Tin Giáo Hội Hoàn VũChọn ngày khác
Cầu nguyện cho những ai đang chịu đựng những thảm kịch ghê gớm
Bùi Hữu Thư01/10/2014
Đức Thánh Cha lưu ý không nên bị kịch hóa các lời than vãn của chúng ta

Vatican, Ngày 30, tháng 9, 2014 (Zenit.org)

Đức Thánh Cha Phanxicô nói trong thánh lễ ngày thứ ba tại nhà nguyện Thánh Mát-ta: Trong những lúc tối tăm, lời than của chúng ta trở thành một kinh cầu, nhưng chúng ta cần phải coi chừng đừng có bi kịch hóa các lời than phiền của chúng ta và phải nhớ rằng có những người đang gánh chịu những “thảm kịch ghê gớm” và họ có lý do để than vãn, như những Kitô hữu bị xua đuổi ra khỏi gia cư vì đức tin của họ.

Suy niệm về bài đọc một trong ngày, trong đó ông Job nguyền rủa ngày ông sinh ra đời, Đức Thánh Cha ghi nhận rằng kinh nguyện của ông thoạt tiên có vẻ như một lời nguyền rủa đối với chúng ta. Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc lại chuyện ông Job “bị thử thách”, về việc ông “mất hết tất cả tài sản và gia đình”, rằng ông mất hết sức khỏe và “thân mình ông đã biến thành một dịch tễ, một “bệnh dịch ghê tởm.”

Đức Thánh Cha nói: vào lúc đó “ông đã mất hết kiên nhẫn nên mới nói lên những điều này. Những điều xấu xa! Nhưng ông ta đã quen nói thật và sự thật ông cảm thấy vào lúc đó”. Đức Thánh Cha Phanxicô cũng nhắc lại là ngay cả tiên tri Giêrêmia, cũng đã dùng cùng như lời này: ‘Khốn nạn thay cho ngày tôi đã sinh ra đời!!'", và rồi ngài đã tự hỏi: "Người này có đã nói lời phạm thượng không? Đây là câu hỏi của tôi. Người này đang hoàn toàn cô đơn, người ấy có nói lời phạm thượng không?”

"Khi Chúa Giêsu than - ‘Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ rơi con’? Đây có phải là phạm thượng không? Đây là một mầu nhiệm. Tôi đã thường nghe thấy những người đang trải qua những hoàn cảnh khó khăn và đau khổ, đã mất mát rất nhiều, hay cảm thấy cô đơn, bị bỏ rơi và họ đã than van và tự hỏi: Tại sao? Tại sao? Họ chống lại Thiên Chúa. Và tôi nói, ‘Hãy tiếp tục cầu nguyện y như vậy, vì đây chính là lời nguyện'. Đây là một lời nguyện khi Chúa Giêsu nói với Chúa Cha: “Tại sao Cha nỡ bỏ rơi con!'"

Đức Thánh Cha tiếp rằng điều ông Job làm trong bài đọc một là cầu nguyện, vì cầu nguyện có nghĩa là ngay thẳng đối với Thiên Chúa. Đây là cách duy nhất ông Job biết cầu nguyện. Ngài tiếp: "Chúng ta cần cầu nguyện với thực tế - lời cầu chân chính phải phát xuất từ trái tim, từ giây phút chúng ta đang sống ". "Đó là cầu nguyện trong lúc tối tăm, trong những lúc đời sống có vẻ như vô vọng, khi chúng ta không còn thấy chân trời ".

"Có biết bao nhiêu người ngày nay, cũng đang ở trong hoàn cảnh giống như ông Job. Biết bao nhiêu người tốt lành, cũng giống như Job, không hiểu được những gì đang xẩy ra cho họ, hay tại sao. Nhiều anh chị em chúng ta đã mất hết hy vọng. Xin hãy nghĩ đến các thảm kịch, chẳng hạn, của các anh chị em chúng ta, vì họ là những Kitô hữu nên đã bị xua đuổi ra khỏi gia cư và mất hết tất cả: 'Nhưng, lạy Chúa, Con đã tin tưởng nơi Chúa. Tại sao? Lạy Chúa! Tin nơi Chúa có phải là một lời nguyền rủa không?'".

Ngài tiếp: Xin hãy "nghĩ đến những người cao niên đã bị xua đuổi ra bên lề xã hội. Những người bệnh tật, những người cô đơn trong các bệnh xá.” Đức Thánh Cha cam đoan rằng Giáo Hội cầu nguyện cho họ và cho những ai trong chúng ta đang đi trong tăm tối. “Giáo Hội cầu nguyện! Giáo Hội ôm ấp những đau thương này và cầu nguyện". Và những người trong chúng ta “không đau yếu, đói khát, hay không có những nhu cầu khẩn thiết, khi chúng ta cảm thấy có một chút bóng tối trong tâm hồn, chúng ta đã cảm thấy như bị tử đạo và ngưng không cầu nguyện nữa”.

Đức Thánh Cha tiếp rằng, còn có cả những người đã nói: "Tôi bất mãn với Chúa và tôi không đi lễ nữa ". "Nhưng tại sao? Chỉ là vì những điều nhỏ mọn” đó là câu trả lời. Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc lại rằng Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, trong những tháng cuối cuộc đời, đã “cố gắng suy niệm về Thiên Đàng, nhưng lại nghe thấy có tiếng trong nội tâm, bảo bà đừng có điên khùng, đừng nghĩ chuyện vẩn vơ. Chị có biết những gì đang chờ đón chị không? Chẳng có cái gì hết!”.

"Tất cả chúng ta đều trải qua hoàn cảnh này. Có biết bao nhiêu người đã nghĩ rằng cuối cùng thì chẳng có gì hết. Tuy nhiên Thánh Têrêsa vẫn cầu nguyện và xin cho có sức mạnh để kiên trì trong tối tăm. Đây là việc bước vào sự kiên trì. Đời sống chúng ta quá dễ dàng, các lời than trách của chúng ta thường bị bi kịch hóa. Trước những lời than vãn của bao nhiêu người, của bao nhiêu anh chị em chúng ta đang ở trong bóng tối, đã mất hết ký ức, và hầu như mất hết hy vọng – họ đang cảm thấy như đã bị lưu đầy, ngay từ bản thân – không còn gì nữa! Chúa Giêsu đang đi con đường này: từ lúc hoàng hôn trên Núi Ôliu cho đến khi nói lời cuối cùng trên thập giá: 'Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ rơi con!”

Đức Thánh Cha Phanxicô kết luận rằng có hai điều có thể giúp cho những hoàn cảnh này: “Trước hết, phải chuẩn bị cho lúc tối tăm tràn đến” có lẽ không đến nỗi khó khăn như ông Job, “nhưng nó sẽ đến. Xin chuẩn bị tâm hồn cho thời khắc này ". Thứ đến: "Cầu nguyện, cầu nguyện như Giáo Hội cầu nguyện, cầu nguyện với Giáo Hội để cho bao nhiêu anh chị em chúng ta đang bị lưu đầy, đang sống trong tối tăm và đau khổ, và mất hết hy vọng." Đây là kinh cầu của Giáo Hội cho ‘những Giêsu đau khổ’ ở khắp mọi nơi."
Tin Giáo Hội Việt Nam
Thánh lễ truyền chức linh mục tại giáo phận Hưng Hóa
BTT. Giáo phận Hưng Hóa01/10/2014
Thánh lễ Truyền chức linh mục tại Giáo phận Hưng Hóa

Đức Cha Gioan Maria Vũ Tất truyền chức linh mục cho 8 Thầy phó tế tại nhà thờ Chính Tòa, tước hiệu thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, thuộc xã Trung Sơn Trầm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, ngày 01.10.2014.

Xem Hình

Đồng tế với Đức Cha Gioan Maria, ngoài Đức Cha phụ tá Anphongsô Nguyễn Hữu Long, Đức Cha Laurensô Chu Văn Minh, giám đốc Đại chủng viện Thánh Giuse Hà Nội, Cha Tổng đại diện Phêrô Phùng Văn Tôn, còn có hơn 100 linh mục bao gồm quí cha giáo, quí cha trong vào ngoài Giáo phận, nhất là quí cha - quí thầy phó tế cùng lớp với các tân linh mục đến từ các Giáo phận thuộc Giáo tỉnh Miền Bắc.

Tham dự Thánh lễ còn có quí thầy Đại chủng viện, quí Dì dòng Mến Thánh Giá Hưng Hóa, quí sơ dòng Phaolô, quí ân nhân, thân nhân và khoảng 4 ngàn giáo dân trong và ngoài giáo phận.

Danh sách quí thầy phó tế được truyền chức linh mục hôm nay như sau:

1. Thầy Đaminh Hoàng Thế Bằng, sinh năm 1969, thuộc giáo xứ Tân Quang, tỉnh Hà Giang

2. Thầy Phaolô Nguyễn Công Hiến, sinh năm 1971, thuộc xứ Hiền Quan, tỉnh Phú Thọ

3. Thầy Đaminh Nguyễn Văn Lưu, sinh năm 1974, thuộc giáo xứ Tân Quang, tỉnh Hà Giang

4. Thầy Giuse Vũ Thế Bảy, sinh năm 1973, thuộc xứ Thạch Sơn, tỉnh Phú Thọ

5. Thầy Giuse Nguyễn Thanh Bình, sinh năm 1974, thuộc xứ Hiền Quan, tỉnh Phú Thọ

6. Thầy Giuse Trần Văn Hương, sinh năm 1978, thuộc xứ Trù Mật, tỉnh Phú Thọ

7. Thầy Anrê Phùng Văn Thành, sinh năm 1976, thuộc xứ Yên Khoái, thành phố Hà Nội

8. Thầy Giuse Nguyễn Văn Yêm, sinh năm 1974, thuộc giáo xứ Thủy Trạm, tỉnh Phú Thọ.

Đúng 13g45, đoàn đồng tế được rước từ nhà khách của nhà thờ Chính tòa trong tiếng kèn vang và những tràng vỗ tay liên tiếp.

Ngay khi bước vào Thánh lễ, Đức Cha Anphongsô thay mặt cho Đức Cha chính giới thiệu các thành phần tham dự Thánh lễ và ngài nói lên ý nghĩa của Thánh lễ Truyền chức Linh mục.

Cha Giuse Nguyễn Văn Úy, chịu tránh nhiệm về đào tạo, đã giới thiệu các tiến chức. Tiếp theo, cha Tổng đại diện Phêrô Phùng Văn Tôn đã trả lời phỏng vấn của Đức Cha về tư cách và phẩm chất của các tiến chức.

Đức Cha đã tuyển chọn quí thầy phó tế vào chức linh mục. Mọi người sung sướng tạ ơn Thiên Chúa và vỗ tay chúc mừng. Đức Cha đã truyền chức cho quí thầy đúng theo nghi thức Công Giáo.

Được biết, sau Thánh lễ truyền chức linh mục hôm nay, Giáo phận Hưng Hóa đã có 84 linh mục, trong đó có 73 linh mục Triều và 11 linh mục Dòng. Tuy nhiên, ngần đó linh mục cũng chưa thể đáp ứng được nhu cầu cấp bách cho một giáo phận truyền giáo tại miền thập tỉnh Tây Bắc Việt Nam này.

Sau lời nguyện kết lễ, Cha Giuse Nguyễn Thanh Bình đã thay mặt các tân linh mục có lời cám ơn Đức Cha Gioan Maria Vũ Tất đã tuyển chọn và truyền chức linh mục cho 8 anh em, cám quí Đức Cha, quí cha và cộng đoàn đã đến tham dự Thánh lễ và cầu nguyện cho các tân linh mục.

Thánh lễ truyền chức được diễn ra hết sức trang nghiêm và sốt sáng trong niềm hân hoan của mọi thành phần dân Chúa hiện diện. Sau Thánh lễ Truyền chức, các tân linh mục về quê hương để chuẩn bị cho ngày lễ Mở Tay của mình.

