Top StoriesChọn ngày khác
Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam tại Nhà Nguyện Thánh Mary Mackillop ở Sydney
CĐCGVN Sydney26/11/2014
SYDNEY - Sáng thứ Hai 24/11/2014 các Cha Tuyên uý Cộng Đồng Công Giáo VN Sydney cùng với anh chị em thuộc Liên Ca Đoàn Lê Bảo Tịnh cùng một số giáo dân đã đến dâng Lễ mừng kính các thánh tử Đạo Việt Nam tại nhà nguyện Thánh Mary MacKillpop tại North Sydney. Đây cũng là dịp kết thúc kỷ niệm 100 năm thành lập ngôi nhà nguyện này. Chủ tế thánh lễ là Đức Tổng Giám Mục Mamberty, Cựu Bộ trưởng Ngoại Giao Toà Thánh và hiện nay Ngài vừa mới được ĐTC Phanxicô bổ nhiệm là Tân Chánh án Toà ân giải tối cao của Giáo Hội, cùng đồng tế là Đức Tổng Giám Mục Gallagher, Tân Bộ trưởng Ngoại giao Tòa Thánh.

Trong bài giảng Đức Mamberty đã ca ngợi sự hy sinh của các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Sự hy sinh này đã gieo vào lòng người giáo dân Việt Nam một lòng tin vững mạnh và một tinh thần truyền giáo kiên trì, được biểu lộ qua việc giữ đạo của họ tại bất cứ quốc gia nào họ đang định cư.
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Chủ Tịch Nghị Viện Châu Âu bày tỏ lòng biết ơn ĐTC
Lm. Giuse Vũ Tiến Tặng26/11/2014
« Cám ơn Đức Thánh Cha đã chỉ cho thấy những định hướng trong thời điểm mất định hướng ». Đó là lời cám ơn trong diễn văn đáp từ Chủ Tịch Nghị Viện Châu Âu, Ông Martin Schulz, ngay sau bài phát biểu của Đức Thánh Cha trước các thành viên nghị viện trong cuộc họp trọng thể được diễn ra vào ngày hôm qua, Thứ Ba, 25/11/2014.

Ông Schulz cũng muốn đảm bảo với Đức Thánh Cha về mục tiêu theo đuổi những nhiệm vụ chung trong tình liên đới và cùng nhau thực hiện để tạo nên sức mạnh chung của Nghị Viện Châu Âu. Chủ Tịch Nghị Viện gọi đó là « văn hóa các giá trị » được đặt làm nền tảng để xây dựng Liên Hiệp Châu âu trong sự hợp nhất.

Ngài Chủ Tịch Nghị Viện cũng nhắc lại câu chuyện lịch sử về dòng họ Bergolio của gia đình Đức Thánh Cha trong việc rời đất nước Italia để đến định cư bên Châu Mỹ tại nước Argentina để rồi bây giờ Đức Thánh Cha lại có ngày trở về trong lòng Châu Âu. Theo Ông Schulz, đây là một lợi thế giúp cho người dân Châu Âu trong việc đổi mới và cải tổ.

Ông cũng không quên cảm ơn Đức Thánh Cha đã nhận lời mời thăm viếng Nghị Viện, đồng thời cho đây là một « niềm vinh hạnh khi được nghe những lời của Đức Thánh Cha ». Đặc biệt, ngài Chủ Tịch Nghị viện bày tỏ sự ủng hộ của Nghị Viện đối với con đường vạch ra của Đức Thánh Cha.

Tưởng cũng nên nhắc lại rằng sau bài diễn văn của Đức Thánh Cha đã được nhiệt liệt chào đón bằng những tràng pháo tay dài trong nhiều phút. Đức Thánh Cha rời Nghị Viện Châu Âu cũng trong tiếng vỗ tay không ngớt và tất cả cùng đứng lên để tiễn ngài.
Chuyến thăm Nghị viện và Hội Đồng Châu Âu của ĐTC Phanxicô
Lm. Giuse Vũ Tiến Tặng26/11/2014
Đức Thánh Cha Phanxicô đã có cuộc viếng thăm Nghị Viện và Hội Đồng Châu Âu có trụ sở tại thành phố Strasbourg, Pháp vào ngày hôm qua, Thứ Ba, 25/11/2014.

Đây là vị giáo hoàng thứ hai đến thăm hai tổ chức lớn bậc nhất của khối Châu Âu. Trong phái đoàn của Đức Thánh Cha Phanxicô còn có Đức Hồng Y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh ; Đức TGM phụ tá Angelo Becciu ; cha Federico Lombardi, SJ, Giám Đốc Phòng Báo Chí Tòa Thánh.

Ngay sau khi Đức Thánh Cha đặt chân xuống phi trường Strasbourg lúc 10 giờ sáng, các đại diện của cả hai phía giáo quyền và chính quyền địa phương đều có mặt để đón tiếp ngài. Về phía giáo quyền, có Đức Hồng Y Chủ Tịch Ủy Ban Giám Mục Liên Hiệp Châu Âu và Đức Hồng Y Chủ Tịch Liên Hiệp HĐGM Châu Âu.

Ngay sau khi đến trụ sở Nghị Viện Châu Âu, trước tiên Đức Thánh Cha được các đại diện của các nhóm chính trị trong Nghị Viện đón tiếp, tiếp theo ngài có cuộc hội kiến riêng với Chủ Tịch Nghị Viện, Ông Martin Schulz, sau đó mới có cuộc gặp mặt chung với các thành viên và có bài diễn văn trong phiên họp trọng thể.

Bài diễn văn của Đức Thánh Cha đặc biệt nhấn mạnh đến phẩm giá con người, đồng thời lên tiếng chống lại các loại tội phạm buôn bán người, sát hại dã man cá nhân hay cộng đoàn như chặt đầu, thiêu sống, đóng đinh…Ngoài ra, Đức Thánh Cha cũng đề cập đến vấn đề di dân và môi trường. Đặc biệt, ngài khơi lại cội rễ Kitô giáo của Châu Âu : « Một Âu Châu không còn khả năng cởi mở đối với chiều kích siêu việt của sự sống là một Âu Châu dần dần bị nguy cơ đánh mất tinh thần nhân bản, mất đi vị trí trung tâm của con người ».

Sau khi gặp gỡ các thành viên Nghị Viện Châu Âu, Đức Thánh Cha sang trụ sở Hội Đồng Châu Âu nằm kế bên. Tại đây, ngài được Tổng Thư Ký, ông Thorbjorn Jagland, và giới hữu trách của Hội Đồng Châu Âu đón tiếp.

Sau bài diễn văn chào mừng của chủ nhà, đáp từ của Đức Thánh Cha trong đó ca ngợi vai trò xây dựng hòa bình và nỗ lực trong việc thăng tiến con người của Hội Đồng Châu Âu. Đồng thời ngài cũng lên án nạn buôn người và khủng bố. Đặc biệt, Đức Thánh Cha bày tỏ thiện chí hợp tác của Giáo Hội với Hội Đồng Châu Âu trong lãnh vực đạo đức học Kitô giáo, bảo vệ quyền con người, y học và luật pháp thông qua Liên Hiệp HĐGM Châu Âu.

Buổi chiều cùng ngày, Đức Thánh Cha đáp máy bay để trở về Roma, khép lại chuyến viếng thăm ngắn chưa đầy 4 giờ đồng hồ.
Đức Thánh Cha tiếp kiến chung 15 ngàn tín hữu hành hương: 26-11-2014
LM. Trần Đức Anh OP26/11/2014
VATICAN. Trong buổi tiếp kiến chung các tín hữu hành hương sáng thứ tư, 26-11-2014, ĐTC đã quảng diễn ý nghĩa ngày tận thế.

