anh chị linh hoạt viên tổ chức cho chơi trò chơi “đua thuyền” rất sôi động. Nhưng lúc này mọi người đã mệt lắm rồi nên chẳng thể chèo nổi nữa, khi tới đích thì cũng là lúc sức lực gần như cạn kiệt và mọi người quay trở về trại nghỉ ngơi và chuẩn bị dự lễ.
Sau thánh lễ là phần được khá nhiều người mong đợi (tôi cũng nằm trong số ấy đấy) – bữa cơm thân mật. Thật là vất vả khi đi lấy đồ ăn, nhưng mà vui lắm, phải xếp hàng như đi lĩnh gạo ấy, mọi người chen chúc xô đẩy, lúc ấy tôi chỉ muốn thoát ra vì ngột ngạt quá nhưng mà không thể vì đã bị kẹp giữa hai gọng kìm toàn người là người, đúng là tiến thoái lưỡng nan. Lấy được phần ăn của mình về thì cũng là lúc người mềm nhũn ra, ấy vậy mà vẫn đứng để ăn (vì không có chỗ ngồi mà), nhìn mọi người ăn vui vẻ, chúc nhau bia và nước ngọt ầm ĩ 1 2 3 dô, 2 3 dô, 2 3 uống tôi cũng vui theo cho dù lúc ấy cũng đang hơi buồn vì một lý do không thể nói. Ăn xong, ai ăn thì cứ tiếp tục ăn, ai ăn xong rồi thì ngồi nghỉ ngơi và nhìn người khác ăn tiếp… riêng tôi lại được anh Thọ trưởng nhóm giao cho nhiệm vụ giữ quả bóng nhóm được tặng, thế là tôi bỏ ra tâng bóng, vì tôi thích đá bóng lắm, tôi tâng giỏi lắm nha, bóng không hề bị rơi xuống đất (vì quả bóng được để trong 1 cái túi lưới và tôi thì giữ chặt đầu dây của túi).
Cho dù vừa ăn xong nhưng tôi vẫn cứ tâng bóng, các bạn có biết vì sao không, vì lúc ấy tôi buồn lắm, tôi buồn vì sắp phải xa mọi người, buồn vì sắp phải đi xe buýt (tôi sợ đi xe buýt lắm)… thế nên nếu không làm một việc gì đó thì những nỗi buồn đó sẽ làm tôi gục ngã mất (có lẽ thể trạng tôi yếu quá nhỉ).
Nhưng rồi cuộc vui nào cũng có lúc kết thúc, cuộc hội ngộ nào rồi cũng phải chia tay thôi, chúng thôi dỡ trại, dọn dẹp và ra về. Nhìn lại Nhà Thờ Thạch Bích lần nữa, nhìn lại những gương mặt mà tôi yêu mến, tôi đi thật nhanh ra ngoài vì sợ rằng chỉ cần chậm trễ một chút nữa thôi là tôi sẽ không đi nổi mất. Tiết trời lúc ấy lạnh giá hơn, mua phun nhiều hơn như muốn giữ chân chúng tôi ở lại nhưng thật buồn vì:
“Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng “mặc xác” lá rơi đầy”
Tôi phải đi xe buýt, nhóm tôi đi xe buýt cũng khá đông (tầm 12 người), lúc đầu mọi người bàn nhau là gọi taxi vì xe buýt ở đó rất đông không thể bắt được, tuy nhiên, có lẽ Chúa chưa muốn chúng tôi chia tay nhau nên Ngài lại tạo cơ hội cho chúng tôi vui vẻ bên nhau một thời gian nữa.
Vâng theo ý Chúa, chúng tôi đã quyết định đi bộ từ nhà thờ ra ngã 3 Ba La để bắt xe buýt, và cuộc hành trình cũng gian nan tựa như cảnh Môsê dẫn dân It-ra-en đi trong sa mạc bắt đầu. Chúng tôi xuất phát và bắt đầu hát, các bài hát cứ kéo dài kéo dài rồi nhỏ dần nhỏ dần và vụt tắt lúc nào không hay, mọi người đã vô cùng thấm mệt, những bước chân nặng nề đang cố lê đi trên con đường bụi mù cùng với những tiếng chào của những bạn sinh viên các nhóm khác thi thoảng lại vang lên trên xe đạp, xe buýt và cả ô tô nữa; những tiếng còi inh ỏi làm chói tai phát ra từ những chiếc xe tải to uỳnh, thi thoảng lại có một hai tiếng cổ vũ yếu ớt “cố lên các bạn ơi, sắp tới nơi rồi” của tôi. Tấm biển ghi hai chữ Hải Hà vẫn luôn được đưa lên dẫn dầu do Luân (nhóm Cầu Giấy) và tôi (Liên – Hoàng Mai) mang theo.