BTT. Giáo phận Hưng Hóa
Giáo xứ chính tòa Huế phát thưởng năm 2014 và khai mạc tháng Mân Côi
Trương Trí01/10/2014
GIÁO XỨ CHÍNH TOÀ PHỦ CAM HUẾ

PHÁT THƯỞNG CHO TÂN SINH VIÊN NĂM 2014 VÀ KHAI MẠC THÁNG MÂN CÔI

Từ bao năm qua, từ thời Cha Phaolô Nguyễn Trọng làm Quản xứ, Giáo xứ Chính toà Phủ Cam vẫn duy trì được truyền thống tốt đẹp để tôn vinh những Tân sinh viên là con em trong Giáo xứ đã có thành tích cao trong học tập văn hoá, và đề cao giá trị học tập để lớp đàn em noi gương. Đồng thời cũng tạo được sự phấn đấu cho thanh thiếu niên có một trình độ học vấn cao và là tầng lớp trí thức góp phần vào việc xây dựng đất nước cũng như xây dựng Giáo Hội và Giáo xứ. Đó là việc tôn vinh và phát thưởng cho các em tân sinh viên hàng năm với điều kiện các em phải tham gia học hỏi Giáo lý chuyên cần.

Xem Hình

Năm nay, Giáo xứ Chính toà Phủ Cam có 40 em nam nữ thi đậu vào các trường Đại học chính quy, trong đó có 2 em đậu với điểm cao trên 22 điểm đồng thời chuyên cần học Giáo lý được thưởng mỗi em 1 chỉ vàng, 25 em đậu Đại học với số điểm dưới 22 điểm và chuyên cần học Giáo lý được thưởng mỗi em 1 triệu đồng, 13 em đậu Đại học nhưng không chuyên cần học Giáo lý thì được thưởng ít hơn. Mục đích là thúc đẩy các em ngoài việc học văn hoá còn phải chăm lo việc học Giáo lý, vì Giáo lý là căn bản của một Kitô hữu và là cốt lõi của việc loan báo Tin mừng.

Tối ngày 29/9, Cha Tổng Đại diện Antôn Dương Quỳnh cũng là Quản xứ Chính toà đã gặp gỡ các em tân sinh viên và cha mẹ các em. Ngài đặc biệt chúc mừng các phụ huynh đã đạt được ước nguyện và không uổng công khi chăm lo cho con cái học hành, Ngài cũng chúc mừng các em đã không phụ công lao cha mẹ đã hêt lòng lo lắng cho các em ăn học nên người, đạt được kết quả tốt đẹp như lòng Chúa mong ước.

Buổi lễ phát thưởng được tổ chức long trọng vào ngày lễ Thánh Nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu, cũng là ngày khai mạc đọc kinh tháng Đức Mẹ Mân Côi do Hội đồng Giáo xứ phụ trách, nhằm tôn vinh các em và cha mẹ các em.

Thánh lễ trọng thể do Cha Tổng Đại diện chủ tế với đoàn rước là các em tân sinh viên và cha mẹ được ngồi vào hàng ghế danh dự.

Mở đầu Thánh lễ, Cha Chủ tế thay mặt Giáo xứ chúc mừng các em và gia đình có con em thi đậu vào Đại học năm nay. Ngài mời gọi các em dâng lời tạ ơn Thiên Chúa, Đức Mẹ Mân Côi, Thánh Cả Giuse, Thánh Nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu đã luôn nâng đỡ các em trong bước đường học tập để có được kết quả tốt đẹp như ngày hôm nay.

Đặc biệt để đề cao các em có số điểm cao, Cha Quản xứ đã chọn những em này được vinh dự lên đọc sách Thánh, Lời nguyện tín hữu và dâng lễ vật.

Sau Thánh lễ, ông Nguyễn Quang là phụ huynh của em đạt điểm cao nhất (25 điểm) được chọn thay mặt phụ huynh lên đọc lời cảm ơn Cha Quản xứ, quý Cha phó, HĐGX và cộng đoàn đã yêu thương và tạo điều kiện cho các em được tôn vinh trong ngày lễ long trọng nay. Đồng thời cảm ơn các ân nhân trong Giáo xứ đã hết lòng thương yêu, nâng đỡ và khuyến khích các em học tập văn hoá cũng như Giáo lý hầu sau này góp phần vào việc xây dựng Giáo Hội, Giáo xứ và xã hội.

Cha Chủ tế, Ông Chủ tịch HĐGX và Chị Nguyễn Thị Nga trưởng ban Văn hoá Xã hội đã trao tặng quà và hiện kim cho các em trong tiếng vỗ tay chúc mừng của Giáo xứ.

Một tấm hình lưu niệm để các em ghi nhớ kỷ niệm ngày ngày bước vào giảng đường Đại học với biết bao vinh dự không chỉ cho các em mà còn cho cả gia đình.

Trương Trí
Phụng Vụ - Mục Vụ
Mỗi ngày một câu danh ngôn của các thánh
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.01/10/2014
N2T

60. Sống trong tình yêu, tức là không có thước tấc cho sự bố thí, và cũng không mong được đền đáp.

(Thánh Terese of Lisieux)

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
(Dịch và trích trong "Cách ngôn thần học tu đức")

------------
http://www.vietcatholic.net
http://www.vietcatholic.net/nhantai
http://nhantai.info
Mỗi Ngày Một Câu Chuyện
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.01/10/2014
SỐ KHÔNG TRÊN BẢNG ĐEN
N2T

Một hôm trong cuộc họp của khối học vụ, hiệu trưởng viết lên bảng đen một số không (0), và hỏi các thầy cô giáo hiện diện, đây là ký hiệu gì ?
Thầy giáo Anh văn nói: “Là chữ O, chữ cái của Anh văn.”
Thầy giáo số học nói: “Là số 0 của chữ số Ả Rập.”
Thầy giáo quốc văn nói: “Là một dấu chấm câu.”
Thầy giáo hóa học nói: “Là ký hiệu “ô xy” của nguyên tố căn bản”.
Thấy dạy môn gia chánh nói: “Là giống như cái bánh.”
Thầy dạy âm nhạc nói: “Là dấu ngừng trong dấu nhạc.”
(Trích trong "Ngôn ngữ kỳ diệu của tâm hồn")

Suy tư:
Một linh mục giảng hay và đánh động tâm hồn người khác là khi ngài đã sống và cảm nghiệm được Lời Chúa trong bài Tin Mừng hôm đó, khiến cho các thành phần tín hữu tham dự đều hiểu và dễ dàng áp dụng Lời Chúa vào trong hoàn cảnh nghề nghiệp của mình:
- Các cụ già hiểu và sống Lời Chúa với tuổi già.
- Các thanh niên nam nữ hiểu và sống Lời Chúa với hoàn cảnh của mình.
- Các trẻ em hiểu và sống Lời Chúa với lứa tuổi của mình.
- Các bác sĩ, thầy giáo, các công nhân lao động, các chị em buôn bán ngoài chợ.v.v...cũng thấy Lời Chúa đang nói với mình trong thánh lễ...
Đó chính là sự thành công của các linh mục, bởi vì các ngài đã biết cách làm cho Lời Chúa không những trở thành món ăn hợp khẩu vị của mọi thành phần dân Chúa, mà còn biến Lời Chúa thành tấm gương soi sáng cho các nghề nghiệp và các hoàn cảnh của tín hữu.
Chỉ một số không (0) mà các thầy giáo đều thấy được nó có liên quan đến nghề nghiệp của mình, thì đúng là số không kỳ diệu.
Lời Chúa làm cho người Ki-tô hữu nên thánh, không phải trong nghề nghiệp của người khác, mà nên thánh ngay trong chính nghề nghiệp và bổn phận của chính mình, đó chính là điều kỳ diệu vĩ đại của Lời Chúa, cũng như qua cách suy tư và cách thực hành Lời Chúa của các linh mục vậy.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
dịch và viet suy tư

--------------
http://www.vietcatholic.net
http://www.vietcatholic.net/nhantai
http://nhantai.info
Lời Kinh Mân Côi gần gũi trong cuộc sống
Lm Giuse Nguyễn Hữu An01/10/2014
Phụng vụ bước vào tháng Mân côi. Suốt tháng này, lòng sùng kính của dân Chúa đối với Đức Mẹ mang một đặc điểm riêng. Đó là cầu nguyện bằng chuỗi Mân côi. Mọi tín hữu được cùng với Đức Mẹ trên từng cây số cuộc đời Chúa Giêsu và theo phong cách của Đức Mẹ là “lưu giữ và suy niệm trong lòng” qua từng lời kinh chuỗi hạt Mân côi. Tràng hạt Mân côi là một hành trang và là phương tiện “bỏ túi”, “đeo tay” “đeo cổ” gọn nhẹ. Lời kinh kỳ diệu này giúp thánh hóa bản thân, gia đình và xã hội. Kinh Mân côi không khác gì điện thoại di động hòa đời người vào mạng lưới sự sống thiêng liêng.

Chuỗi Mân Côi trong tiếng Latinh là “rosarium” nghĩa là “vườn hoa hồng”. Tháng 10, lần hạt Mân côi, đoàn con cái hiếu thảo dâng biết bao hoa hồng lên Đức Mẹ. Bằng chuỗi Mân côi, Giáo Hội trở thành một vườn hồng mênh mông, hương thơm sắc đẹp tiến dâng Mẹ hiền.

1. Kinh Mân côi đem lại nhiều ơn ích thiêng liêng

Chuỗi Mân côi thật cao quí, ai biết siêng năng lần hạt sẽ nhận được hiệu quả phi thường.

Vào thế kỷ 13, bè rối Albigeois nổi lên ở miền Nam nước Pháp. Với Chuỗi Mân côi do Đức Mẹ truyền dạy, chỉ trong một thời gian ngắn, thánh Đaminh đã cảm hóa được 150.000 người theo bè rối trở về cùng Giáo Hội.

Thế kỷ 16, ảnh hưởng của Tin lành mạnh mẽ và đe dọa toàn cõi Âu Châu. Dân thành Luxembourg vẫn trung thành với Giáo Hội. Hôm ấy toàn thể dân phố được mời tới nhà thờ để nghe giảng thuyết. Khi vị mục sư bước lên tòa giảng, một người giáo dân xướng kinh và tất cả nhà thờ đều lần hạt to tiếng cho đến lúc vị mục sư phải bước xuống tòa giảng và ra khỏi nhà thờ. Nhờ kinh Mân côi, dân thành Luxembourg giữ vững niềm tin và trung thành với Giáo Hội.

Năm 1511, lịch sử được chứng kiến một thành quả vĩ đại của Kinh Mân côi mang lại. Chính biến cố lịch sử này là nguồn gốc lễ kính Thánh Mẫu Mân côi. Khi ấy quân Hồi xâm lăng Âu Châu, tàn phá những nơi họ đi qua, tiêu diệt dân Công Giáo. Cùng với việc triệu tập đạo quân thánh giá từ hai nước Ý và Tây Ban Nha, Đức Giáo Hoàng Piô V kêu gọi mọi người siêng năng lần chuỗi Mân côi. Cuộc chiến quá chênh lệch đã diễn ra tại vịnh Lepante, nhưng với quân số ít ỏi và khí giới thô sơ, người Công Giáo đã thắng trận vẻ vang trước đoàn quân Hồi giáo đông đảo và trang bị hùng hậu. Từ Roma, Đức Giáo Hoàng nghe tin chiến thắng và nói với các vị trong giáo triều hãy tạ ơn Chúa. Hôm đó là ngày 07 tháng 10. Đức Giáo Hoàng đã thiết lập lễ Mân côi để tạ ơn Đức Mẹ và ghi nhớ cuộc chiến thắng lịch sử này.

Trước năm 1917, Bồ Đào Nha ở vào một tình trạng suy thoái một cách trầm trọng về phương diện tôn giáo. Gần hai thế kỷ, óc bè phái đã gây nên những chia rẽ và những cuộc nội chiến. Giáo Hội bị bách hại bởi những kẻ theo nhóm tam điểm. Nhà thờ bị phá hủy, các linh mục và tu sĩ bị bắt bớ, khắp nơi người ta tổ chức những đoàn hội chống lại Giáo Hội. Thế nhưng kể từ năm 1917, năm Đức Mẹ hiện ra tại Fatima, Bồ Đào Nha đã đi vào một khúc quanh mới của lịch sử. Người ta tổ chức những đoàn hội chuyên lo lần hạt Mân côi để xin Mẹ chấm dứt những xáo trộn và ban mọi ơn lành xuống cho đất nước. Bồ Đào Nha đã xứng đáng với tước hiệu quê hương của kinh Mân côi.