Tuy trời mưa nhưng cũng đã có khoảng 15 ngàn tín hữu hành hương từ các nước đến tham dự cuộc tiếp kiến ngoài trời của ĐTC Phanxicô tại Quảng trường thánh Phêrô.

ĐTC tiến vào quảng trường lúc 9 giờ 45 trên chiếc xe díp màu trắng có mái che mưa để chào thăm các tín hữu, ôm hôn và chúc lành cho các em bé được nhân viên an ninh bế đưa lên ngài.

Lên tới lễ đài ở thềm Đền thờ, ĐTC khởi sự buổi tiếp kiến với dấu Thánh giá và lời chào phụng vụ. Và sau phần tôn vinh lời Chúa với bài đọc ngắn bằng 5 thứ tiếng, trích từ thư thánh Phaolo gửi tín hữu Roma nói về viễn tượng tận thế, vũ trụ này sẽ được biến đổi, ĐTC đã tiếp tục loạt bài huấn giáo về Giáo Hội, và ngài nói về Giáo Hội lữ hành hướng về quê trời:

Huấn dụ của ĐTC

”Anh chị em thân mến, chào anh chị em! Hôm nay trời hơi xấu, nhưng anh chị em thật can đảm. Tôi ca ngợi anh chị em. Chúng ta hy vọng có thể cùng nhau cầu nguyện hôm nay.

Khi trình bày Giáo Hội cho con người thời nay, Công đồng chung Vatican 2 ý thức rõ một chân lý cơ bản không bao giờ được quên, đó là: Giáo Hội không phải là một thực tại tĩnh, đứng im, mục tiêu cho chính mình, nhưng Giáo Hội liên tục tiến bước trong lịch sử, hướng về mục tiêu tối hậu và tuyệt vời là Nước Trời, và Giáo Hội ngay tại trần thế này là mầm mống và là khởi đầu của Nước ấy (Xc LG 5). Khi hướng về chân trời đó, chúng ta nhận thấy trí tưởng tượng của chúng ta khựng lại, chỉ có thể trực giác được phần nào sự huy hoàng của mầu nhiệm vượt lên trên giác quan của chúng ta. Và tự nhiên nổi lên trong chúng ta một số câu hỏi: khi nào thì giai đoạn chót sẽ đến? Chiều kích mới mà Giáo Hội sẽ bước vào như thế nào? Nhân loại lúc ấy ra sao? và thiên nhiên bao quanh chúng ta sẽ thế nào? Những câu hỏi này không mới mẻ gì, các môn đệ của Chúa Giêsu thời ấy cũng đã nêu lên: ”Khi nào thì điều ấy sẽ xảy ra?”.. Khi nào thì Thần Trí chiến thắng thiên nhiên, trên công trình tạo dựng, trên mọi sự..? Đó là những câu hỏi của con người, những câu hỏi đã có từ xưa, và cả chúng ta cũng đặt những câu hỏi như vậy.

1. Hiến chế Vui Mừng và Hy vọng của Công đồng chung Vatican 2, đứng trước những vấn nạn vẫn vang vọng trong tâm hồn con người như thế, đã khẳng định rằng: ”Chúng ta không biết khi nào sẽ đến ngày tận thế và chúng ta không biết cách thức vũ trụ sẽ biến đổi ra sao. Chắc chắn diện mạo của thế giới này qua đi, bị biến dạng vì tội lỗi. Nhưng do mạc khải, chúng ta biết rằng Thiên Chúa chuẩn bị một nơi ở mới và đất mới, trong đó có công lý ngự trị, và hạnh phúc sẽ làm mãn nguyện hoàn toàn mọi ước muốn an bình từ tâm hồn con người” (n.39). Và thế là mục đích mà Giáo Hội hướng tới chính là ”thành Jerusalem mới”, là ”thiên đàng”. Đó không phải là một nơi cho bằng một ”trạng thái” trong đó những mong đợi sâu xa nhất của chúng ta sẽ thành tựu, và cuộc sống chúng ta, trong tư cách là thụ tạo và là con Thiên Chúa, sẽ đạt tới mức độ trưởng thành trọn vẹn. Sau cùng chúng ta sẽ được vinh quang, an bình và tình thương của Thiên Chúa hoàn toàn, không còn chịu giới hạn nào và chúng ta sẽ được diện đối diện với Chúa! (Xc 1 Cr 13,12).

2. Trong viễn tượng này, thật là đẹp khi nhận thấy có sự nối tiếp và hiệp thông sâu xa giữa Giáo Hội thiên quốc và Giáo Hội lữ hành trên mặt đất. Những người đang sống trước nhan Thiên Chúa có thể nâng đỡ và chuyển cầu cho chúng ta, cầu nguyện cho chúng ta. Đàng khác, cả chúng ta cũng luôn được mời gọi dâng những công việc lành, kinh nguyện và Thánh Lễ để xoa dịu sầu muộn của các linh hồn con đang chờ đợi hạnh phúc vô biên. Đúng vậy, vì trong nhãn giới Kitô giáo, không còn phân biệt giữa những người đã chết và những người còn sống, nhưng là giữa người ở trong Chúa Kitô và những người không ở trong Ngài! Đó chính là yếu tố chủ yếu, có tính chất quyết định đối với phần rỗi và hạnh phúc của chúng ta.

3. Đồng thời Kinh Thánh dạy chúng ta rằng sự hoàn thành ý định tuyệt vời này không thể không liên hệ tới tất cả những gì quanh chúng ta và xuất phát từ tư tưởng và tâm hồn của Thiên Chúa. Thánh Phaolô tông đồ khẳng định rõ ràng điều đó khi ngài nói rằng ”cả thụ tạo cũng sẽ được giải thoát khỏi tình trạng nô lệ sự hư nát, để bước vào trong tự do của vinh quang con cái Thiên Chúa” (Rm 8,21). Các văn bản khác sử dụng hình ảnh ”trời mới” và ”đất mới” (Xc 2 Pr 3,13), Kh 21,1), theo nghĩa toàn thể vũ trụ sẽ được đổi mới và sẽ được giải thoát một lần cho tất cả khỏi mọi vết tích sự ác và cả sự chết. Điều được nhắm tới giống như hoàn thành một sự biến đổi đã khởi sự, trong thực tế, từ cái chết và sự sống lại của Chúa Ktiô, và vì thế đó là một sự tạo dựng mới; đó không phải là một sự tiêu diệt vũ trụ và tất cả những gì bao quanh, nhưng là đưa mọi sự đến mức độ viên mãn, đến chân lý và vẻ đẹp. Đó là ý định của Thiên Chúa, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, từ đời đời muốn thực hiện và đang thực hiện”.

Và ĐTC kết luận rằng:
”Các bạn thân mến, khi nghĩ đến những thực tại tuyệt vời đang chờ đợi chúng ta, chúng ta thấy rằng được thuộc về Giáo Hội quả là một hồng ân tuyệt vời, mang theo ơn gọi cao cả nhất của chúng ta! Vậy chúng ta hãy cầu xin Đức Trinh Nữ Maria Mẹ Giáo Hội, luôn canh chừng hành trình của chúng ta và giúp chúng ta, giống như Mẹ, trở thành dấu chỉ vui mừng tín thác và hy vọng giữa anh chị em chúng ta”.