Chặng đường 3km quả là gian nan, thực ra chẳng phải 3km đâu, là 4km đó, vì từ lúc ở nhà thờ ra đi được gần 30 phút rồi tôi mới thấy tấm biển ghi “Ba La 3Km”. Lúc đó, uể oải lắm rùi nhưng không dám nói vì sợ mọi người sẽ nhụt chí. Phải mất gần 2 tiếng chúng tôi mới tới được chỗ bắt xe buýt và chia tay ở đó.
“Tạm biệt Hải Hà nhé” – đó là câu mà chúng tôi nói với nhau khi chia tay nhau. Và bây giờ “tạm biệt các bạn nhé” – đây là câu mà tôi nói với những ai đang đọc bài viết này vì bây giờ tôi phải tạm ngừng đây, tôi muốn viết nữa, viết nhiều lắm nhưng mà có lẽ tôi đã viết nhiều qúa rồi. Sau chuyến đi này tôi thấy yêu Hải Hà hơn rất nhiều, rất nhiều tình cảm dành cho Hải Hà nhưng mà không biết nói sao nữa.
Tôi tạm ngừng thật đây, chúc tất cả mọi người luôn “ước gì được nấy”!
![]() |
Hôm qua, vác được cái xác 50kg về tới nhà, sau khi tiến hành xong các thủ tục diễn ra hàng ngày như: nấu nướng, dọn dẹp… tôi đã ngồi định viết luôn một bài vì sợ sau một đêm cảm xúc của mình sẽ biến mất, thế nhưng vừa ngồi viết được một lúc thì đã khò khò tới tận 10h sáng.
Tôi vốn là một người bị say xe trầm trọng, thế nên khi nghe nói phải đi xe buýt để tới nhà thờ Thạch Bích – nơi tổ chức ngày Đại hội truyền thống của SVTGP Hà Nội, tôi định không đi. Tuy nhiên, có một động lực nào đó đã thúc đẩy làm cho bước chân của tôi cứ tiến mà không thể dừng được.
Thật may mắn, tôi được anh Thọ trưởng nhóm Hải Hà cho đi nhờ xe máy. Mặc dù đi xe máy nhưng cũng gian nan vất vả lắm, phải ôm một thùng bánh mì cay (đặc sản Hải Phòng quê tôi đó) to chưa từng thấy, ngồi mà cảm giác như có thể bay khỏi xe bất cứ lúc nào ấy, thế nên cho dù là “thiên tài về ngủ gật” nhưng cả một chặng đường khá dài từ Định Công tới Thạch Bích tôi không hề chợp mắt “trộm” được lúc nào cả.
Được cái có thùng bánh mì che chắn nên gió không xuyên “qua miền tối sáng” được. Tới Thạch Bích thì đôi chân của tôi cũng đã rụng rời nhưng không khí náo nhiệt ở đó đã làm tôi quên hết mệt mỏi, và trong lòng cứ bồi hồi xao xuyến như người đang yêu vậy. Nhìn tất cả mọi người ai ai cũng tất bật với công việc được giao của mình nhưng khuôn mặt họ luôn ánh lên niềm vui và hạnh phúc.
Các trại của 21 nhóm đã được dựng xong, trại nào cũng có những nét đẹp riêng, trại của Hải Hà mình thì gam màu chủ đạo là màu xanh tượng trưng cho màu của nước biển cũng như màu xanh của núi. Lúc chiều tôi và Quân được cử đi mua hoa và than củi cho nhóm. Công việc này cũng gian nan lắm, hai chị em phải lên tận ngã ba Ba La mới mua được hoa đẹp và than củi chính hãng.
Lúc về thì hai chị em tôi gặp phải một chút rắc rối trên đường. Khi đi tới khu công nghiệp Thanh Oai thì có lẽ do nhìn từ xa thấy tôi “xinh” quá hay sao mà 5 anh “áo xanh tình nguyện” ấy chết nhầm, 5 anh công an giao thông “cả vàng cả xanh” ra tận giữa đường “đón tiếp” tôi và Quân vào để xin chữ ký với lý do là “không cười với các anh từ xa”.