Lịch sử còn ghi lại nhiều thành quả kỳ diệu khác nữa của Kinh Mân côi. Chẳng hạn Kinh Mân côi đã mang lại chiến thắng tại Vienna ngày 12 tháng 9 năm1683, hay đã chấm dứt bệnh dịch tại Milan... Chuỗi Mân côi vẫn còn là một phương thế cứu rỗi hữu hiệu của mỗi tín hữu. Khi hiện ra tại Lộ Đức hay tại Fatima, Đức Mẹ đều kêu gọi chúng ta hãy siêng năng lần chuỗi Mân côi.

Tạp chí Reader’s Digest số ra tháng 4 năm 1991 có kể lại cuộc gặp gỡ kỳ thú giữa Mẹ Têrêxa Calcutta và một thương gia người Mỹ như sau:

Trên chuyến máy bay từ Chritiamy về Thanasity, thương gia trẻ tên là Jim Caiso ngồi kề bên Mẹ Têrêsa và một nữ tu khác. Jim Caiso nhận ra ngay khuôn mặt của người nữ tu thường được báo chí nhắc đến. Khi những người khách cuối cùng ngồi vào yên vị trên máy bay thì Jim thấy hai người nữ tu từ từ rút chuỗi ra khỏi áo và lâm râm cầu kinh. Tuy không phải là một người Công Giáo sùng đạo nhưng Jim cũng cảm thấy bị lôi cuốn bởi sự cầu kinh của hai người nữ tu. Khi máy bay đã lên cao, Mẹ Têrêsa quay nhìn người thanh niên và hỏi: - Anh có thường lần chuỗi không?

Anh trả lời:- Thưa không.

Anh vừa trả lời thì Mẹ cầm tay anh, trao cho anh tràng chuỗi rồi mỉm cười nói: - Vậy thì hãy bắt đầu lần chuỗi đi.

Ra khỏi phi trường Jim vẫn còn cầm trên tay tràng chuỗi của Mẹ Têrêsa Calcutta. Anh kể lại cho vợ nghe cuộc gặp gỡ với Mẹ Têrêsa và kết luận như sau: “Anh có cảm tưởng như mình đã gặp một nữ tu đích thực của Chúa”.

Chín tháng sau, Jim và vợ anh đến thăm một người đàn bà đã từng là bạn của hai người từ nhiều năm qua. Người đàn bà này bác sĩ cho biết bà đã bị ung thư tử cung. Theo các bác sĩ, đây là trường hợp đáng lo ngại. Nghe thế, Jim đưa tay vào túi quần, rút ra tràng chuỗi của Mẹ Têrêsa Calcutta và trao cho người bạn. Anh nói: - Chị cầm lấy cái này, nó sẽ giúp chị.Mặc dù không phải là người Công Giáo, người bạn này vẫn mở rộng bàn tay ra và trân trọng đón nhận món quà quí giá ấy. Một năm sau gặp lại vợ chồng Jim, người đàn bà vui vẻ cho biết bà đã mang trong mình tràng chuỗi trong suốt năm qua và giờ đây trao lại cho Jim để may ra có thể còn giúp đỡ cho người khác. Trong thời gian đó, người chị vợ của Jim đang bị khủng hoảng sau cuộc ly dị, bà cũng muốn được mượn tràng chuỗi của Jim. Sau này bà kể lại rằng: - Hằng đêm, tôi đeo chuỗi vào người. Tôi rất cô đơn và sợ hãi, nhưng khi mang chuỗi vào người, tôi cảm thấy như đang cầm lấy một bàn tay thân yêu.Tràng chuỗi mầu nhiệm ấy không mấy chốc đã được trao từ tay người này đến người khác. Mỗi khi gặp khủng hoảng hay bệnh tật, người ta thường gọi điện thoại đến Jim để mượn cho bằng được tràng chuỗi ấy.

Jim suy nghĩ: phải chăng tràng chuỗi có một sức mạnh lạ lùng, hay đúng hơn, sức mạnh tinh thần được canh tân nơi tất cả những ai mượn tràng chuỗi ấy. Jim chỉ biết rằng, hễ có ai ngỏ ý mượn tràng chuỗi, anh luôn đáp trả một cách vui vẻ, và lần nào anh cũng căn dặn: “Khi nào không cần nữa cho tôi xin lại. Có thể sẽ có người khác cần đến”.

Cuộc sống của Jim cũng thay đổi kể từ cuộc gặp gõ đó với Mẹ Têrêsa Calcutta. Khi Jim nhớ lại rằng: Mẹ Têrêsa mang tất cả hành lý của Mẹ trong cái xách tay nhỏ, anh cũng cảm thấy được thôi thúc để làm cho cuộc sống của anh được đơn giản hơn. Anh nói như sau: - Tôi luôn cố gắng nhớ rằng: điều quan trọng trong cuộc sống không phải là tiền bạc, danh vọng mà chính là tình yêu chúng ta dành cho người khác.

2. Kinh Mân côi, một kho tàng quý giá của Giáo Hội.

Chuỗi hạt Mân côi 200 hạt, 150 hạt, 50 hạt hay 10 hạt được dùng để đếm số Kinh Kính mừng là “…lời ca tụng Đức kitô không ngừng. Đức Kitô được nhắc đến trong mỗi Kinh Kính Mừng cũng là Đấng được trình bày trong chuỗi các mầu nhiệm: Người là Con Thiên Chúa và là Con Đức Trinh Nữ…” (ĐGH Phaolô VI, Rosamrum Virginis Mariae, số 18).

Chuỗi Mân côi lần lượt diễn tả:

- Mầu nhiệm Vui: đồng hành với mầu nhiệm Nhập thể và đời sống âm thầm của Chúa Giêsu.
- Mầu nhiệm Sáng: đồng hành với những mốc thời gian hoạt động đặc biệt có ý nghĩa trong cuộc đời công khai của Chúa Giêsu.
- Mầu nhiệm Thương: đồng hành với những đau khổ của cuộc khổ nạn Chúa Giêsu.
- Mầu nhiệm Mừng: đồng hành với vinh quang phục sinh của Đức Kitô.

Vì thế, Chuỗi Mân côi là kho tàng thiêng liêng quý giá của Giáo Hội.

Thánh Gioan Phaolô II nói: “ Chuỗi Mân côi là lời kinh tuyệt diệu, tuyệt diệu trong đơn sơ và trong sâu thẳm của nó...”.

Đức Thánh Cha Lêô XIII là vị Giáo Hoàng của kinh Mân côi. Ngài đã ban hành 12 thông điệp nói về Kinh Mân côi. Ngài đã thiết lập tháng Mân côi và thêm vào kinh cầu Đức Bà câu: Nữ vương rất thánh Mân côi, cầu cho chúng con.

Đức Thánh Cha Piô X đã nhắn nhủ các gia đình Công Giáo: “Khi gia đình được an vui hoà thuận, hãy lần chuỗi Mân côi để xin Mẹ ban cho sự an vui hoà thuận yêu thương. Khi gặp người chồng thiếu trách nhiệm, hãy chạy đến với Mẹ nhờ tràng chỗi Mân côi, để xin Mẹ cảm hoá. Khi vợ chồng xung khắc nhau, hãy lần chuỗi Mân côi, xin Mẹ tạo sự cảm thông”.

Thánh Piô Năm Dấu Thánh chia sẻ: “Vũ khí của tôi là tràng hạt Mân côi. Đức Mẹ không từ chối tôi điều gì khi tôi xin với Mẹ qua chuỗi Mân côi. Muốn làm Đức Mẹ vui lòng và muốn được Đức Mẹ thương yêu hãy lần chuỗi Mân côi”.

Cha Stefano Gobbi viết: “Chuỗi Mân côi mang lại hòa bình cho bạn. Với lời Kinh Mân côi, bạn sẽ có thể nhận được từ Thiên Chúa hồng ân vĩ đại nhất là canh tân đời sống, thu phục các linh hồn về với Chúa trong sự ăn năn tội, tình yêu và thánh ân”. Và “Chuỗi Mân côi là lời kinh của tôi. Những lời kinh này dù khiêm nhường và mong manh cũng sẽ nên như xích sắt để khóa lại quyền lực tối tăm của thế giới, kẻ thù của thế giới và của các tín hữu”.

Đức Thánh Cha Piô IX đã khuyên nhủ: hãy lần chuỗi mỗi buổi tối trong gia đình.
Đức Thánh Cha Piô X cũng nhắc bảo: Nếu các con muốn cho gia đình được bình an, thì hãy lần hạt mỗi buổi tối.
Đức Thánh Cha Piô XI viết:Chúng tôi khuyên các bậc làm cha làm mẹ hãy tập cho con cái mình thói quen lần chuỗi. Mỗi lần tiếp kiến các đôi vợ chồng trẻ, chúng tôi đều khuyên nhủ họ hãy siêng năng lần chuỗi. Ngay cả chúng tôi nữa, không ngày nào mà chúng tôi không lần chuỗi.
Đức Thánh Cha Piô XII khuyên nhủ các bạn trẻ : Hãy yêu mến Mẹ qua việc lần chuỗi Mân côi. Năm 1951 ngài đã ra thông điệp về Kinh Mân côi, và xin các tín hữu hãy lần chuỗi gấp đôi trong tháng Mân côi. Trong một lần tiếp kiến, ngài nói với một vị Giám mục :

- Hãy yêu cầu các linh mục của ngài cầu nguyện và hãy nói cho họ biết : Đức Thánh Cha vẫn lần chuỗi mỗi ngày.

Khi về già, trước lúc đi ngủ, dù là nửa đêm, ngài cũng vẫn lần chuỗi.

Thánh Gioan XXIII, ngay trong năm đầu của triều đại cũng đã ra một thông điệp về Kinh Mân côi.

Thánh Gioan Phaolô II, ngay trong tuần lễ sau khi đắc cử Giáo Hoàng, đã nói với tất cả các tín hữu hiện diện tại quảng trường Thánh Phêrô khi đọc kinh Truyền Tin: “Chuỗi Mân côi là lời cầu nguyện mà tôi yêu thích nhất. Đó là lời kinh tuyệt vời. Tuyệt vời trong sự đơn giản và sâu sắc. Với lời kinh này chúng ta lập lại nhiều lần những lời mà Đức Trinh Nữ đã nghe sứ thần Gabriel và người chị họ Êlisabeth nói với Mẹ. Toàn thể Giáo Hội cùng liên kết với những lời kinh ấy”.

Các Đức Thánh Cha đều khẳng định về sự tuyệt diệu của Kinh Mân côi và mong muốn mọi tín hữu hãy siêng năng lần chuỗi. Các tín hữu đã đáp trả lời mời gọi tha thiết ấy.

Đức Mẹ rất yêu mến những ai siêng năng đọc Kinh Kính Mừng. Qua kinh Mân côi, chúng ta lặp đi lặp lại không những một hai lần Kinh Kính Mừng, nhưng là đọc đi đọc lại cả một trăm năm mươi lần, như một trăm năm mươi đóa hoa hồng dâng kính Mẹ, như lời Đức Giáo Hoàng Piô V đã nói: “Đây là việc tôn kính Đức Trinh Nữ Maria bằng cách đọc một trăm năm mươi Kinh Kính Mừng, theo con số các thánh vịnh của Đavít, chia thành từng chục kinh một với một Kinh Lạy Cha, đồng thơi suy ngắm các mầu nhiệm về toàn thể cuộc đời của Chúa Giêsu Kitô.”.

3. Kinh Mân côi, lời kinh gần gũi cuộc sống

Sau hai mươi lăm năm, tức là vào dịp mừng Ngân khánh Giáo Hoàng, trong Tông thư “Kinh Mân côi”, một lần nữa, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ân cần nhắc lại kỷ niệm xưa mà nay đã trở thành xác tín: Kinh Mân côi là lời kinh kỳ diệu. Đơn giản trong hình thức, đơn sơ trong nội dung, nhưng không đơn thuần là một kinh dành cho giới bình dân như có thời người ta nghĩ, nhất là sau Vatican II khi Phụng Vụ tìm lại được vị thế đỉnh cao và trung tâm.