Chào thăm và nhắn nhủ

Sau bài giáo lý bằng tiếng Ý, các LM và giám chức của Tòa Thánh đã tóm tắt bài này bằng các sinh ngữ khác nhau cũng như dịch những lời ĐTC chào các tín hữu hành hương cùng với những lời nhắn nhủ của ngài.

Với các tín hữu nói tiếng Pháp, ĐTC nói ”trong lúc năm phụng vụ sắp kết thúc, tôi mời gọi anh chị em hãy suy tư về thực tại lạ lùng của đời sống vĩnh cửu mà chúng ta được mời gọi tiến về và chúng ta hãy xin Mẹ Maria trợ giúp để bước vào đời sống ấy.”

Khi chào các tín hữu hành hương nói tiếng Arập, ngài đặc biệt nhắc đến các tín hữu đến từ Irak và Trung Đông, và nói rằng: ”Bạo lực, đau khổ và tội lỗi nặng nề phải đưa chúng ta đến chỗ đặt tất cả mọi sự trong công lý của Thiên Chúa, Chúa sẽ phán xét mỗi người theo công việc của họ. Anh chị em hãy kiên cường và gắn bó với Giáo Hội và niềm tin của anh chị em đến độ thanh tẩy thế giới bằng niềm tín thác của anh chị em; hãy biến đổi thế giới bằng niềm hy vọng của anh chị em và chăm sóc thế giới bằng chứng tá tha thứ, yêu thương và kiên nhẫn của anh chị em! Xin Chúa bảo vệ và nâng đỡ anh chị em!

Sau cùng bằng tiếng Ý, ĐTC nói với mọi người rằng: ”Như anh chị em biết, từ thứ sáu này đến Chúa Nhật tới đây, tôi sẽ thực hiện cuộc tông du tại Thổ Nhĩ Kỳ. Tôi mời gọi tất cả hãy cầu nguyện để cuộc viếng thăm của Phêrô nơi người anh em là Anrê mang lại nhiều thành quả an bình, cuộc đối thoại chân thành giữa các tôn giáo và sự hòa hợp trong quốc dân Thổ Nhĩ kỳ.

ĐTC cũng đặc biệt nghĩ đến các bạn trẻ, các bệnh nhân và các đôi tân hôn, và nói rằng: ”Chúa Nhật tới đây sẽ bắt đầu Mùa Vọng. Các bạn trẻ thân mến, ước gì sự chờ đợi Đấng Cứu Thế làm cho tâm hồn các bạn tràn đaầy vui mừng; các bệnh nhân thân mến, xin anh chị em đừng mỏi mệt trong việc tôn thờ Chúa Đấng đến nơi chúng ta cả trong thử thách và hỡi các đôi tân hôn thân mến, hãy học yêu thương theo gương Đấng vì yêu thương đã nhập thể để cứu độ chúng ta”.
Tôn giáo và tương quan quốc tế
Linh Tiến Khải26/11/2014
Phỏng vấn ông Pasquale Ferrara, tác giả cuốn sách ”Các tôn giáo và các tương quan quốc tế, sách bản đồ thần học chính trị”

Kể từ khi các lực lượng thánh chiến của Nhà nước hồi ISIS chiếm đóng thành Mossoul bên Irak hồi tháng 8 năm 2014, đã có hàng trằm ngàn kitô hữu bị đuổi khỏi gia cư của họ. Nhà nước hồi đưa ra cho họ bốn lựa chọn: một là bị chặt đầu, hai là theo Hồi giáo, ba là muốn ở lại thì phải trả thuế tôn giáo, bốn là phải ra đi.

Vì không muốn mất đức tin kitô nên chỉ nội trong một sớm một chiều hàng chục ngàn tín hữu kitô đã bị tước đoạt hết mọi sự: nhà cửa, đất đai, gia tài sản nghiệp, tiền bạc, tất cả, và đang đêm phải ra khỏi nhà chỉ vỏn vẹn với bộ quần áo trên người. Phụ nữ, người già, người bệnh trẻ em phải bồng bế nhau lang thang vất vưởng tìm đến những làng mạc và thành phố chưa rơi vào tay quân hồi cuồng tín. Bên cạnh hàng chục ngàn kitô hữu cũng có hàng ngàn tín hữu hồi Yazidi và các nhóm khác không thuộc cùng hệ phái với những lực lượng nói trên.

Chỉ vài tuần sau các kitô hữu bên Siria cũng phải chịu cùng số phận bị các lực lượng thánh chiến hồi bách hại như thế, khiến cho hàng trăm ngàn người đa số là phụ nữ, người già, người bệnh và trẻ em phải bồng bế nhau hướng về biên giới Thổ Nhĩ Kỳ để lánh nạn. Ban đầu chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ mở rộng cửa biên giới tiếp nhận họ, nhưng khi thấy con số qúa đông, họ lại ra lệnh đóng cửa biên giới, khiến cho hàng chục ngàn người khác bị kẹt lại bên Siria trong các vùng đất hoang vu khô cằn, chịu cảnh màn trời chiếu đất, đói khát và thiếu thốn mọi sự.

Sau khi nhà nước Hồi thành hình bên Irak, đến lượt các lực lượng thánh chiến hồi bên Siria và lực lượng khủng bố hồi Boko Haram bên Nigeria cũng tuyên bố thành lập Califat hồi. Tuy bị cộng đồng quốc tế lên án và không nhìn nhận, nhưng các Califat hồi này đã là một thực tại sờ sờ trước mắt, và chúng dấy lên làn sóng khiến cho các lượng hồi cuồng tín tại nhiều nơi khác trên thế giới cũng muốn thành lập quốc gia hồi giáo, trong đó ngự trị luật Sharia và không có chỗ cho các tôn giáo khác, kể cả các hệ phái hồi không phải là hệ phái của giới lãnh đao và các lực lượng thánh chiến hồi này.

Riêng bên Siria ngày mùng 9-11-2014 cha Giuseppe Nazzaro, cho biết đã có ít nhất 21 thường dân bị chết và hàng trăm người khác bị thương, vì các cuộc bỏ bỏm và oanh kích của chính quyền trên thành phố Al-Bab đã rơi vào tay các lực lượng thánh chiến Jihad. Các cuộc dội bom và oanh kích của không lực liên minh quốc tế vẫn tiếp tục. Có tin cho biết lãnh tụ Califat hồi Abu Bakr al Baghdadi đã chết trong các vụ dội bom trên thành phố Mossul bên Irak. Bộ chỉ huy Hoa Kỳ đã chỉ xác nhận các cuộc dội bom chống lại hàng lãnh đạo các lưc lượng hồi Jihad, nhưng không xác nhận cái chết hay bị thương của lãnh tụ Al Baghdadi. Trong khi đó chính quyền Hoa Kỳ gia tăng sự liên lụy quân sự của mình tại Irak. Tổng thống Barack Obama đã quyết định gửi thêm 500 cố vấn quân sự huấn luyện viên nữa sang Irak, thêm vào số 1.600 người đã đến Irak trong các tuần trước đây.