Mặc dù năn nỉ mãi nhưng cuối cùng phải nhờ tới sự trợ giúp thứ ba là GỌI ĐIỆN THOẠI CHO NGƯỜI THÂN, ấy vậy mà các anh ấy vẫn “tống tiền” với giá 150.000đ mới buông tha đó. Hic, đúng là “xinh” quá cũng khổ thật. Biết vậy mình bảo Quân dùng “nam nhân kế” là xong. Các bạn có biết cảm xúc lúc ấy như thế nào không? Mình vừa lo vừa bực, lại có phần vui nữa. Lo vì được nhóm tin tưởng giao cho nhiệm vụ đó mà lại đi quá lâu, bực vì tốn bao nhiêu lời hay ý đẹp mà các anh vẫn trơ như đá, vui vì cũng nhờ vụ đó mà quen được một đôi SVCG Vinh (cũng vào hoàn cảnh tương tự như của mình). Đến lúc về rồi do mải xả những cảm xúc buồn vui lẫn lộn đó mà hai chúng tôi đi lạc lên trên tận gần 10km nữa. Đúng thật là khổ.
Về tới trại thì cũng đã tới giờ ăn tối với món ăn mà tôi rất thích – xôi gấc. Mọi người ai cũng đói nên ăn rất nhiệt tình, mấy thúng đựng xôi cứ hết vèo vèo, nhưng hết lại có, xôi thì vẫn không bao giờ hết, điều đó làm tôi liên tưởng tới phép lạ hóa bánh ra nhiều mà Chúa Giê-su đã làm cho dân chúng, tất cả mọi người trong nhóm Hải Hà đều được ăn no nê, số còn lại chất được… “nửa già thúng”. Đúng là Chúa luôn đồng hành cùng chúng ta.
Sau khi ăn tối xong là chương trình văn nghệ của các đội sinh viên, tôi thì không được xem các tiết mục đầy đủ được vì phải làm chân “cò mồi” – nhân viên marketing cho hàng bán bánh mì cay của nhóm. Đội quân bán hàng rất đông đảo, anh Dũng (Thanh Xuân) làm đầu bếp chính, cậu ấy nướng bánh mì cực khéo các bạn ạ, mùi bánh mì nướng hấp dẫn vô cùng khiến cho mũi của mọi người cứ nhảy nhót mãi trên những khuôn mặt đáng yêu. Bên cạnh anh đầu bếp khéo tay hay làm là chị Lan, với nụ cười tươi tắn luôn nở trên môi, đôi bàn tay nhỏ nhắn thoăn thoắt của chị cứ liên tục gói bánh mì để giao cho khách. Tôi và Hướng (Hoàng Mai) – hai cô gái đẹp như “tiên giáng …” (không biết là giáng trần hay gì nữa) thì làm chân rao bán, hai cái miệng nhỏ xinh xắn cứ hoạt động không ngừng nghỉ: “bánh mì cay đặc sản nổi tiếng của Hải Phòng đây”, “bánh mì cay Hải Phòng 3 ngàn một ổ, đặc biệt thơm ngon”… mỗi người hai tay hai ổ bánh mì cứ chạy đi chạy lại mời khách “nhìn” rùi kéo vào chỗ nướng bánh cho họ “ngửi” mùi vị thơm ngon của bánh và thuyết phục họ mua, đặc biệt là các anh con trai thì được chúng tôi “lôi” vào rất nhiệt tình.
Đồng hành cùng gian hàng bán bánh mì là đội cổ động của Hải Hà cứ thi thoảng lại có những bài đồng diễn, nhảy nhót theo điệu nhạc trên sân khấu để tạo ra không khí ấm áp xua tan cái giá lạnh đang cố tình thâm nhập vào mỗi người. Trời thi thoảng lại mua lun phun, tuy nhiên không thể làm giảm niềm hăng say bán hàng của chúng tôi được, tất cả mọi người từ cụ già tới người lớn, trẻ em, thanh niên mọi lứa tuổi rồi đến cả các Thầy Dòng cũng đều bị thu hút bởi mùi bánh mì nướng hấp dẫn.
Đối diện với gian hàng bánh mì là gian hàng mây tre đan với đủ các mẫu mã kiểu dáng trông rất bắt mắt, đặc biệt là đội ngũ bán hàng cũng rất chuyên nghiệp – chị Thức (Hoàng Mai), anh Phúc (Thanh Xuân) và rất nhiều người khác nữa… đã tạo nên một lực lớn để thu hút mọi người đến mua hàng.