Kinh Mân côi là kinh hạt phổ quát cho hết mọi người, phổ cập cho mọi trình độ và phổ biến trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Ngày nay nhiều người phàn nàn không có giờ đọc kinh vì phải lo học hành, lo làm ăn xuôi ngược. Chuỗi hạt Mân côi sẽ nuôi dưỡng đời sống nội tâm phong phú. Con người hôm nay mệt mỏi, lo âu, căng thẳng, vội vã. Chuỗi Mân côi làm lòng người lắng dịu, thanh thản bình an để chiêm ngắm cuộc đời Chúa Giêsu và ca ngợi Mẹ.

Đức Giáo Hoàng Phaolô VI khích lệ: “Bản chất việc đọc kinh Mân côi đòi hỏi nhịp điệu phải chậm rãi và có thời gian thư thả, để người ta có thời gian suy gẫm sâu xa về các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Giêsu được nhìn qua Trái Tim của Đấng gần gũi nhất với Chúa.”.

Điều thuận lợi của chuỗi Mân côi là lần hạt ở đâu cũng được. Ta không buộc phải đọc 50 Kinh Mân côi một lần mà có thể đọc bao nhiêu tuỳ vào thời gian ta có. Ta cũng có thể vừa làm việc vừa đọc Kinh Mân côi, không nhất thiết phải có tràng hạt trên tay. Ta cũng có thể thì thầm bất cứ lúc nào : khi chờ xe bên đường, lúc đi học, khi giải trí, khi đau bệnh … thay vì đưa mắt nhìn chung quanh, thay vì nghe những chuyện không đâu, ta cũng có thể lần hạt. Dù bận bịu đến đâu ta cũng có thể lần hạt. Đó là cách cầu nguyện mà triết gia Jacques Maritain gọi là “chiêm niệm bên vệ đường”.

Kinh Mân côi là một vũ khí, nhưng là vũ khí hòa bình luôn đem lại hiệu quả tích cực. Ai yếu đuối, Kinh Mân côi đem cho sức mạnh; ai tội lỗi, Kinh Mân côi dắt về ơn thánh; ai bất hạnh, Kinh Mân côi giúp bình tĩnh tìm ra hướng lối vươn lên; ai khô khan, Kinh Mân côi giúp khám phá ra những ánh lửa vẫn còn ẩn giấu trong những đám tro tưởng như nguội lạnh.

Kinh Mân côi là một kinh quý báu của Giáo Hội và của mọi người, đó là kinh phổ biến, vừa dễ đọc vừa dễ cầu nguyện mà lại mang lại nhiều ích lợi cho linh hồn.

Lạy Mẹ Maria, xin dạy con biết yêu mến tràng Chuỗi Mân côi, siêng năng lần hạt trong mỗi ngày sống và xin Mẹ khẩn cầu cho con bên tòa Chúa. Amen.
Cách lần hạt kinh Mân Côi
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ01/10/2014
CÁCH LẦN HẠT MÂN CÔI

Chúng ta bắt đầu lần hạt bằng việc làm Dấu Thánh Giá : « Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần. Amen.

Tiếp đến chúng ta đọc kinh Tinh Kính để tuyên xưng Đức tin.

Sau đó, hạt thứ nhất, chúng ta đọc kinh Lạy Cha, ba hạt tiếp theo chúng ta đọc : 3 kinh Kính Mừng và hạt thứ 4 là kinh Sáng Danh : « Sáng Danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần, như đã có trước vô cùng, và bây giờ, và hằng có và đời đời chẳng cùng. Amen. » Tưởng nhớ đến tình yêu và tôn thờ Thiên Chúa Ba Ngôi.

Kế đến, cùng với Đức Maria, chúng ta suy niệm một biến cố trong cuộc đời của Chúa Giêsu (quen gọi là các mầu nhiềm, các mầu nhiệm này khơi dậy lên trong ta những niềm vui, cuộc khổ nạn và vinh quang của Chúa Giêsu), dựa trên Thánh Kinh.

Kinh Lạy Cha

10 kinh Kính Mừng

Kinh Sáng Danh

Chúng ta lặp lại 5 lần theo các hạt được sắp xếp như ta thấy trong tràng chuỗi mân côi.

Ở mỗi mầu nhiệm, người ta có thể thêm vào một suy niệm tắt nhân danh Chúa Giêsu liên quan đến mầu nhiệm đang suy niệm. Chẳng hạn như, « Đức Bà dâng Đức Chúa Giêsu trong Đền Thánh » hay « Đức Chúa Giêsu chịu đội mạo gai » hoặc « Đức Chúa Giêsu sống lại ». Ta cũng có thể thêm vào những ý nguyện riêng của chúng ta.

Năm Sự Vui

Suy niệm vào thứ Hai và thứ Bẩy

Truyền tin ( tự do), Thăm viếng ( đến với tha nhân), Giáng Sinh ( đến với Đức Kitô ), Dâng Chúa nơi Đền Thánh ( trao ban cho người khác những điều tốt), tìm thấy Chúa Giêsu trong Đền Thánh ( tìm kiếm Chúa Giêsu trong mọi sự).

Năm Sự Thương :

Suy niệm vào thứ Ba và thứ Sáu

Đức Chúa Giêsu lo buồn đổ mồ hôi máu trong Vườn Cây Dầu ( lặp lại lời thưa Xin Vâng ý Cha), Đức Chúa Giêsu chịu đánh đòn ( tin tưởng vào Thiên Chúa), Đức Chúa Giêsu chịu đội mạo gai ( ở khiêm nhường), Đức Chúa Giêsu vác cây Thánh giá ( vác thánh giá mình hàng ngày), Đức Chúa Giêsu chịu đóng đanh và chịu chết trên cây Thánh giá ( đốt nóng tình yêu đối với Chúa).

Năm Sự Mừng

Suy niệm vào ngày thứ Tư và Chúa Nhật

Chúa sống lại ( sống đổi mới nơi con người), Chúa lên trời ( ái mộ những sự trên trời), Chúa Thánh Thần hiện xuống ( để Chúa Thánh Thần hướng dẫn), cho Đức Bà lên trời (xin cho được ơn chết lành), trao tặng Mẹ triều thiên ( phó thác cho Đức Trinh Nữ Maria).

Năm Sự Sáng

Suy niệm vào thứ năm

Đức Kitô chịu phép rửa tại sông Giodan, phép lạ tại Cana, sự kêu gọi hoán cải, Biến hình, thiết lập Bí tích Thánh Thể.

Lời dẫn nhập

« Tràng chuỗi Mân Côi là một phương thế tuyệt hảo để cùng Mẹ Maria ngắm nhìn Chúa Kitô » (trích Tông Thư Kinh Mân Côi). Đó là lý do tại sao chúng ta yêu thích việc lần chuỗi Mân Côi.

Sau mỗi chục Kinh Kính Mừng, Giáo Hội mời gọi chúng ta suy niệm một biến cố trong cuộc đời của Chúa Giêsu :

NĂM SỰ VUI: chúng ta suy niệm biến cố Con Thiên Chúa làm người mà đỉnh cao là sự Giáng sinh của Con Một Chúa

NĂM SỰ THƯƠNG: chúng ta suy niệm biến cố tử nạn đau thương của Chúa Giêsu hoàn tất bởi cái chết trên thập giá.

NĂM SỰ MỪNG: chúng ta khởi đầu suy niệm bằng biến cố Phục sinh của Chúa Giêsu.

Ba tràng chuỗi Mân Côi của ba mùa VUI, THƯƠNG, MỪNG, liên tiếp nhau như thế, người ta gọi là «phép Lần Hạt Mân Côi ».

NĂM SỰ SÁNG: Nhân dịp Đại Năm Thánh 2000, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã đề nghị Giáo Hội thêm vào Phép Lần Hạt Mân Côi năm mầu nhiệm khác nữa là NĂM SỰ SÁNG. NĂM SỰ SÁNG này qui chiếu về những biến cố mà Chúa Giêsu đã sống, cụ thể như : biến cố Chúa Giêsu chịu Phép Rửa tại sông Giordan ; biến cố Chúa Giêsu được mời tham dự tiệc cưới tại Cana ; khởi đầu sứ mạng loan báo Tin Mừng của Chúa Giêsu ; Chúa Giêsu biến hình trước mặt ba môn đệ, và cuối cùng là biến cố Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể vào bữa ăn sau hết.

Đó là NĂM MẦU NHIỆM SỰ SÁNG mà bây giờ chúng ta cùng với Mẹ Maria suy ngắm. Hiệp thông cùng toàn thể Hội Thánh khắp muôn phương, chúng ta tạ ơn Thiên Chúa trong giờ phút này với muôn điều kỳ diệu Chúa đã làm ; giờ tôn vinh các thiên thần, chia sẻ vình quang của Con Một Chúa. Cùng với Mẹ Maria, chúng ta có thể quay hướng về Chúa Giêsu, đón rước Chúa vào trong đời sống chúng ta.

*Hát bài thích hợp : Ave Maria !

Lạy Cha, đời sống của Chúa Giêsu Con Cha là một cuộc hành trình, khởi đi từ biến cố chịu phép rửa cho đến lúc Người Phục Sinh. Đức Maria, Mẹ Người là môn đệ đầu tiên đã dõi bước theo Con trong đức tin. Giờ đây xin Cha cho Mẹ đồng hành với chúng con trong giờ kinh nguyện này, ước gì việc suy niệm các mầu nhiệm thánh này là một hành trình đức tin. Chúng con cầu xin Cha, Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.

*Hát bài : Năm Xưa Trên Cây Sồi

Làm dấu Thánh Giá

Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần. Amen.

Kinh Tin Kính:

Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất. Tôi tin kính Đức Chúa GiêSu Kitô là con một Đức Chúa Cha cùng là Chúa chúng tôi; bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà người xuống thai, sinh bởi Bà Maria đồng trinh: chịu nạn đời quan Phong-xi-ô Phi-la-tô, chịu đóng đanh trên cây Thánh Giá, chết và táng xác, xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết sống lại; lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng; ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết. Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần. Tôi tin có hội Thánh hằng có ở khắp thế này, các Thánh thông công. Tôi tin phép tha tội tôi tin xác loài người ngày sau sống lại. Tôi tin hằng sống vậy, Amen.

Kinh Lạy Cha

Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng; nước Cha trị đến; ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày; và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con; xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ: nhưng cứu chúng con cho khỏi mọi sự dữ. Amen.

Kinh Kính Mừng

Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ. Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có tội khi này và trong giờ lâm tử. Amen.

Kính mừng...

Kính mừng...

Kinh Sáng Danh

Sáng danh Đức Chúa Cha, và Đức Chúa Con, và Đức Chúa Thánh Thần. Như đã có trước vô cùng, và bây giờ, và hằng có, và đời đời chẳng cùng. Amen.

Lời nguyện Mân Côi

Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội cho chúng con. Xin cứu chúng con khỏi sa hỏa ngục, xin đem các linh hồn lên thiên đàng, nhầt là những linh hồn cần đến lòng Chúa thương xót hơn.

Kinh Lạy Nữ Vương

Lạy Nữ Vương, Mẹ nhân lành, làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy, thân lạy Mẹ. Chúng con, con cháu E-và, ở chốn khách đầy, kêu đến cùng Bà, chúng con ở nơi khóc lóc than thở kêu khẩn Bà thương. Hỡi ôi! Bà là Chúa bầu chúng con, xin ghé mặt thương xem chúng con. Đến sau khỏi đày, xin cho chúng con được thấy Đức Chúa Giêsu, Con lòng Bà gồm phúc lạ. Ôi khoan thay! Nhân thay! Dịu thay! Thánh Maria trọn đời đồng trinh. Amen.

NĂM SỰ VUI

Thứ nhất thì ngắm: Thiên thần truyền tin cho Đức Bà chịu thai. Ta hãy xin cho được ở khiêm nhường.

Thứ Hai thì ngắm: Đức Bà đi viếng bà thánh Isave. Ta hãy xin cho được lòng yêu người.

Thứ Ba thì ngắm: Đức Bà sinh Đức Chúa Giêsu trong hang đá. Ta hãy xin cho được lòng khó khăn.