Trong các ngày này tại Bologna trung bắc Italia cha Nazzaro đang phát động chiến dịch quyên góp trợ giúp dân chúng Aleppo tu sửa nhà cửa của họ bị bom đạn làm hư hại. Cha cho biết đây là một cuộc chiến mà nhân dân Siria đã và hiện nay không muốn. Nhưng họ phải gánh chịu nó và đau khổ vì bất lực không thể làm gì được. Là chủ chăn cha Nazzaro rất đau khổ nhìn đoàn chiên của mình bị thương tích và hấp hối. Cho tới năm 2011 Siria là một quốc gia phát triển, tiến bộ và phồn thịnh của vùng Trung Đông, nơi các tín hữu kitô và hồi giáo thuộc các hệ phái khác nhau chung sống trong tình huynh đệ và hòa binh; nhưng nay nó đã trở thành một thùng thuốc nổ khổng lồ, và là một đất nước tan hoang. Toàn dân đang phải chết vì đói khát và lạnh, và nếu không tỵ nạn tại nước ngoài thì là người tỵ nạn ngay trên chính quê hương mình. Tại Aleppo thực phẩm khan hiếm, không có điện nước và khí đốt, cũng không còn nước trong lành để uống, không còn tiền để mua bất cứ thứ gì.

Siria là một quốc gia có 23 triệu dân có 10% theo Kitô giáo, nhưng ngày nay chỉ số kitô hữu chỉ còn lại phân nửa và có nguy cơ biến mất. Hiện nay Giáo Hội làm tất cả những gì có thể, để trợ giúp dân chúng. Các nhà dòng trở thành các nơi phân phát thực phẩm, và cũng được nhiều tín hữu hồi trợ giúp. Đức Cha Georges Abou Khaze, Giám quản tông tòa Aleppo đã phát động một dự án nhỏ giúp tu sửa nhà cửa cho dân chúng, để giúp họ tránh cái giá lạnh mùa đông đã đến.

Sau đây chúng tôi xin gửi tới qúy vị và các bạn bài phỏng vấn ông Pasquale Ferrara, tác giả cuốn sách ”Tôn giáo và tương quan quốc tế, sách bản đồ thần học chính trị”.

Hỏi: Thưa ông Ferrara, các tôn giáo có vai trò nòng cốt trong các tương quan quốc tế không, và xem ra đôi khi chúng cũng có vai trò trong các xung đột giữa các dân tộc, có phải thế không?

Đáp: Chắc chắn rồi. Các tôn giáo có vai trò nền tảng trong các tương giao quốc tế, nhưng đôi khi chúng cũng có vai trò trong các xung khắc giữa các dân tộc. Nhưng điều đang xảy ra ngày nay rất khác biệt. Các nhà phân tích chính trị quốc tế đã nhận ra rằng hệ thống quốc tế không chỉ hoạt động dựa trên nền tảng quyền lực quân sự và quyền lực kinh tế mà thôi. Có các yếu tố nền tảng khác nữa trong tương quan giữa các nước vuột thoát khỏi cái luận lý này và trái lại chúng dựa trên các nhân tố căn tính. Đương nhiên yếu tố căn tính đầu tiên là yếu tố tôn giáo. Điểm khác biệt giữa phân tích đương thời với phân tích trong qúa khứ đó là các tôn giáo không luôn luôn và chỉ được coi như các yếu tố tiêu cực. Chẳng hạn, người ta nói rằng khi tôn giáo vào cuộc, các xung đột trở thành triệt để hơn, nhưng trên thực tế tôn giáo cũng nắm một vai trò trong việc tạo ra một thực thể tập thể toàn cầu. Như vậy, đây là lần đầu tiên người ta cũng khám phá ra rằng các tôn giáo có một vai trò nền tảng trong việc hợp thức hóa một trật tự quốc tế được tán đồng và không bị áp đặt bởi người khác, hay do vài vùng của trái đất như trong trường hợp của việc toàn cầu hóa.

Hỏi: Thưa ông, dấu diếm thật là vô ích, khi người ta nói tới các tôn giáo, các tương quan quốc tế, các xung đột, người ta nghĩ ngay tới Hồi giáo và vai trò mà nó đang có trong các năm sau này, không phải chỉ trong thế giới A rập, mà cả giữa thế giới A rập và Tây phương nữa. Ông nghĩ sao?

Đáp: Trước hết cần phải sửa lại cả từ vựng. Thường khi chúng ta dùng sự đối chiếu này giữa Hồi giáo, là một tôn giáo đại đồng và không nhất thiết phải là bắc phi hay trung đông, chẳng hạn chúng ta nghĩ tới nước Indonesia đi - nhưng ngoài chuyện này ra, một đàng chúng ta nói tới Hồi giáo, đàng khác chúng ta nghĩ tới Tây Phương. Bên trong Tây Phương có Kitô giáo chắc chắn rồi, nhưng Tây Phương cũng là một thực tại đa diện, kể cả trên bình diện các nền văn hóa. Thế rồi, câu chuyện liên quan tới liên hệ giữa tôn giáo và chiến tranh, trong trường hợp đặc biệt là Nhà nước hồi giáo, nghĩa là: các tôn giáo có phải là các động cơ của chiến tranh hay không? Và trong trường hợp của Hồi giáo cực đoan tôn giáo có phải là lý do nền tảng của sự xung đột không? Về điều này tôi có nhiều nghi ngờ, bởi vì cả trong trường hợp của Nhà nước hồi giáo Califato, chúng ta cũng thấy rằng các lực lượng đang hoạt động không dính dáng gì tới tôn giáo. Thật ra, mục tiêu không phải là tạo ra một chiều kích ”liên quốc” của Hồi giáo, nhưng là tìm kiếm một thực tại chính trị, có cả tính cách nhà nước nữa, và điều này liên quan tới quyền lực, chứ không liên quan gì tới tôn giáo.

Hỏi: Ông có thể dẫn chứng các trường hợp trong đó việc tùy thuộc các tôn giáo đã giúp tái xây dựng hòa bình không?

Đáp: Chắc chắn rồi, các tôn giáo đã nắm giữ một vai trò nền tảng trong vài cuộc xung đột trong các quốc gia, tuy nhiên chúng ta phải đồng ý với nhau điều này: đó là chúng ta không thể yêu sách các tôn giáo giải quyết các xung đột. Chính trị phải giải quyết các xung đột. Điều nền tảng là lắng nghe tiếng nói của các tôn giáo, khi chúng hướng tới một luận lý hiệp thông chứ không phải luận lý xung đột.

Hỏi: Các tôn giáo có thể làm gì nhiều hơn để ảnh hưởng một cách tích cực trên các tương quan giữa các dân tộc và các chính quyền không thưa ông?

Đáp: Theo tôi, các tôn giáo có một vai trò trung tâm trong việc chỉ cho thấy đâu là các vấn đề chiến thuật. Chẳng hạn, vấn đề phát triển, hay vấn đề mô thức phát triển, vấn đề là thế nào để cùng nhau đối phó với các bệnh đia phương bên Phi châu, vấn đề tôn trọng các căn tính của nhau. Khi có các hội nghị thượng đỉnh của khối G8, cũng như của khối G20, thật là hay khi thấy giới lãnh đạo các tôn giáo lớn trên thế giới họp nhau trước vài ngày để thảo luận chính các đề tài được đề ra trong nghị sự làm việc của hội nghi thượng đỉnh quốc tế, để đưa ra các đề nghị. Không phải vô tình mà cả các chính quyền cũng bắt đầu nhận ra nơi sự kiện này các tiềm năng tích cực. (RG 9-11-2014)
Bênh vực công lý và Giáo Hội
Hòa giải dân tộc và Điếu Cày Nguyễn Văn Hải
Phạm Trần26/11/2014
HÒA GIẢI DÂN TỘC VÀ ĐIẾU CẦY NGUYỄN VĂN HẢI

Vấn đề làm sao mà người Việt Nam có thể quên đi qúa khứ, xóa bỏ hận thù do chiến tranh gây ra để đòan kết xây dựng đất nước đã được viết trong “Hiệp định chấm dứt Chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam ” do 4 bên tham chiến: Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hoà, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ký kết tại Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973.”