Bên cạnh đó, các nhóm khác cũng mở những gian hàng không kém phần long trọng: nhóm Vinh – bán bánh giò và cà phê, nhóm Hà Nam – cà phê với không gian rất lãng mạn, rồi có nhóm bán bánh khoai, ngô luộc. Hàng xóm của Hải Hà – nhóm Công Nghiệp thì tổ chức chơi trò chơi cõng nhau vượt chướng ngại vật với điều kiện người cõng phải bị bịt mắt…(tôi và một em nhỏ cũng tham gia trò chơi đó và tất nhiên là… thua), cùng với các hoạt động đó là chương trình văn nghệ sôi nổi và không kém phần thú vị trên sân khấu vẫn thu hút được nhiều khán giả.
Tất cả tạo nên một không khí sôi động, lòng tôi cũng rạo rực khi được hòa mình vào không gian ấy. Kết thúc chương trình văn nghệ mà phần bánh mì cay của bọn tui mới vơi đi được có nửa già, thế là hai “lôi kéo viên” – tôi và Hướng lại làm việc hết công suất, mời miệng không được thì bắt đầu “lôi” khách vào và quây để khách được mời phải mua thì thôi, khách mà là con gái thì sẽ “được” các hoàng tử của Hải Hà vây xung quanh và hô lớn tiếng “mua đi, mua đi…”, khi khách đồng ý mua rồi thì lại hô “trả tiền đi, trả tiền đi…”, cũng may là khi khách đã mua xong mọi người không hô “đi đi, đi đi,,,” đấy chứ không thì chắc họ không dám quay lại mất. Với những khách hàng là con trai thì lại được các cô gái Hải Hà xinh xắn, dễ thương “chăm sóc” rất nhiệt tình. Nhờ đó mà bánh mì cứ ngày một cạn dần cạn dần và khi chỉ còn có một bịch nữa thì mọi người quyết định là không bán nữa vì sức chưa cạn nhưng than đã gần tàn, còn một ít than để dành để gần đêm nướng cho mọi người trong nhóm ăn để lấy sức còn đi giao lưu với các trại khác nữa.
Khi đã gần khuya, tôi vào trong trại để kiếm một chỗ an nghỉ (tạm thời thôi chứ không phải an nghỉ ngàn thu đâu đấy) nhưng hỡi ơi, chẳng còn chỗ nào để tôi nương thân nữa vì trong trại đã chật ních, mọi người ngồi ca hát, trò chuyện rất vui vẻ, lại có cả ca sĩ Gia Ân tới thăm trại của chúng tôi và hát nữa chứ. Không khí trong trại lúc ấy vui lắm, chẳng có từ nào có thể diễn tả được. Tôi lúc ấy cũng đã thấm mệt rùi nhưng vẫn hát như chưa bao giờ được hát vậy.
Trong trại của chúng tôi có một người bị khiếm thị, người đó làm tôi cảm phục lắm, vì mặc dù không nhìn được nhưng anh ấy vẫn không quản đường xa để đến chia tham gia cùng mọi người, nụ cười của anh rất ít khi xuất hiện trên khuôn mặt thoáng buồn, ấy vậy mà nhiều khi anh vẫn cười để làm cho không khí trong trại thêm vui hơn.
Sau khi ca sĩ Gia Ân chia tay nhóm, chúng tôi ăn bánh mì cay, có nhiều nhóm sinh viên công giáo khác cũng đến giao lưu với trại của chúng tôi, rồi sau đó cũng là lúc mọi người (kẻ nằm thẳng, người nằm co, người ngồi gục mặt vào đầu gối…) và thoang thảng đâu đó đã có tiếng khò khò. Mọi người đã buồn ngủ rùi, tôi cũng thế, buồn ngủ nhưng không tìm được chỗ nào, thế là đành nằm ngay phía ngoài, cái lạnh kéo đến, tiếng nói chuyện trong trại đã vắng dần nhưng tiếng nhạc bên ngoài vẫn không dứt. Anh Luyện – Phó nhóm đã thể hiện là một người rất quan tâm và lo lắng cho “dân”, anh đã lấy chiếc bàn để chắn ngoài cửa trại để gió không lùa vào làm mọi người thêm lạnh, rồi anh ngồi đó trông cho mọi người ngủ, khuôn mặt lộ rõ vẻ mệt mỏi nhưng anh không lúc nào ngủ gật, đôi mắt vẫn mở to, có khi nhìn xa xăm như đang nghĩ về một chuyện gì đó, tôi nằm ngay ngoài nên thi thoảng “ti hí” xem anh làm gì, cũng tại trời lạnh quá nên không ngủ được.