Thứ Bốn thì ngắm: Đức Bà dâng Đức Chúa Giêsu trong đền Tha'nh. Ta hãy xin cho đọc vâng lời chịu lụy.

Thứ Năm thì ngắm: Đức Bà tìm được đức Chúa Giêsu trong đền thánh. Ta hãy xin cho đươc giữ nghĩa cùng Chúa luôn.

NĂM SỰ SÁNG

Thứ nhất thì ngắm: Đức Chúa Giêsu chịu phép Rửa tại sông Gio-đan. Ta hãy xin cho được sống xứng đáng là con Thiên Chúa.

Thứ Hai thì ngắm: Đức Chúa Giêsu làm phép tại tiệc cưới Cana. Ta hãy xin cho được noi gương Đức Mẹ mà vững tin vào Chúa.

Thứ Ba thì ngắm: Đức Chúa Giêsu rao giảng Nước Trời và kêu gọi sám hối. Ta hãy xin cho cho được tin vào lòng Chúa thương xót và siêng năng lãnh nhận Bí tích giao hòa.

Thứ Bốn thì ngắm: Đức Chúa Giêsu biến hình trên núi. Ta hãy xin cho được biến đổi nhờ Chúa Thánh Thần.

Thứ Năm thì ngắm: Đức Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể. Ta hãy xin cho được sốt sáng tham dự Thánh lễ và rước Mình Máu Thánh Người.

NĂM SỰ THƯƠNG

Thứ Nhất thì ngắm: Đức Chúa Giêsu lo buồn đổ mồ hôi máu. Ta hãy xin cho được ăn năn tội nên.

Thứ Hai thì ngắm: Đức Chúa Giêsu chịu đánh đòn.Ta hãy xin cho được hãm mình chịu khó bằng lòng.

Thứ Ba thì ngắm: Đức Chúa Giêsu chịu đội mão gai. Ta hay xin cho đươc chiu moi sự sỉ nhục băng lòng.

Thứ Bốn thì ngắm: Đức Chúa Giêsu vác cây thánh giá .Ta hãy xin cho được vác thánh giá theo chân Chúa.

Thứ Năm thì ngắm: Đức Chúa Giêsu chịu chết trên cây thánh giá.Ta hãy xin đóng đinh chính thịt xác thịt vào Thánh giá Chúa.

NĂM SỰ MỪNG

Thứ nhất thì ngắm: Đức Chúa Giêsu sống lại. Ta hãy xin cho được sống lại thật về phần linh hồn.

Thứ Hai thì ngắm: Đức Chúa Giêsu lên trời. Ta hãy xin cho được. aí mộ những sự trên trời.

Thứ Ba thì ngắm: Đức Chúa Thánh thần hiện xuống. Ta hãy xin cho được lòng đầy dẫy mọi ơn Đức Chúa Thánh Thần.

Thứ Bốn thì ngắm: Đức Chúa Trời cho Đức Mẹ lên trời. Ta hãy xin ơn chết lành trong tay Đức Mẹ.

Thứ Năm thì ngắm: Đức Chúa Trời thưởng Đức Mẹ trên trời. Ta hãy xin Đức Mẹ phù hộ cho ta được thưởng cùng Đức Mẹ trên nước thiên đàng.

SUY NIỆM NĂM SỰ SÁNG

Thứ nhất thì ngắm: Đức Chúa Giêsu chịu phép Rửa tại sông Gio-đan. Ta hãy xin cho được sống xứng đáng là con Thiên Chúa.

Đọc Kinh Thánh

Tin Mừng Đức Giêsu Kitô theo thánh Maccô (1, 9 -11)

Và xảy ra là trong những ngày ấy, Ðức Yêsu bỏ Nazaret, xứ Galilê, và đã được Yoan thanh tẩy cho trong sông Yorđan. Vừa lên khỏi nước, Ngài thấy trời xé ra và Thần khí, như con chim câu, đáp xuống trên Ngài; Và một tiếng phát ra tự trời:"Con là con chí ái Ta, kẻ Ta sủng mộ "

*Suy niệm

Trải qua mọi thời, phần đông những người nam phụ cũng như lão ấu, dù là khách hành hương hay du lịch, người kitô giáo hay người thiện tâm đều đã chạy đến với Mẹ Maria.

Và hàng năm trong Giáo Hội có nhiều thanh niên, thiếu nhi và trẻ em lãnh nhận phép Rửa tội, đó là cách nối dài phép rửa của Chúa Giêsu tại sông Giođan. Cùng với Chúa Giêsu chúng ta được dự phần vào phép rửa trong Chúa Thánh Thần để được ơn tha tội.

Chúng ta tham dự vào phép rửa mà Đức Kitô đã lãnh nhận bởi ông Gioan, phép rửa mà Người đã hoàn tất khi dâng hiến đời mình cho Thiên Chúa Cha và lãnh phần thưởng phục sinh trong tay Ngài.

Nhờ phép Rửa tội được trao ban trong Giáo Hội, chúng ta có thể bước vào Giao ước mới, giao ước vĩnh cửu.

Cũng như Chúa Giêsu, chịu phép rửa bởi tay Gioan Baotixita trong dòng sông Giođan, những ai chịu phép rửa tội ở thế hệ chúng ta không cô đơn. Họ được những người đồng hành như cha mẹ đỡ đầu và tất cả những ai đã tham dự phép Rửa tội nâng đỡ, tất cả đều trở nên anh em chị em trong Đức Kitô.

*Cầu nguyện

Nhờ lời Đức Trinh Nữ Maria chuyển cầu, chúng ta cầu xin Chúa cho hết thảy những ai đã lãnh nhận phép Rửa tội ngày một cởi mở hơn trong đời sống mà họ đã được Giáo Hội trao ban ; chúng ta cũng cầu xin Chúa cho các trẻ em không được chúc phúc, nâng đở, ủi an, để các em lớn lên trong Đức tin ; chúng ta cũng cầu xin Chúa cho các anh chị em dự tòng đang trên đường tiến tới phép Rửa tội và cho tất cả những ai đang cùng họ tiến bước.

*Lạy Cha chúng con ở trên trời...

*Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng Bà, Đấng đã chịu phép rửa trong dòng nước sông Giođan gồm phúc lạ.

Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời...

*Kính mừng...

Sáng danh...

*Cầu nguyện

Lạy Chúa, Đức Giêsu Con Chúa đã sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria, đã chịu phép rửa bởi tay Gioan trong dòng nước sông Giođan ; xin khơi dậy nơi chúng con sự sống là nguồn mạch phép rửa tội của mọi người chúng con. Nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

*Hát bài : Với Mẹ Mân Côi

Thứ Hai thì ngắm: Đức Chúa Giêsu làm phép tại tiệc cưới Cana. Ta hãy xin cho được noi gương Đức Mẹ mà vững tin vào Chúa.

Đọc Kinh Thánh

Tin Mừng Đức Giêsu Kitô theo thánh Gioan (2, 1-5)

Ngày thứ ba, xảy ra có tiệc cưới ở Cana, xứ Galilê. Và có mẹ Ðức Yêsu ở đó. Ðức Yêsu và các môn đồ của Ngài cũng được mời vào tiệc cưới. Bởi hết rượu, nên mẹ Ðức Yêsu mới nói với Ngài: "Họ không có rượu nữa!" Ðức Yêsu đáp lại: "Này bà, giữa tôi và bà, nào có việc gì? Giờ của tôi chưa đến!" Mẹ Ngài nói với các người hầu: "Ngài có bảo gì, hãy làm theo!"

*Suy niệm

Chúng ta chiêm ngắm tiệc cưới Cana loan báo hồng ân mà Chúa Giêsu thực hiện ngay trong Bí tích Thánh Thể và ghi nhớ giờ hiến dâng trên cây Thánh Gía, khi Chúa trao ban chính thịt máu mình làm của nuôi nhân loại.

Tại Cana, Mẹ Maria đã hiện diện và can thiệp vào trong tiệc cưới. Vào giờ trên Thánh Giá ; lúc Chúa Giêsu cử hành tiệc cưới với Giáo Hội ; Mẹ Maria cũng ở đó, trong lúc cầu nguyện. Ngày hôm nay, Mẹ cũng hiện diện để giúp đỡ chúng ta sống ơn gọi làm người, dâng hiến đời sống chúng ta hầu mưu ích cho tha nhân.

Cùng với Mẹ Maria, chúng ta học yêu mến Chúa Giêsu, Hôn Phu của Giáo Hội mãi mãi và yêu mến Giáo Hội, Hiền thê của Chúa Giêsu.

*Cầu nguyện

Nhờ lời Đức Trinh Nữ Maria chuyển cầu, chúng con cầu xin Chúa cho chính chúng con biết để ý đến nhu cầu của an hem ; chúng con cầu nguyện cho tât cả mọi người nam cũng như nữ, những người phục vụ Tin Mừng biết sống khiêm nhường phục vụ trong đời sống hàng ngày ; chúng con cũng cầu cho những ai co trái tim khép kín biết mở ra với tha nhân.

*Lạy Cha chúng con ở trên trời...

*Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng Bà, Đấng đã hóa nước thành rượu của giao ước mới tại tiệc cưới Cana, gồm phúc lạ.

Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời

*Kính mừng...

Sáng danh...

*Cầu nguyện

Lạy Chúa, Đức Giêsu, Con Chúa sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria, Đấng đã hóa nước thành Rượu của giáo ước mới ; xin ban cho dân Chúa được niềm vui nếm trước tiệc Thánh Thể mà Con Chúa cử hành và tôn thờ với lòng sùng kính. Nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

*Hát bài : Mẹ Hiệp Thông Cứu Chuộc

Thứ Ba thì ngắm: Đức Chúa Giêsu rao giảng Nước Trời và kêu goi sám hối. Ta hãy xin cho được tin vào lòng Chúa thương xót và siêng năng lãnh nhận Bí tích giao hòa.

Đọc Kinh Thánh

Tin Mừng Đức Giêsu Kitô theo thánh Matthêu (4, 23.5, 1-3)

Và Ngài rảo khắp xứ Galilê, giảng dạy trong các hội đường của họ, và rao truyền Tin Mừng về Nước và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền trong dân. Thấy dân chúng thì Ngài lên núi. Ngài ngồi xuống và môn đồ đến bên Ngài. Ngài mở miệng dạy họ rằng: Phúc cho những kẻ có tin thần khó nghèo, vì nước trời là của họ.

*Suy niệm

Mẹ Maria được Giáo Hội vây quanh....

Cũng thế, Tin Mừng được loan báo không chỉ trong Giáo Hội, trong các thánh đường và nơi các nhà thờ nhà nguyện, mà Tin Mừng còn được loan báo tới mọi người lớn cũng như trẻ nhỏ. Như thế, Nước Trời không chỉ được loan báo bằng lời mà còn bằng cả hành động, cử chỉ và cả ân sủng cá nhân nữa.

Đó là lý do Giáo Hội không ngừng rao giảng, dạy dỗ, loan báo, gặp gỡ, đón nhận, lắng nghe, đồng hành, thăm viếng, nâng đỡ, ủi an, giải thoát, giải phóng, thứ tha, chữa lành và thánh hóa con cái mình.

*Cầu nguyện

Cùng với Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, người môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu Kitô, chúng ta cầu xin Chúa cho hết thảy mọi người nam cũng như nữ trong miền chúng con, những người bị xúc phạm, những kẻ giết người, nản chí sờn lòng, những người bị bỏ rơi, những người chưa từng nghe nói về Chúa Kitô và Nước Trời ; chúng ta cầu xin cho tất cả những ai trong Giáo Hội đang loan báo Tin Mừng bằng ngôn ngữ và hành động của họ ; chúng con cầu xin cho những người đang chân thành tìm kiếm Nước Thiên Chúa.

*Lạy Cha chúng con ở trên trời...

*Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng Bà, Đấng đã loan báo các mối phúc và lề luật Nước Trơi, gồm phúc lạ.

Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời

*Kính mừng...

Sáng danh...