Từ đó đến nay (2014) đã 41 năm mà người Việt Nam ở hai bờ chiến tuyến vẫn còn xa cách như khi chiến tranh chưa kết thúc ngày 30/04/1975 phải có nguyên nhân.

Lỗi này, trước hết và duy nhất phải quy kết vào trách nhiệm của đảng và nhà nước Cộng sản mang danh Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và những người Việt miền Nam đi theo Cộng sản được đại diện bởi Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, hay Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam.

Tại sao ?

Bởi vì Hiệp định Paris đã nói rõ trong Chương IV về “ VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN TỰ QUYẾT CỦA NHÂN DÂN MIỀN NAM VIỆT NAM” gồm những Điều rất rõ nhự sau:

Điều 9:

Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa cam kết tôn trọng những nguyên tắc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam dưới đây:

a) Quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm và phải được tất cả các nước tôn trọng.

b) Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam thông quan tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ, có giám sát quốc tế.

c) Các nước ngoài sẽ không được áp đặt bất cứ xu hướng chính trị hoăc cá nhân nào đối với nhân dân miền Nam Việt Nam.

Điều 10:

Hai bên miền Nam Việt Nam cam kết tôn trọng ngừng bắn và giữ vững hòa bình ở miền Nam Việt Nam; giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng thương lượng và tránh mọi xung đột bằng vũ lực.

Điều 11:

Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ:

– Thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia;

– Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín nguỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh.

Điều 12:

a) Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau (các bên ký kết hiểu với nhau gồm có : Chính phủ Việt Nam cộng hòa, Lực lượng thứ ba –hay phe Dương Văn Minh--, Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam). Hội đồng sẽ làm việc theo nguyên tắc nhất trí. Sau khi Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc nhậm chức, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương để thành lập các hội đồng cấp dưới. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ký một hiệp định về các vấn đề nội bộ của miền Nam Việt Nam càng sớm càng tốt, và sẽ làm hết sức mình để thực hiện việc này trong vòng chín mươi ngày sau khi ngừng bắn có hiệu lực, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân miền Nam Việt Nam là hòa bình, độc lập và dân chủ.

b) Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc có nhiệm vụ đôn đốc hai bên miền Nam Việt Nam thi hành Hiệp định này, thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ. Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ như đã nói trong Điều 9(b) và quy định thủ tục và thể thức của cuộc tổng tuyển cử này. Các cơ quan quyền lực mà cuộc tổng tuyển cử đó sẽ bầu ra sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam thông qua hiệp thuơng mà thỏa thuận. Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc cũng sẽ quy định thủ tục và thể thức tuyển cử địa phuơng theo như hai bên miền Nam Việt Nam thỏa thuận.

Điều 13:

Vấn đề lực luợng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, không có sự can thiệp của nước ngoài, phù hợp với tình hình sau chiến tranh. Trong số những vấn đề hai bên miền Nam Việt Nam thảo luận có các biện pháp giảm số quân của họ và phục viên số quân đã giảm. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hoàn thành việc đó càng sớm càng tốt.

Điều 14:

Miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập. Miền Nam Việt Nam sẵn sàng thiết lập quan hệ với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị và xã hội trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và nhận viện trợ kinh tế, kỹ thuật của bất cứ nước nào không kèm theo điều kiện chính trị. Vấn đề nhận viện trợ quân sự sau này cho miền Nam Việt Nam sẽ thuộc thẩm quyền của chính phủ được thành lập sau tổng tuyển cử ở miền Nam nói trong Điều 9(b).

SỰ THẬT PHŨ PHÀNG

Trên giấy trắng mực đen là như thế với chữ ký cam kết của 4 bên gồm: Bộ trưởng Ngọai giao William P. Rogers (Hoa Kỳ), Trần Văn Lắm (Việt Nam Cộng hòa), Bộ trường Ngọai giao Nguyễn Duy Trinh (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) và Bộ trường Ngọai giao Nguyễn Thị Bình (Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miến Nam Việt Nam).

Nhưng trong thực tế trên chiến trường vào thời điểm này, ngót 300,000 quân đội miền Bắc vẫn hành quân trên lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa trong khi Quân đội Hoa Kỳ và đồng minh phải rút hết khỏi miền Nam Việt Nam.

Từ đó Quân lực Việt Nam Cộng hòa phải tiếp tục chiến đấu một mình với sự viện trợ rất hạn chế về vũ khí và lương thực của Hoa Kỳ.

Theo các tài liệu của Quốc tế phổ biến trên Internet thì vào năm 1973, Việt Nam Cộng hòa có 450.000 quân chủ lực và hơn 700.000 quân địa phương và dân vệ. Quân Đội Cộng sản Nhân Dân Việt Nam có 525.000 quân (Hoa Kỳ ước đoán 500.000-600.000), kể cả lối 220.000 trong số đó đang có mặt ở miền Nam.

Tuy nhiên về hỏa lực thì quân đội Cộng sản có số lượng gấp 3 lần hơn vũ khí và đạn được của quân đội miền Nam vì Liên bang Sô viết do Nga cầm đầu và Trung Cộng vẫn tiếp tục đổ súng đạn và lương thực vào miến Bắc để vuợt Trường Sơn vào tiếp tế cho chiến trường miền Nam.

Ngược lại vì ràng buộc bởi Hiệp định Paris 1973, chính phủ Hoa Kỳ đã bị Quốc hội hạn chế viện trợ cho miền Nam Việt Nam từ 2 tỷ mỗi năm xuống còn 600 triệu, sau ngày ký Hiệp định Paris 1973.

Sau đó số tiền này bị chận lại ở Quốc hội khi phía Mỹ thấy tình hình mất Việt Nam Cộng hòa vào tay quân đội miền Bắc không còn cưu vãn được nữa, sau cuộc tấn công của lực lượng miền Bắc vào thành phổ Ban Mê Thuột ngày 10 tháng 3/1975, mở đầu cho Chiến dịch Tây Nguyên mang “mật danh Chiến dịch 275”.

Hành động tiếp tục chiến tranh xâm lăng miền Nam ngay trong lúc đàm phán để sau này miền Bắc chà đạp lên quyền tự quyết của nhân dân hai bên miền Nam ghi trong Hiệp định Paris 1973, đã được Tiến sỹ Nguyễn Mạnh Hà thuộc Viện Lịch sử Đảng xác nhận trong bài viết “Hoạt động quân sự trên chiến trường miền Nam 1968-1973” vào dịp Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam của Tạp chí Thế giới-Việt Nam (The World & Vietnam report) thuộc Bộ Ngọai giao Hà Nội ngày 31/01/2013.

Ông viết : “Ngày 23/3/1972, Bộ Chính trị thông qua phương án của Quân ủy Trung ương, quyết định mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972, lấy Trị Thiên làm hướng tiến công chủ yếu. Đông Nam Bộ và Tây Nguyên là hướng phối hợp.

Ngày 30/3/1972, quân ta nổ súng ở Trị Thiên, mở màn cho cuộc tiến công chiến lược 1972. Ngày 2/5/1972, ta giải phóng tỉnh Quảng Trị. Đây là thắng lợi quân sự rất quan trọng, có ý nghĩa trong năm bản lề 1972 có nhiều sự kiện quân sự, ngoại giao lớn đan xen. Đó là hai chuyến thăm Trung Quốc (2/1972), Liên Xô (5/1972) của Tổng thống Mỹ Nixon gây chia rẽ và bất lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Đó là việc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân, thả mìn, thủy lôi phong tỏa các cảng, cửa sông, cửa biển của miền Bắc từ 6/4/1972 với quy mô và cường độ ác liệt hơn trước, gây khó khăn cho vận chuyển tiếp tế cho miền Nam cả đường bộ và đường thủy.