Có nhiều trại khác cũng sang giao lưu nhưng đều bị anh Luyện từ chối với lý do muốn để mọi người trong trại được nghỉ ngơi. Quả thật là một phó nhóm tuyệt vời! Tôi nằm ngoài lạnh quá không chịu được, cuối cùng anh Luyện lại phải đích thân đi tìm chỗ ngủ cho bọn tôi. Ba giờ sáng chúng tôi mới đến được ngôi nhà mà nhóm được nhận để ngủ qua đêm, mọi người đã ngon giấc hết rồi, tôi và mấy người nữa dễ dàng tìm được một chỗ ngủ cho riêng mình, nhưng mà thật khó để ngủ vì những chỗ đó rất gần cửa (cửa thì bị hở gần một nửa), lại không có chăn đắp nên tôi còn lạnh hơn khi nằm ngoài trại nữa.
Sáng dậy, sau khi đánh răng rửa mặt, tôi và mọi người lại quay trở về nhà thờ, đi đường mà mắt cứ díu lại vì buồn ngủ. Buổi sáng, mọi người tham gia trò chơi do Ban Điều hành tổ chức, đây là trò chơi “giải mật thư”, mỗi đội sẽ được bốc thăm mật thư và phải giải được bức mật thư đó, sau đó sẽ đi theo các chỉ dẫn trên đường đi để tới đích. Đội nào tới đích sớm sẽ được ăn sáng trước tiên.
Sau khi nhận được mật thư do anh Quang bốc được, chị Nga và chị Thức (Hoàng Mai) cùng mọi người đã nhanh chóng lên đường, nhưng do quá vui vì sắp được ăn sáng thế nên cả đội đã xuất phát sai, vì thế sau một hồi đi, chạy, gặp cả thử thách, rồi bị ném nước mà nhóm vẫn không tới được đích, thế là đành ngồi “ngâm cứu” lại và quay trở lại nơi xuất phát. Mãi sau đó mới tìm được hướng đi đúng nhưng lúc này tốc độ di chuyển không còn được như trước nữa, mặc dù vậy ai cũng vẫn vui vẻ và cố gắng cười để động viên nhau “cố lên”.
Và những nỗ lực của bọn tôi đã được đền đáp, căn nhà có chữ “i” – đích đến của chúng tôi đã xuất hiện, mọi người tập trung ở cổng cùng hát vang bài hát (tôi không nhớ tên là gì) để tặng chủ nhà thân thiện của chúng tôi. Sau khi ăn sáng xong, Hải Hà lại quay về Nhà Truyền Thống của Nhà Thờ, rồi trở về trại nghỉ ngơi một lúc và tiếp tục cuộc vui chơi theo những chỉ dẫn trên đường đi để ra tới cánh đồng thơ mộng đầy “rạ”, nơi đây chúng tôi được các anh chị linh hoạt viên tổ chức cho chơi trò chơi “đua thuyền” rất sôi động. Nhưng lúc này mọi người đã mệt lắm rồi nên chẳng thể chèo nổi nữa, khi tới đích thì cũng là lúc sức lực gần như cạn kiệt và mọi người quay trở về trại nghỉ ngơi và chuẩn bị dự lễ.
Sau thánh lễ là phần được khá nhiều người mong đợi (tôi cũng nằm trong số ấy đấy) – bữa cơm thân mật. Thật là vất vả khi đi lấy đồ ăn, nhưng mà vui lắm, phải xếp hàng như đi lĩnh gạo ấy, mọi người chen chúc xô đẩy, lúc ấy tôi chỉ muốn thoát ra vì ngột ngạt quá nhưng mà không thể vì đã bị kẹp giữa hai gọng kìm toàn người là người, đúng là tiến thoái lưỡng nan. Lấy được phần ăn của mình về thì cũng là lúc người mềm nhũn ra, ấy vậy mà vẫn đứng để ăn (vì không có chỗ ngồi mà), nhìn mọi người ăn vui vẻ, chúc nhau bia và nước ngọt ầm ĩ 1 2 3 dô, 2 3 dô, 2 3 uống tôi cũng vui theo cho dù lúc ấy cũng đang hơi buồn vì một lý do không thể nói. Ăn xong, ai ăn thì cứ tiếp tục ăn, ai ăn xong rồi thì ngồi nghỉ ngơi và nhìn người khác ăn tiếp… riêng tôi lại được anh Thọ trưởng nhóm giao cho nhiệm vụ giữ quả bóng nhóm được tặng, thế là tôi bỏ ra tâng bóng, vì tôi thích đá bóng lắm, tôi tâng giỏi lắm nha, bóng không hề bị rơi xuống đất (vì quả bóng được để trong 1 cái túi lưới và tôi thì giữ chặt đầu dây của túi).