*Cầu nguyện

Lạy Chúa là Thiên Chúa, Đức Giêsu, Con Chúa sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria, Đấng đã loan báo các mối phúc và lề luật Nước Trời : chúc tụng Chúa và chúc tụng Tin Mừng của Chúa được mạc khải nơi những kẻ bé mọn, nơi trẻ em và người nghèo khó. Nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

*Hát bài : Mẹ Từ Bi

Thứ Bốn thì ngắm: Đức Chúa Giêsu biến hình trên núi. Ta hãy xin cho được biến đổi nhờ Chúa Thánh Thần.

Đọc Kinh Thánh

Tin Mừng Đức Giêsu Kitô theo thánh Luca (9, 28-29. 34-35)

Xảy ra là sau những lời đó, chừng được tám ngày, thì đem theo mình Phêrô, Yoan, và Yacôbê, Ngài lên núi cầu nguyện. Và trong lúc Ngài cầu nguyện, thì dung nhan mặt Ngài ra khác, y phục Ngài nên trắng ngời chớp sáng. Ông đang nói thế, thì xảy đến một đám mây, và nó rợp bóng trên họ. Họ kinh hãi, lúc các Ngài đi vào đám mây. Và một tiếng phát ra tự đám mây: "Ngài là Con Ta, kẻ Ta đã chọn, các ngươi hãy nghe Ngài".

*Suy niệm

Sống gần Mẹ Maria, và có Mẹ kề bên, nhiều người được dư đầy ơn phúc nhờ lời chuyển cầu từ mẫu của Mẹ, không chỉ riêng người Công Giáo mà còn tất cả những người thuộc các Giáo Hội khác, mỗi ngày có biết bao người nam cũng như nữ nhận được ơn tha thứ của Thiên Chúa, nơi Bí tích Hòa giải qua trung gian các linh mục. Cuộc sống được biến đổi nhờ sự xưng thú, lãnh nhận, và cử hành. Bí tích Hòa giải này đã làm cho người lãnh nhận được trở nên con người mới sống đời sống mới, đời sống của con cái Thiên Chúa.

*Cầu nguyện

Nhờ lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria, chúng ta cầu xin Chúa cho chính chúng ta biết luôn hướng nhìn về Chúa Giêsu ; chúng ta cũng cầu xin cho những ai sống một đời sống trong bóng tối tội lỗi và bạo lực ; chúng ta cũng cầu xin cho mọi người tìm kiếm Chúa được gặp Đức Kitô.

*Lạy Cha chúng con ở trên trời..

*Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng Bà, Đấng đã biến hình, chỉ cho thấy sự Phục Sinh vinh quang của Chúa, gồm phúc lạ.

Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời

*Kính mừng...

Sáng danh...

*Cầu nguyện

Lạy Chúa là Thiên Chúa, Đức Giêsu, Con Chúa sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria, Đấng đã biến hình trên núi khi Người cầu nguyện. Xin ban cho đời sống chúng con ánh sáng và vẻ đẹp của con cái Chúa. Nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

*Hát bài : Mẹ Ơi, Trước Nhan Mẹ

Thứ Năm thì ngắm: Đức Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể. Ta hãy xin cho được sốt sắng tham dự Thánh lễ và rước Mình Máu Thánh Người.

Đọc Kinh Thánh

Bài trích thơ thứ nhất của thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô (11, 23-25)

Vì chưng, chính tôi đã chịu lấy nơi Chúa điều tôi truyền lại cho anh em. Là : Chúa Yêsu trong đêm Ngài bị nộp, Ngài đã cầm lấy Bánh, và tạ ơn xong, Ngài đã bẻ ra và nói: Này là Mình Ta, vì các ngươi, hãy làm sự này mà nhớ đến Ta. Cũng vậy về chén, sau khi đã dùng bữa tối xong, Ngài nói: Chén này là Giao ước mới trong Máu Ta, các ngươi hãy làm sự này mỗi khi uống mà nhớ đến Ta.

*Suy niệm

Chúng ta kết thúc tràng chuỗi Mân côi tại nhà thờ, nơi chúng ta cử hành Bí tích Thánh Thể. Chính chúng ta tham dự vào việc cử hành Thánh Thể, vì thế chúng ta có thể cử hành, và hiệp thông với thân mình bị trao nộp của Chúa Giêsu, để đến phiên chúng ta cũng phải trao ban chính mình chúng ta cho người khác, vì thế mỗi phút giây chúng ta sống là một đời sống tạ ơn.

*Cầu nguyện

Nhờ lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh và là Mẹ chúng ta, chúng ta cầu xin Chúa cho Đức Giáo Hoàng ...

Nguyện xin Chúa bảo vệ và giữ gìn ngài trong tình yêu, để dưới sự hướng dẫn của ngài, dân Kitô giáo được ngày càng thăng tiến trong niềm tinh, hiệp nhất và bình an.

Chúng ta cũng cầu xin cho các giám mục ; để các ngài hướng dẫn, thánh hóa và cai quản Hội Thánh theo lòng Chúa mong muốn.

Chúng ta cùng cầu xin cho các linh mục, phó tế, nam nữ tu sĩ, để các ngài chu toàn sứ mạng trong Giáo Hội.

Chúng ta cùng cầu xin cho các chủng sinh trong đất nước chúng ta và trong Hội Thánh Công Giáo khắp hoàn cầu, và cho những người được Thiên Chúa mời gọi làm tông đồ của Lời Chúa.

Sau hết xin cho tất cả chúng ta, khi hiệp nhất trong một tấm bánh, được luôn biết mở rộng chia sẻ với nhau trong tình anh em.

*Lạy Cha chúng con ở trên trời..

*Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng Bà, Đấng đã thiết lập Bí tích Thánh Thể và tuyền lại cho các tông đồ, để họ cử hành mà tưởng nhớ đên Người, gồm phúc lạ.

Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời

*Kính mừng...

Sáng danh...

*Cầu nguyện

Lạy Chúa là Thiên Chúa, Đức Giêsu, Con Chúa đã sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria, Đấng đã thiết lập Bí tích Thánh Thể và truyền lại trong Giáo Hội. Xin khơi dậy và củng cố ơn gọi làm linh mục để dân Chúa không bị thiếu bánh hằng sống như trong xa mạc xưa kia. Nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

*Hát bài : Tung Hô Nữ Vương

Tổng nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã an bài mọi sự thật khôn ngoan, Chúa đã đặt thánh Phêrô, làm thủ lãnh các tông đồ, và là viên đá góc tường để xấy dựng Hội Thánh Chúa. Xin ghé mắt nhận từ nhìn đến tôi tớ Chúa là Đức Giáo Hoàng Bênêdictô Chúa đã chọn đấng kế vị thánh Phêrô. Ước gì người trở nên đá tảng vững chắc, có làm cho dân Chúa được vững tin và giữ gìn sự hiệp nhất. Nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

*Hát bài : Salve Regina

Phép lành

Chúa ở cùng anh chị em

- Và ở cùng cha

.....

Xin Thiên Chúa toàn năng là Cha và Con và Thánh Thần ban phúc lành cho anh chị em. Amen.

Nữ vương ban sự bình an,

- Cầu cho chúng con

....

LẦN HẠT MÂN CÔI

(Trong các cuộc rước kiệu Đức Mẹ)

Lần Hạt Mân Côi là lời cầu nguyện của những người bé nhỏ nghèo hèn trước mặt Chúa, ý thức mình là thân phận của những kẻ lữ hành. Lần Hạt Mân Côi là sự kết hợp của tất cả các tâm hồn khiêm hạ, nhìn nhận mình là phần tử trong đại gia đình nhân loại, trong đó cha mẹ hiệp nhất với con cái trong lời cầu nguyện này.

Lần Hạt Mân Côi là chiêm niệm giống như các đan sĩ nam nữ thường xuyên ở trong sự thinh lặng tĩnh mịch, sống lòng bên lòng với Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ thế giới.

Chúng ta bắt đầu cuộc hành hương cuộc rước này trong khiêm tốn từng bước nhịp lần Hạt Mân Côi. Chúng ta sẽ suy niệm Tin Mừng. Và gợi lên sự đợi chờ, sự khổ đau, niềm hy vọng của toàn thể nhân loại.

Bắt đầu lần chuỗi

Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần. Amen.

Kinh Tin Kính:

Kinh Lạy Cha

Kinh Kính Mừng

Kính mừng...

Kính mừng...

Kinh Sáng Danh

Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, cả cuộc đời của Đức Giêsu Con Cha là một chuỗi hành hương, khởi đầu từ phép rửa tại sông Giođan đến ngày Phục Sinh. Đức Maria, Mẹ Ngài trong niềm tin, đã đồng hành cùng Con Mẹ, chính Mẹ là môn đệ đầu tiên. Xin Mẹ đồng hành và cầu nguyện với chúng con trong lúc này đây, ước gì việc suy niệm Kinh Mân Côi này là chuyến hành hương trong của chúng con trong đức tin. Chúng con cầu xin Cha, Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.

*Hát bài : Mẹ Ơi, Trước Nhan Mẹ

Mầu nhiệm thứ nhất

Thứ nhất thì ngắm: Thiên thần truyền tin cho đức bà chịu thai. Ta hãy xin cho được ở khiêm nhường.

Đọc Kinh Thánh

Tin Mừng Đức Giêsu Kitô theo thánh Luca (1, 30 -33)

Và thiên thần nói với bà: "Maria, đừng sợ! vì người đã đắc sủng nơi Thiên Chúa. Và này, nơi lòng dạ, người sẽ thụ thai, và sinh con, và người sẽ gọi tên Ngài là Yêsu. Ngài sẽ làm lớn, và được gọi là Con Ðấng Tối cao, và Chúa Thiên Chúa sẽ ban cho Ngài ngai Ðavit cha Ngài; và Ngài sẽ làm vua trên nhà Yacob cho đến đời đời, và vương quền của Ngài sẽ vô cùng vô tận!"

*Suy niệm

Với Mầu nhiệm Nă Sự Vui, chúng ta đã có diễm phúc suy niệm và chiêm ngắm mầu nhiệm Ngôi Hai Con Thiên Chúa nhập thể làm người nơi cung lòng Đức Trinh Nữ Maria. Thật là ý nghĩa vì đây là dịp tốt để Đức Maria Mẹ chúng ta dẫn dắt chúng ta tới Chúa Giêsu Con Mẹ. Vì chính Người, Đức Giêsu Kitô, đã mạc khải cho chúng ta Tình Yêu của Thiên Chúa đối với loài người và của mỗi người đối với Thiên Chúa. Giờ đây chúng ta có thể đón nhận ơn phúc cao cả này.

*Cầu nguyện

Qui tu nhau đây chung quanh Mẹ Maria, chúng cùng cầu nguyện cho hết thảy chúng ta, đặc biệt cho các bà mẹ đang cưu mang và sẽ sinh con ý thức được các thai nhi là hình ảnh sống động của Thiên Chúa, chúng cần phải được bảo vệ giữ gìn, và có quyền sống, vì Con Thiên Chúa đã làm người để dạy chúng ta điều đó. Xin cho con người ở mọi nơi mọi thời biết kính trọng và yêu thương nhau.

Kinh Lạy Cha...

Kinh Kính Mừng...

Kinh Sáng Danh...

*Hát bài : Mẹ Nguồn Cậy Trông

Thứ Hai thì ngắm: Đức bà đi viếng bà thánh Isave. Ta hãy xin cho được lòng yêu người.

Đọc Kinh Thánh

Tin Mừng Đức Giêsu Kitô theo thánh Luca (2, 10 -11)

Nhưng thiên thần nói với họ: "Ðừng sợ! Này ta đem tin mừng cho các ngươi về một niềm vui to tát, tức là niềm vui cho toàn dân: là hôm nay, đã sinh ra cho các ngươi vì Cứu Chúa, tức là Ðức Kitô Chúa, trong thành của Ðavit.

*Suy niệm

Trong Chúa Giêsu, chúng ta chiêm ngắm sự khiêm nhường được tái thiết lập trong chính Ngài. Đức Giêsu khiêm nhường và hiền lành trong lòng, thương xót, và kiến tạo hòa bình. Thiên Chúa làm người nơi Đức Giêsu Kitô để cho chúng ta được tham dự vào thần tính của Con Thiên Chúa. Chúng ta có thể đón nhận với tất cả niềm tin, sự nhập thể này.