Cuộc tiến công chiến lược ở Trị Thiên và Đông Nam Bộ, Tây Nguyên đã giành được những thắng lợi rất quan trọng song cũng chịu nhiều tổn thất hy sinh (đặc biệt là trận chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị 81 ngày đêm, từ 25/6 đến 16/9/1972), đã tạo điều kiện cho đấu tranh ngoại giao thu được kết quả. Đoàn đàm phán Việt Nam tại Hội nghị Pari đã chủ động có bước đột phá, đưa ra bản dự thảo Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (10/1972), đẩy Mỹ vào thế bị động, lúng túng, phải đi vào đàm phán thực chất.

Đặc biệt, quân và dân miền Bắc, chủ yếu là Hà Nội, Hải Phòng, đã đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B52 trong 12 ngày đêm cuối năm 1972 của Mỹ, làm nên trận "Điện Biên Phủ trên không". Đây là thắng lợi quân sự lớn nhất, góp phần quyết định buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari ngày 27/1/1973, rút hết quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ về nước, mở ra thời cơ chiến lược để quân và dân ta tiến lên "đánh cho ngụy nhào" vào mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc.”

HỆ LỤY CỦA CHIẾN THẮNG

Nhưng nhóm chữ “giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước” đã nói lên được điều gì ?

Thứ nhất, đó là hành động tự nhổ bọt vào chữ ký của hai Bộ trưởng Ngọai giao Nguyễn Duy Trinh và Nguyễn Thị Bình.

Thứ hai, nó đã gây ra tình trạng chia rẽ và hận thù dân tộc do đảng CSVN gây ra cho nhân dân miền Nam Việt Nam.

Hàng loạt những chủ trương trả thù quân nhân Việt Nam Cộng hòa, công chức, các chính đảng Quốc gia và Văn nghệ sỹ miền Nam đã được thi hành để đem hàng trăm ngàn con người vào các trại tập trung tù đầy khổ cực được mệnh danh “Cảo tạo” gỉa đạo đức. Nhiều ngàn người đã chết mất xác tại các trại tập trung lao động khổ sai này.

Thứ ba, khi Thủ tướng Võ Văn Kiệt nói vào năm 2005 rằng : “ Chiến thắng của chúng ta là vĩ đại, nhưng chúng ta cũng đã phải trả giá cho chiến thắng đó bằng cả nỗi đau và nhiều mất mát. Lịch sử đã đặt nhiều gia đình miền Nam rơi vào hoàn cảnh có người thân vừa ở phía bên này, vừa ở phía bên kia, ngay cả họ hàng tôi cũng như vậy. Vì thế, một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn” thì ông đã nghỉ hưu, không còn tác động gì đến lớp người cầm quyền nữa.

Bởi vì lời nói, tuy tâm huyết, có suy tư của một người Lãnh đạo gốc miền Nam đã từng mất vợ và con trong cuộc oanh kích của máy bay trên một nhánh sông gần Bình Dương đã qúa muộn, không sao hàn gắn được vết thương chiến tranh mà người miền Nam là nạn nhân.

Thứ bốn, danh từ “giải phóng” miền Nam của bộ đội Cộng sản miền Bắc Cộng sản, vì vậy sẽ không bao giờ có thế trả hết nợ đối với hàng chục ngàn phụ nữ Việt Nam đã bị Hải tặc cưỡng hiếp rồi quăng xác xuống biển hay bắt đi bán cho các động Mãi Dâm trong vùng Đông Nam Á. Ngàn người dân bình thường khác, trong đó có vô số trẻ em, người gìa cũng đã chết chìm trên Biển Đông trên đường trốn Cộng sản tìm tự do sau ngày ngày 30/04/1975.

Tuy nhiên người dân ở miền Bắc và ngay cả trong các vùng được gọi là “giải phóng” trong Nam khi còn chiến tranh cũng chẳng may mắn gì hơn đồng bào miền Nam. Họ cũng đã phải gánh chịu những mất mát khôn lường trong cuộc chiến 20 năm huynh đệ tương tàn bi thảm này.

Có ai biết được đã có bao nhiêu triệu bà mẹ mất con, người vợ mất chồng, hay thanh niên-thiếu nữ tuấn tú đã bỏ xác tại các chiến trường hay dọc đường Trường Sơn trên đường vào Nam ?

Những nấm mồ hoang hay nắm xương khô của người dân Việt Nam-Bắc đã tan nát vào lòng đất Việt Nam đã nói lên được điều gì đối với những người còn sống hôm nay ?

Vì vậy, ta không ngạc nhiên khi thấy ông Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói vào năm 2005 rằng : “Đó là một vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm nó thêm rỉ máu. Cho nên tinh thần hòa hợp dân tộc phải được coi trọng. Chúng ta còn nhớ, sau ngày 30-4-1975, khi đồng chí Lê Duẩn vào Sài Gòn, vừa xuống thang máy bay, đồng chí nắm tay đưa lên cao, giọng đầy cảm xúc: “Đây là thắng lợi của cả dân tộc, không phải của riêng ai!”

Nhưng trong suốt 40 năm qua những người lãnh đạo CSVN từ thời Trường Chinh Đặng Xuân Khu đến Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là 6 người, thử hỏi họ đã làm gì để hàn gắn vết thương dân tộc, cải thiện đời sống cho dân hay vẫn tạo ra những bất công trong đời sống hàng ngày, kỳ thị kẻ thắng người thua và nuôi dưỡng hận thù để bảo vệ đặc quyền đặc lợi cho đàng CSVN ?

Bằng chứng trong đời sống hiện nay, sau gần 30 năm được gọi là “đổi mới” (1986-2014), hai tầng lớp công nhân và nông dân là thành trì của “cách mạng vô sản” đã hy sinh xuơng máu giúp cho đảng CSVN tồn tại và độc quyền cai trị đất nước lại vẫn là tầng lớp phải chịu thiệt thòi và kém may mắn nhất trong xã hội Việt Nam ngày nay.

TƯƠNG LAI Ở ĐÂU ?

Vậy tương lai của con cháu họ sẽ đi về đâu trong vũng bùn đói, nghèo, lạc hậu, chậm tiến và kéo dài xung đột địa phương trong khi Việt Nam đang mất dần biển đảo vào tay Trung Quốc ở Biển Đông ?

Tình hình bế tắc này chỉ có thể mở ra bằng con đường duy nhất là Việt Nam phải có dân chủ và tự do và đòan kết, hòa hợp, hòa giải dân tộc để xây dựng đất nước.

Những hành động bóp ngẹt tự do dân chủ, không cho dân được quyền nói lên suy nghĩ của mình và hạn chế những quyền cơ bản con người chỉ làm kiệt quệ sinh lực dân tộc và làm mồi cho ngọai bang cai trị bằng cách này hay cách khác, trực tiếp hay gián tiếp qua tay sai và bởi những lãnh đạo nhu nhược.

Lãnh đạo CSVN cần phải chui ra khỏi “vỏ sò của trí tuệ” lạc hậu chủ nghĩa để thấy đất nước và nhân dang đang đòi hỏi một cuộc Cách mạng xã hội để tự chủ, tự cường và bảo vệ sự vẹn tòan lãnh thổ và tài nguyên của đất nước.