Cho dù vừa ăn xong nhưng tôi vẫn cứ tâng bóng, các bạn có biết vì sao không, vì lúc ấy tôi buồn lắm, tôi buồn vì sắp phải xa mọi người, buồn vì sắp phải đi xe buýt (tôi sợ đi xe buýt lắm)… thế nên nếu không làm một việc gì đó thì những nỗi buồn đó sẽ làm tôi gục ngã mất (có lẽ thể trạng tôi yếu quá nhỉ).
Nhưng rồi cuộc vui nào cũng có lúc kết thúc, cuộc hội ngộ nào rồi cũng phải chia tay thôi, chúng thôi dỡ trại, dọn dẹp và ra về. Nhìn lại Nhà Thờ Thạch Bích lần nữa, nhìn lại những gương mặt mà tôi yêu mến, tôi đi thật nhanh ra ngoài vì sợ rằng chỉ cần chậm trễ một chút nữa thôi là tôi sẽ không đi nổi mất. Tiết trời lúc ấy lạnh giá hơn, mua phun nhiều hơn như muốn giữ chân chúng tôi ở lại nhưng thật buồn vì:
“Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng “mặc xác” lá rơi đầy”
Tôi phải đi xe buýt, nhóm tôi đi xe buýt cũng khá đông (tầm 12 người), lúc đầu mọi người bàn nhau là gọi taxi vì xe buýt ở đó rất đông không thể bắt được, tuy nhiên, có lẽ Chúa chưa muốn chúng tôi chia tay nhau nên Ngài lại tạo cơ hội cho chúng tôi vui vẻ bên nhau một thời gian nữa.
Vâng theo ý Chúa, chúng tôi đã quyết định đi bộ từ nhà thờ ra ngã 3 Ba La để bắt xe buýt, và cuộc hành trình cũng gian nan tựa như cảnh Môsê dẫn dân It-ra-en đi trong sa mạc bắt đầu. Chúng tôi xuất phát và bắt đầu hát, các bài hát cứ kéo dài kéo dài rồi nhỏ dần nhỏ dần và vụt tắt lúc nào không hay, mọi người đã vô cùng thấm mệt, những bước chân nặng nề đang cố lê đi trên con đường bụi mù cùng với những tiếng chào của những bạn sinh viên các nhóm khác thi thoảng lại vang lên trên xe đạp, xe buýt và cả ô tô nữa; những tiếng còi inh ỏi làm chói tai phát ra từ những chiếc xe tải to uỳnh, thi thoảng lại có một hai tiếng cổ vũ yếu ớt “cố lên các bạn ơi, sắp tới nơi rồi” của tôi. Tấm biển ghi hai chữ Hải Hà vẫn luôn được đưa lên dẫn dầu do Luân (nhóm Cầu Giấy) và tôi (Liên – Hoàng Mai) mang theo.
Chặng đường 3km quả là gian nan, thực ra chẳng phải 3km đâu, là 4km đó, vì từ lúc ở nhà thờ ra đi được gần 30 phút rồi tôi mới thấy tấm biển ghi “Ba La 3Km”. Lúc đó, uể oải lắm rùi nhưng không dám nói vì sợ mọi người sẽ nhụt chí. Phải mất gần 2 tiếng chúng tôi mới tới được chỗ bắt xe buýt và chia tay ở đó.
“Tạm biệt Hải Hà nhé” – đó là câu mà chúng tôi nói với nhau khi chia tay nhau. Và bây giờ “tạm biệt các bạn nhé” – đây là câu mà tôi nói với những ai đang đọc bài viết này vì bây giờ tôi phải tạm ngừng đây, tôi muốn viết nữa, viết nhiều lắm nhưng mà có lẽ tôi đã viết nhiều qúa rồi. Sau chuyến đi này tôi thấy yêu Hải Hà hơn rất nhiều, rất nhiều tình cảm dành cho Hải Hà nhưng mà không biết nói sao nữa.
Tôi tạm ngừng thật đây, chúc tất cả mọi người luôn “ước gì được nấy”!