*Cầu nguyện

Chúng ta cùng cầu nguyện cho tất cả những ai đang thành tâm thiện chí kiến tạo công lý và hòa bình trên mặt đất này, chúng ta cùng cầu nguyện cho tất cả những ai đang bị đối xử bất công, những ai đang bị cầm tù và kết án, để họ được nâng đỡ với tình người, mang ánh sáng Tin Mừng chiến dọi vào nơi tăm tối, để giúp họ sinh ra trong đời sống thần linh.

Chúng ta cùng cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo các quốc gia, và những người phục vụ công ích. Nguyện xin Thiên Chúa là Chúa chúng ta chiếu dọi vào tâm hồn họ để họ bảo đảm hòa bình và tự do của các dân các nước. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các nạn nhân kitô giáo đang bị bách hại và bị đối xử ngược đãi vì Tin Mừng, được bảo vệ đúng với nhân phẩm, quyền tự do của con người và tự do tôn giáo.

Xin cho họ tiếp tục là chứng nhân cản đảm của Lời Chúa để họ có thể sống và tuyên xưng tự do đức tin của mình.

Kinh Lạy Cha...

Kinh Kính Mừng...

Kinh Sáng Danh...

*Hát bài : Dâng Hiến Mẹ

Thứ Ba thì ngắm: Đức Chúa Giêsu chịu phép Rửa tại sông Gio-đan. Ta hãy xin cho được sống xứng đáng là con Thiên Chúa.

Đọc Kinh Thánh

Tin Mừng Đức Giêsu Kitô theo thánh Maccô (1, 9 -11)

Và xảy ra là trong những ngày ấy, Ðức Yêsu bỏ Nazaret, xứ Galilê, và đã được Yoan thanh tẩy cho trong sông Yorđan. Vừa lên khỏi nước, Ngài thấy trời xé ra và Thần khí, như con chim câu, đáp xuống trên Ngài; Và một tiếng phát ra tự trời:"Con là con chí ái Ta, kẻ Ta sủng mộ "

*Suy niệm

Trong ngày Đức Giêsu chịu phép rửa, Đức Chúa Cha đã thánh hiến Đức Giêsu trong Thánh Thần và sai Ngài đi loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó. Phần chúng ta, ngày chúng ta lãnh nhận phép Rửa tội, chúng ta được mời gọi trở nên những chứng nhân của Chúa Phục Sinh cùng một Thánh Thần. Chúng ta có thể sống thực sự là con cái Thiên Chúa, giữa lòng Giáo Hội, mở ra sứ mạng loan báo Tin Mừng.

*Cầu nguyện

Chúng ta cùng cầu nguyện cho những người trẻ hôm nay, để họ nhận biết Thiên Chúa và cho tất cả những ai chưa gặp gỡ Ngài, những ai là nạn nhân của bạo lực, của nghiện ngập và tất cả những người dối trá.

Chúng ta cùng cầu cho những ai giúp đỡ họ lớn lên trong khiêm tốn, trở nên những chứng nhân Hy vọng Nước trời cùng với họ.

Hiệp thông cùng tất cả các bạn trẻ kitô giáo khắp nơi trên thế giới, chúng ta cầu cho họ được hiệp nhất cùng nhau trên toàn thể địa cầu.

Ước chi Lời của Bình An, Lời của Tin Mừng chất vấn họ, chúng ta sẽ phục vụ cho sự quan phòng của Thiên Chúa hòa giải tất cả mọi người trong Chúa Kitô.

Để chúng ta có thể nên một trong đức tin, trong tình yêu thương và phục vụ, và là hình ảnh của những môn đệ đầu tiên của Đức Kitô họ đã nên một lòng một ý với nhau, giờ đây chúng ta cùng cầu nguyện.

Kinh Lạy Cha...

Kinh Kính Mừng...

Kinh Sáng Danh...

*Hát bài : Kính Mừng Nữ Vương

Thứ Tư thì ngắm: Đức Chúa Giêsu rao giảng Nước Trời và kêu goi sám hối. Ta hãy xin cho được siêng năng lãnh nhận Bí tích giao hòa.

Đọc Kinh Thánh

Tin Mừng Đức Giêsu Kitô theo thánh Maccô (1, 14 -15)

Sau khi Yoan đã bị nộp, thì Ðức Yêsu đến xứ Galilê, rao giảng tin mừng của Thiên Chúa mà rằng:" Thời buổi đã mãn và Nước Thiên Chúa đã gần đến bên; Hãy hối cải vào tin mừng"

*Suy niệm

Thiên Chúa phán và điều đó đang có. Đức Kitô hiện diện và Nước trời đang đến. Ngày hôm nay, Giáo Hội loan báo Lời Chúa và Nước Trời ở giữa chúng ta chúng ta có thể sống và chia sẻ kinh nghiệm với mọi người nam cũng như nữ mà chúng ta gặp gỡ, để chúng ta gần kề nhau, chia sẻ sự sống với nhau.

*Cầu nguyện

Chúng ta cùng cầu nguyện cho các linh mục, phó tế, nam nữ tu sĩ và cho tất cả mọi người biết chu toàn sứ mạng trong Giáo Hội. Chúng ta cùng cầu nguyện cho các chủng sinh và những nhà đào tạo. Chúng ta cũng cầu nguyện cho hết thảy những ai được Thiên Chúa kêu gọi trở nên người phục vụ Lời Chúa. Chúng ta cùng cầu nguyện cho anh chị em chúng ta trên toàn thế giới để họ cùng nhau tuyên xưng một niềm tin vào Chúa Kitô chết và sống lại vì kính mến Thiên Chúa và yêu thương mọi người.

Kinh Lạy Cha...

Kinh Kính Mừng...

Kinh Sáng Danh...

*Hát bài : Xin Vâng

Thứ Năm thì ngắm: Đức Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể. Ta hãy xin cho được siêng năng tham dự Thánh lễ và rước Mình Máu Thánh Người.

Đọc Kinh Thánh

Bài trích thơ thứ nhất của thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô (11, 23-25)

Vì chưng, chính tôi đã chịu lấy nơi Chúa điều tôi truyền lại cho anh em. Là: Chúa Yêsu trong đêm Ngài bị nộp, Ngài đã cầm lấy Bánh, và tạ ơn xong, Ngài đã bẻ ra và nói: Này là Mình Ta, vì các ngươi, hãy làm sự này mà nhớ đến Ta. Cũng vậy về chén, sau khi đã dùng bữa tối xong, Ngài nói: Chén này là Giao ước mới trong Máu Ta, các ngươi hãy làm sự này mỗi khi uống mà nhớ đến Ta.

*Suy niệm

Chúa Giêsu đã tự hiến chính thân mình để cứu chuộc chúng ta như Con Chiên vô tội và Thiên Chúa đã đón nhận như hy tế ngợi khen.

Thế nên, khi chúng ta ăn Mình Ngài bị hiến tế vì chúng ta, thì chúng ta được mạnh sức và khi chúng ta uống máu Ngài đổ ra vì chúng ta, thì chúng ta được tẩy sạch. Đây là mầu nhiệm đức tin có thể mở ra cho chúng ta ơn cả nghĩa đầy trong đời sống của mỗi người chúng ta.

*Cầu nguyện

Chúng ta cùng cầu nguyện cho Đức Thánh Cha...N.

Xin Chúa gìn giữ ngài trong tình yêu, dẫn dắt ngài trong cương vị mục tử, để dân kitô giáo được luôn luôn phát triển trong đức tin, hiệp nhất trong bình an.

Chúng ta cũng cầu cho Đức Giám Mục của chúng ta là...

Chúng ta cũng cầu cho các giám mục trên toàn thế giới : để các ngài dẫn dắt, thánh hóa và cai quản Hội Thánh theo ý Chúa muốn.

Kinh Lạy Cha...

Kinh Kính Mừng...

Kinh Sáng Danh...

*Hát bài : Dâng Về Mẹ

Thứ Sáu thì ngắm: Đức Giêsu hấp hối trong vườn cây dầu

Đọc Kinh Thánh

Tin Mừng Đức Giêsu Kitô theo thánh Matthêu (26, 37 -39)

Ðoạn Ngài đem Phêrô và hai người con của Zêbêđê đi theo, và bắt đầu buồn bã và âu sầu. Bấy giờ Ngài bảo họ: "Hồn Ta buồn phiền quá đỗi, muốn chết được; các ngươi hãy ở lại đây mà thức với Ta". Tiến xa thêm ít bước, Ngài sấp mặt xuống mà cầu nguyện rằng: "Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho chén này qua đi khỏi Con! Song không phải như ý Con, mà là như ý Cha "

*Suy niệm

Bước vào cuộc Thương Khó, Đức Kitô tự do tiến gần tới cái chết, Ngài tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, vì chỉ mình Ngài có thể chiến thắng sự chết và vượt qua cõi chết. Chúng ta là thân phận tội lỗi phải chết và phải khổ đau. Trong những thử thách đau thương của cuộc đời nơi hành trình dương thế, chúng ta có thể được Đức Kitô đỡ nâng và thánh hóa nhờ sự Phục Sinh của Ngài.

*Cầu nguyện

Chúng ta cùng cầu xin Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng giầu lòng thương xót đoái thương những ai đang gặp thử thách gian nan : xin Ngài cất khỏi thế giới những lầm lỗi ; an ủi những người lao nhọc, để họ có được niềm vui nâng đỡ và lòng thương xót Chúa trong cảnh khốn cùng.

Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho những ai vất vả và thất vọng. Với niềm tin tưởng, chúng ta cùng cầu xin Chúa cho chính chúng ta cũng có được sức mạnh, nâng đỡ ủi an, xoa dịu anh chị em chung quanh chúng ta đang bị khổ đau và bất hạnh.

Chúng ta cùng cầu xin cho các kitô hữu gia tăng các nghệ thuật để xây dựng một nền văn hóa bảo vệ và thăng tiến giá trị nhân bản con người.

Kinh Lạy Cha...

Kinh Kính Mừng...

Kinh Sáng Danh...

*Hát bài : Đọc Kinh cầu Đức Bà 2

Thứ Bẩy thì ngắm: Đức Giêsu chịu chết trên cây Thánh giá, ta hãy xin cho được đóng đanh xác thịt vào Thánh Giá Chúa.

Đọc Kinh Thánh

Tin Mừng Đức Giêsu Kitô theo thánh Gioan (19, 28 -30)

Sau đó bỏ dinh Caipha, họ điệu Ðức Yêsu đến Phủ đường. Trời đã sáng. Họ không vào Phủ đường, kẻo mắc uế mà không ăn lễ Vượt qua được. Vậy nên Philatô ra ngoài gặp họ và nói: "Các người tố cáo ông này về tội gì?" Họ đáp lại và nói với ông: "Nếu tên này không làm gì ác, thì chúng tôi đã không đem nộp cho ngài".

*Suy niệm

Chúa Giêsu đã yêu chúng ta cho đến tận cùng là thí mạng sống vì chúng ta, Ngài đã hiến dâng chính thân mình lên Thiên Chúa Cha cho chúng ta. Nhờ thế, Thánh Giá trở nên cây phúc trường sinh và nguồn vui của chúng ta. Chúng ta có thể đạt tới vinh quang nhờ sự Phục Sinh của Chúa Kitô, và được ghi dấu vào Thánh Giá Chúa Kitô.

*Cầu nguyện

Chúng ta cùng cầu xin cho hết mọi người nam cũng như nữ đã qua đời, xin cho họ gặp được Đức Kitô, Đấng Cứu Độ nhân loại, Ngài đã chết vì họ. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho hết thảy mọi người còn sống cũng như đã qua đời cảm nghiệm được lòng nhân lành của Thiên Chúa.

Nhờ lời chuyển cầu của thánh quan thày ... chúng ta cùng cầu cho các tôi tớ nam cũng như nữ đang đồng hành với hết mọi người cho đến lúc lìa thế, xin Chúa hướng dẫn tâm hồn họ theo lòng nhân hậu Chúa. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho hết mọi người trên toàn thế giới, và đặt biệt những người hữu trách trong các lãnh vực kinh tế cũng như chính trị, để họ luôn tìm cách cải tạo thế giới.