Nhà nước phải biết lắng nghe tiếng nói thiện chí và chấp nhận những đóng góp của mọi tầng lớp nhân dân để xây dựng đất nước. Đảng CSVN không thế cứ nói “nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, của dân, do dân và vì dân” mà lại tước đọat quyền làm chủ đất nước của người dân như đã diễn ra trong qúa khứ và đang xẩy ra trên mọi lĩnh vực trong hiện tại.

Lãnh đạo đảng CSVN cũng phải biết không có gì trên cõi đời này tồn tại mãi mãi. Cuộc đời có sinh thì phải có tử như đã xẩy đến cho Thế giới Cộng sản do Nga lãnh đạo trong thời gian từ 1989 đến 1991 ở Mạc Tư Khoa và tại các nước theo Xã hội Chủ nghĩa Cộng sản Đông Âu.

Hai văn kiện “Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ qúa độ lện Xã hội Chủ nghĩa” (bổ sung và phát triển năm 2011) và Hiến pháp sửa đồi năm 2013 vẫn kiên định lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng (Cộng sản) của Hồ Chí Minh làm nền tảng xây dựng đất nước đang kéo đất nước lùi lại và ngăn chặn bước tiến của dân tộc.

Lãnh đạo đảng và nhà nước chắn phải biết rõ tại sao nhân dân Nga và hàng triệu người dân khác ở Đông Âu đã vùng lên lật đổ bạo quyền, phi dân chủ và độc tài để tự cởi trói và dân chủ hóa đất nước ?

Bằng chứng của tư duy lạc hậu, tiếp tục cù nhầy để “cố đấm ăn xôi Trung Quốc” và tự trói mình chỉ tiếp tục tác hại đến tiền đồ của Tổ quốc mà thôi.

Đó chính là lý do mà mấy năm gần đây, các Tổ chức dân sự tự nguyện thành lập của nhiều tầng lớp nhân dân đã ra đời ở Việt Nam để dành lại quyền làm chủ đất nước.

Nếu năm 1975, Tổng Bí thư Lê Duẩn nói ngày 30/4/1975 là “ thắng lợi của cả dân tộc, không phải của riêng ai” thì có lẽ không ai nghĩ ông đã nói dối vì sau đó cũng chính ông và Bộ Chính trị đã đưa ra quyết định đầy đọa dân-quân Việt Nam Cộng hòa xuống tận bùn đen để cho “vượn nhảy lên bàn thờ” , xoá bỏ hệ thống kinh tế phồn thịnh của miền Nam và phá sạch nếp văn hoá nhân bản của 25 triệu người dân miền Nam.

Những nỗi đau oan nghiệt của đại đa số người dân hai miền Nam-Bắc nói mãi cũng không hết, nhưng làm gì để thay đổi mới là vấn đề của tất cả con dân Việt Nam trong và ngòai nước bây giờ.

Bởi lẽ nếu mọi người cứ ngồi nguyền rủa bóng tối mà không mỗi người đốt lên một ngọn nến hay ngọn đèn dầu thì biết đến bao giờ mới tìm ra ánh sáng ở cuối đường hầm ?

Thông điệp đòi tự do và một chế độ dân chủ từ mấy năm qua đã bung ra ở Việt Nam bởi các Nhà báo độc lập, các nhà trí thức, cựu đảng viên, và một số tướng lĩnh trong Quân đội CSVN hoạt động Dân chủ, đấu tranh đòi quyền sống con người và bảo vệ nhân quyền.

Tuy kết qủa vẫn còn hạn chế nhưng những người can đảm thành lập các tổ chức dân sự xã hội vẫn không nản chí và tiếp tục dấn thân, bất chấp bị công an, côn đồ khống chế, tấn công, xuyên tạc hay bị phạt tù bất công trong nhiều năm.

Họ rất cần sự tiếp tay của mọi người Việt Nam trong và ngoài nước để tạo thành một phong trào quần chúng đòi lại quyền làm chủ đất nước và xóa bỏ độc tài Cộng sản.

TRƯỜNG HỢP ĐIẾU CẦY NGUYỄN VĂN HẢI

Một trong những người tù lương tâm này là Nhà báo tự do Điếu Cầy Nguyễn Văn Hải. Ông mới bị trục xuất ra khỏi Việt Nam ngày 20/10/2014 sau 6 năm 6 tháng bị hành hạ, đầy đọa qua 11 nhà tù từ Nam ra Bắc.

Một số đông đồng hương người Việt đã tự ý ra phi trường Los Angeles tối 21/10/2014 đón Ông trong không khí nồng ấm đầy tình người với nhiều Cờ Vàng 3 Sọc đỏ mang theo. Nhưng chỉ ít ngày sau, một làn sóng dữ của dư luận đã cáo buộc ông đã từ chối nhận lá cờ Vàng 3 Sọc Đỏ của Việt Nam Cộng hòa, và coi ông đã “không muốn đứng vào hàng ngũ những người đã đấu tranh cho ông và những người tù lương tâm khác.”

Tuy nhiên, câu chuyện đã không được nói đúng như những gì đã xẩy ra khiến cho vấn đề “hòa hợp, hòa giải dân tộc” giữa người Việt ở 2 bờ chiến tuyến gặp nhiều khó khăn.

Trong cuộc phỏng vấn của Thông tín viên Mặc Lâm đài Á Châu Tự do (RFA) ngày 29/10/20134,Ông Ngô Chí Thiềng, người chứng kiến sự việc ngay từ đầu cho biết những gì ông thấy:

“Hôm đó tôi cũng có mặt ở đó để đi đón anh Điếu Cày. Nói thực ra là đồng bào rất háo hức rất nhiều người mang theo cờ. Cá nhân tôi không biết là có nên mang cờ theo hay không vả lại mình cũng nghĩ nhiều khi tế nhị nhưng khi tới nơi thì tôi thấy rất nhiều cờ. Trước khi anh Điếu Cày xuất hiện thì chúng tôi nói chuyện gặp gỡ nhau, đi tới đi lui vòng vòng.

Đùng một cái ông Điếu Cày và hai người Hoa kỳ trong Bộ ngoại giao đi theo với ông Điều Cày đi ra bằng một cổng khác, đi bọc hậu đàng sau lưng mình. Tất cả mọi người bu vô rất đông, người thì sờ anh Điếu Cày, người thì cầm bao thư đưa tiền, tôi biết chắc là tiền mà anh Điếu Cày khi đó mệt mỏi lắm mà bà con người thì muốn sờ tay người thì muốn sờ lưng ổng, đập đập ổng muốn giúi cho ổng bao thư.

Người thì cầm cờ Mỹ người thì cầm cờ vàng….Người cầm cờ vàng thì đưa lên thôi chứ không thấy người nào đưa vào mặt bảo ảnh cầm cả. Tôi chỉ đứng cách anh Điếu Cày chừng 4 người thôi. Lúc đó anh Điếu Cày quay sang bên trái của tôi còn anh Truật đưng ngay bên phải của anh Điếu Cày mới đưa lá cờ lên. Anh Điếu Cày lúc ấy chưa nhìn thấy. Trước khi giơ lá cờ thì anh Truật vỗ vai anh Điếu Cày nhưng anh ấy vẫn không quay lại anh Truật lại đưa lá cờ lên nhưng ngay khi ấy anh chàng Mỹ đi theo bảo vệ anh Điếu Cày rất vất vả đề đẩy những cánh tay ra ngoài tại vì họ sợ nhỡ có ai làm gì bậy bạ thì sao? Tôi thấy anh ta đẩy lá cờ qua tay phải của anh Điếu Cày thì anh Truật ảnh thấy vậy ảnh chỉ rút là cờ lại và ảnh cười.”

Mặc Lâm viết tiếp: “Ông Đinh Quang Truật, người cầm lá cờ đưa cho ông Điếu Cày Nguyễn Văn Hải thuật lại sự việc cũng giống với những gì mà nhân chứng kể, ông Truật nói:

Tên tôi là Đinh Quang Truật nguyên là cựu sĩ quan hải quân Quân lực VNCH. Tôi và một số anh em có mang theo một số cờ quốc gia và một ít cờ Mỹ, mục đích là tới có hình thức chào đón anh Điếu Cày cho nó được long trọng.

Chính tôi cầm một số cờ đó tôi phân phát cho đồng hương tới đón anh Điếu Cày. Khi anh xuất hiện có một số bà con bảo tôi anh cố gắng anh đưa lá cờ cho anh ấy…thành ra tôi cũng cố gắng tôi len lỏi đám đông đang vây anh Điếu Cày. Ngoài bà con vây anh Điếu Cày còn một số phóng viên của các đài và lúc đó anh đang tập trung trả lời phỏng vấn. Tôi vỗ vai anh ấy để anh chú ý và anh ấy hơi quay ngang về phía tôi một chút. Lúc ấy người nhân viên Bộ Ngoại giao bảo vệ cho anh ấy gạt tay tôi ra.

Trong lòng tôi nghĩ rất thành thật như thế này thái độ của anh Điếu Cày cũng như động tác của anh nhân viên Bộ ngoại giao thì tôi không coi đó là sự khước từ việc cầm lá cờ vì tôi nghĩ rằng lúc đó anh Điếu Cày được đồng bào vây kín như là nêm cối. Anh Điếu Cày có đưa tay lên để lấy lá cờ cũng khó vì lúc ấy anh đang tập trung trả lời phỏng vấn của các phóng viên.”

Câu chuyện giản dị chỉ có thế thôi, nhưng tiếng lành thì ít là tiếng dữ lại bay xa khiến cho có nhiều người Việt Nam ở Hoa Kỳ và một số nơi khác đã “tam quốc chí diễn nghĩa” với nhiều thêu vẽ làm cho vấn để nghiêm trọng và gây tranh cãi mất nhiều công sức của người tham gia.

Thậm chí có người còn đặt cả điều kiện tiên quyết “nếu không đứng chào cờ nghiêm chỉnh, không nhận lá cờ Vàng 3 Sọc Đỏ” thì sẽ không được tiếp xúc, dù anh Điếu Cầy chỉ muốn đến để cảm ơn !

Và tại cuộc gặp gỡ đồng hương tại Washington D.C, tối ngày 23/11/2014, có một số người đã chất vấn anh Hải như “tra khảo” quyết liệt không kém như anh bị lấy cung tại các nhà giam Việt Nam !

Tôi ngồi nghe mà trong lòng nghẹn ngào để nhớ lại 4 trường hợp lịch sử đã xẩy ra trong chiến tranh Việt Nam cũng liên quan đến “là cờ và lòng con người”.

-Trường hợp thứ nhất ở ngay trong Dinh Độc Lập thời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, khi người Phụ tá Chính trị của Tổng thống là Vũ Ngọc Nhạ bị phát giác là “điệp viên của Cộng sản” gài vào Dinh để thu góp tin tức cho Hà Nội.

Chắc hẳn đã nhiều lần trong đời ở miền Nam thì Vũ Ngọc Nhạ, sau 1975 lên chức Thiếu tướng tình báo Cộng sản, đã đứng nghiêm chào lá Quốc kỳ Việt Nam Cộng hòa !

-Trường hợp thứ hai là Nhà “siêu tình báo chiến lược” đội lốt Nhà báo Phạm Xuân Ẩn. Ông Ẩn cũng từng là Sỹ quan Quân đội Quốc gia Việt Nam rồi Việt Nam Cộng hòa đã được gửi đi học tham mưu và báo chí ở Hoa Kỳ bằng tiền thuế của người dân miền Nam.

Nhà báo Phạm Xuân Ẩn làm cho nhiều báo ngọai quốc, nhưng lâu năm và được tín nhiệm nhất khi ông làm cho Tạp chí Times vì ông Ẩn có mối giao thiệp rộng rãi với Chính quyền VNCH và các Tòa Đại sứ ngọai quốc, quan trọng nhất là Hoa Kỳ tại Sài Gòn.

Cũng như trường hợp Vũ Ngọc Nhạ, ông Ẩn được phong hàm Thiếu tướng Tình báo CSVN sau 1975!

-Trường hợp thứ ba là Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, sinh năm 1923 là phụ tá Tổng tham mưu trưởng cuối cùng của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa sau khi Đại tướng Dương Văn Minh nhận chức Tổng thống từ tay Cụ Trần Văn Hương ngày 28/4/1975. Ông mang bí danh S7 hay Sao Mai là cơ sở của Ban binh vận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.

Chính tướng Hạnh là người đã thúc đẩy Tổng thống Dương Văn Minh quyết định kêu gọi Quân lực Việt Nam Cộng Hòa buông vũ khí đầu hàng quân Cộng sản ngày 30/04/1975, khi lá Quốc kỳ Nền Vàng 3 Sọc Đỏ của VNCH vẫn còn bay trên Dinh Độc Lập.

-Người thứ bốn liên quan đến Thượng tá Tám Hà của Quân đội CSVN đã bỏ hàng ngũ ra hồi chánh với Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trước Cuộc tấn công miền Nam Tết Mậu Thân của Cộng sản.

Tài liệu của CSVN sau 30/4/1975 tiết lộ, những bí mật hành quân và tấn công vào đô thị miền Nam năm 1968 bị ông Tám Hà báo cáo với chính phủ VNCH đã gây thiệt hại to lớn cho quân CSVN trong thời kỳ ấy.

Hiển nhiên Thượng tá Tám Hà cũng đã rất nhiều lần đứng chào cả 2 lá cớ Mặt trận Giải phóng miền Nam và cờ Đỏ Sao Vàng.

Như vậy, thiết tưởng chuyện “trung thành với lý tưởng của lá cờ” của người cầm cờ hay chào cờ cũng chưa chắc ai đã trung thành hơn ai trong mặt trận đấu tranh tư tưởng.

Chỉ khi nào người ta phải đối diện với thực tế thì lương tâm mới hiện ra chăng, hay cũng có thể thay đổi tùy hòan cảnh ?

Tuy nhiên, sự hòai nghi về lòng trung thành khi chưa “có lửa để thử vàng” thì cũng có thể sai lầm. Vì vậy, nếu vấn đề hòa hợp và hòa giải dân tộc không được nghiêm chỉnh thảo luận giữa những người, tuy từng cầm súng bắn nhau trong chiến tranh nhưng biết tôn trọng giá trị của nhau thì dân tộc sẽ mãi mãi mắc mưu chia rẽ của Cộng sản.

Do đó vấn để khẩn trương và quan trọng của đất nước hiện nay là làm thế nào đòan kết được trong-ngoài gữa người Việt Nam cùng lý tưởng để đấu tranh loại đảng CSVN ra khỏi độc quyền lãnh đạo, để Việt Nam có dân chủ tự do và để cứu được dân tộc ra khỏi đói nghèo, chậm tiến và lạc hậu chứ không phải là lúc tranh luận về lòng yêu nước ai hơn ai./-

Phạm Trần

(11/014)