Đức Giáo Hoàng đã gửi thông điệp cuối cùng cho « tất cả những người có lòng thiện tâm ». Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho chính chúng ta không tìm kiếm xem tài liệu này nối kết cái nhìn của chúng ta với thế giới, nhưng là cái nhìn của chúng ta với thế giới phải thay đổi làm sao để tình yêu trong chân lý thực sự là suối nguồn hướng dẫn mọi hành động của chúng ta.

Kinh Lạy Cha...

Kinh Kính Mừng...

Kinh Sáng Danh...

*Hát bài : Lạy Mẹ là Ngôi Sao sáng

Thứ Tám thì ngắm: Đức Giêsu sống lại, ta hãy xin cho được sống lại thật về phần linh hồn.

Đọc Kinh Thánh

Tin Mừng Đức Giêsu Kitô theo thánh Luca (24, 30 -32)

Và xảy ra là khi vào bàn với họ, Ngài cầm lấy bánh, chúc tụng đoạn bẻ ra Ngài trao cho họ, thì mắt họ mở ra và nhận biết Ngài... nhưng Ngài đã bỏ họ mà biến rồi. Và họ nói cùng nhau: "Lòng chúng ta lại đã không cháy bừng bừng lúc dọc đàng Ngài ngỏ lời với ta, và giải nghĩa Kinh thánh cho chúng ta đó sao?"

*Suy niệm

Nhờ sự Phục Sinh của Đức Kitô, bản tính nhân loại được đổi mới, tìm lại được phẩm giá nguyên thủy mà Thiên Chúa đã phú ban cho chúng ta trong Đức Kitô. Nguyện xin Chúa là Chúa chúng ta dẫn dắt chúng ta tới nguồn ơn cứu độ tròn đầy đã được khai mở trong mầu nhiệm Phục Sinh và ước chi hết thảy mọi người trở nên con Thiên Chúa và anh em với nhau trong Đức Kitô.

*Cầu nguyện

Chúng ta cùng cầu xin cho hết những ai không cùng tín ngưỡng với chúng ta, cho những nạn nhân đang bị kỳ thị và những ai mất tính người.

Chúng ta cùng cầu xin cho nhưng ai từ bỏ gia đình và đất nước được mạnh sức để chiến đấu vì chế độ áp bức. Xin cho họ nhận được sự trợ giúp của người kitô hữu trong việc bảo vệ và giữ gìn quyền của họ.

Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các tôn giáo bạn, với đời sống chứng nhân của họ, làm chứng tỏ tường rằng Danh Thiên Chúa mang lại bình an cho họ.

Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho hết mọi người thuộc mọi dân tộc, ngôn ngữ, quốc gia sống yêu thương đùm bọc lẫn nhau, nguyện xin sự Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô là nguồn sống và bình an cho chúng ta.

Kinh Lạy Cha...

Kinh Kính Mừng...

Kinh Sáng Danh...

*Hát bài : Lạy Mẹ Maria Mẹ Thiên Chúa

Thứ Chín thì ngắm: Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống, ta hãy xin cho được lòng đầy dẫy mọi ơn Đức Chúa Thánh Thần.

Đọc Kinh Thánh

Bài trich sách Tông đồ Công vụ (2, 1-4)

Khi thời gian đã mãn, đến lễ Năm Mươi, mọi người cùng nhau tề tựu một nơi; 2 thì bỗng xảy đến tự trời một tiếng rào rào như thể do cuồng phong thổi đến, vang dậy cả nhà, nơi họ đang ngồi. 3 Và họ thấy những lưỡi như thể là lửa, phân tán dần mà đậu trên mỗi người trong họ. 4 Và hết thảy họ được đầy Thánh Thần, và bắt đầu nói những tiếng lạ, tùy theo Thần khí ban cho họ phát ngôn.

*Suy niệm

Nhờ mầu nhiệm Chúa Thánh Thần hiện xuống, Thiên Chúa đã thánh hóa Giáo Hội của Chúa giữa muôn dân để Giáo Hội Chúa được lan rộng khắp nơi, và qua Giáo Hội, ơn Chúa Thánh Thần được tràn ngập tâm hồn các tín hữu Chúa. Nguyện xin Chúa không ngừng đổ tràn Thánh Thần Chúa xuống tâm hồn các tín hữu Chúa, để Thánh Thần Chúa thấm nhập vào trong trí khôn mầu nhiệm tình yêu mà Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta.

*Cầu nguyện

Nguyện xin Chúa Thánh Thần đốt lên trong lòng những người trẻ tình yêu Thiên Chúa và gieo vào lòng họ nguồn suối hy vọng, biến họ thành những con người mới.

Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho toàn thể cộng đoàn Dân Chúa biết đáp lời mời gọi trở nên Thánh Thiện và thi hành Sứ Mạng được đỡ nâng, nuôi dưỡng nhờ sự phân định ơn đoàn sủng và hăng say nhiệt thành đào tạo về phương diện thiêng liêng và văn hóa.

Chúng ta cùng cầu xin Chúa Thánh Thần qui tụ tất cả mọi người thuộc mọi chi tộc và ngôn ngữ trong cùng một đức tin, xin Người gìn giữ tất cả những người kitô hữu, để họ trung thành với đức tin mà họ đã lãnh nhận khi chịu phép Rửa tội.

Kinh Lạy Cha...

Kinh Kính Mừng...

Kinh Sáng Danh...

*Hát bài : Mẹ Hoài Đứng Đó

Thứ Mười thì ngắm: Đức Chúa Trời thưởng Đức Mẹ trên trời, ta hãy xin cho được thưởng cùng Đức Mẹ trên Nước Thiên đàng.

Đọc Kinh Thánh

Bài trích sách Khải huyền của thánh Gioan (12, 1)

Một dấu lạ vĩ đại hiện ra trên trời: một Bà có mặt trời bao quanh, chân trên mặt trăng, và đầu có triều thiên mười hai sao.

*Suy niệm

Nhờ công nghiệp Thập giá của Đức Kitô, Thiên Chúa đã ân thưởng Đức Maria Mẹ Chúa Giêsu Trinh Nữ Rất Thánh Vô Nhiễm Nguyên tội cả hồn và xác lên trời. Phần chúng ta, chúng ta cũng được cứu chuộc nhờ cây Thập giá của Đức Giêsu Kitô, chúng ta cũng có thể chiêm ngắm Đức Maria, hình ảnh hoàn hảo của Giáo Hội, phần tử đầu tiên được cứu chuộc, dưỡng nuôi niềm hy vọng của chúng ta trên hành trình dương thế.

*Cầu nguyện

Giữa lòng Giáo Hội, chúng ta cùng cầu xin cho tất mọi người đang ngày đêm lê bước trên đường nên thánh ; để họ được đón tiếp, được nguyện cầu, được gặp gỡ trong Thiên Chúa ; để họ được lôi kéo bởi vẻ đẹp của Giáo Hội. Chúng ta cùng cầu xin Chúa ban cho họ nhiều ân sủng ; chúng ta cũng cầu cho những ai đang mỗi ngày lao công để hướng về trời cao, nơi mà chúng ta cũng như họ phải đạt tới sau cuộc hành trình dương thế này.

Kinh Lạy Cha...

Kinh Kính Mừng...

Kinh Sáng Danh...

*Kết thúc

Chúa ở cùng anh chị em.

- Và ở cùng Cha.

Hãy chúc tụng danh Chúa.

- Từ bây giờ và cho đến muôn đời.

Ơn phù trợ chúng ta ở nơi Danh Chúa.

- Là Đấng tạo thành trời đất.

Xin Thiên Chúa toàn năng là Cha, và Con, và Thánh Thần, ban phúc lành cho anh chị em. Amen.

*Hát bài : Salve, Regina...

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
Văn Hóa
Lễ kính thánh Phanxicô Assisi - Người anh em hèn mọn
Đinh Văn Tiến Hùng01/10/2014
Thánh PHANXICÔ ASSISI

Người Anh Em Hèn Mọn

( Lễ kính 4/10/14 )

Theo truyền thuyết, một người lạ đến nhà bảo bà Pica hãy tới một chuồng bò để hạ sinh đứa trẻ tại đó. Là người giàu có sang trọng, bà giật mình vì ý kiến đó. Nhưng sau nhớ lại chính Chúa Ki-tô cũng đã sinh ra nơi chuồng bò, đồng thời có sức nhiệm mầu thúc đấy, nên bà đã thực hiện như lời đề nghị của người lạ. Đó là năm 1182, Phanxicô thành Assisi cất tiếng khóc chào đời tại chuồng bò, cũng như Con Thiên Chúa đã giáng sinh trong máng cỏ nơi hang đá Belem.

Phanxicô lớn lên giữa giàu sang và yêu đời. Ba má rất hài lòng khi thấy chàng ở giữa những cuộc vui chơi vô tội. Chàng rất thích hình ảnh một hiệp sĩ lực lưỡng với khí giới và áo giáp bóng loáng. Do đó, khi được mời tham gia cuộc chiến giữa người Assisi và Perugia, chàng mừng quýnh. Nhưng chẳng may khi giáp trận, bên Assisi bị thua và chàng bị bắt làm tù binh. Khi Phanxicô trong tù, chàng chiêm bao và tiếng nói vô hình cho biết một ngày kia chàng sẽ nổi danh và được yêu mến trên khắp thế giới. Vịn vào giấc chiêm bao đó, Phanxicô nghĩ mình sẽ trở thành chiến sĩ anh hùng. Sau khi được trả tự do, chàng vẫn còn tin tưởng mình sẽ thành một tướng lãnh tài ba. Nên khi cuộc nổi dậy chống đế quốc Đức xâm lăng Ý, chàng liền xin nhập ngũ. Nhưng chỉ sau 1 ngày theo đoàn kỵ binh lên đường, bệnh cũ tái phát. Tiếng nói vô hình lại đến với chàng trong giấc mơ và còn cho hay chàng đã hiểu lầm giấc chiêm bao trước kia, vì chàng đang phục vụ như người đầy tớ chứ không phải ông chủ. Tiếng nói thúc giục chàng trở về chờ đợi đại cuộc sẽ được trao phó. Về nhà, bạn bè cười nhạo chàng vì nói nhiều cũng không làm được việc gì. Phanxicô chỉ cười và cuộc sống chàng bắt đầu thay đổi.

Vốn là người quảng đại, chàng thường mau lẹ giúp đỡ người nghèo khổ. Nhưng lúc này chàng nhận thức được rằng bằng đó cũng chưa đủ và phải làm gì hơn nữa. Chàng cảm thấy phải trao ban chính mình, thời giờ và sức

Khỏe, vì chiếm hữu của cải là sự phiền toái. Nên chàng bán mọi thứ mình có rồi phát tiền cho người nghèo khó bệnh hoạn .

Phanxicô hay đến cầu nguyện trước tượng Chúa Chuộc Tội tại nhà thờ thánh Đamiêng, một ngôi nhà thờ cũ nát.

Một hôm, tượng Chuộc Tội từ trên Thánh Giá nói với chàng :

- Phanxicô ơi ! Nhà Cha đang đổ xuống, con hãy xây dựng lại !

Sung sướng vì Chúa phán dạy, chàng trao số tiền còn lại cho cha sở trước sự ngỡ ngàng của ngài. Sau đó, chàng về lấy vải của tiệm cha mang bán. Cha chàng bắt gặp và ông nổi giận vì hành động điên rồ của chàng và từ bỏ chàng.

Phanxicô một thanh niên quí phái giàu có, lúc này trở thành vô gia cư, quần áo rách rưới, đi xin ăn từ nhà này sang nhà khác. Nhưng chưa khi nào chàng cảm thấy hạnh phúc như lúc này, vì tràn ngập tình yêu Chúa và tình yêu thương đồng loại. Chàng yêu cả chim muông, dã thú, cây cối và hoa cỏ đồng nội, yêu gió mưa và yêu ánh sáng vầng dương. Vì tất cả là tạo vật của Thiên Chúa và phô bày sự tốt lành của Ngài. Chàng càng chăm chỉ tận tụy làm việc quên mình để phục vụ tha nhân.

Sau khi hoàn tất việc sửa sang nhà thờ thánh Đamiêng, Phanxicô khởi công tu bổ nhà nguyện thánh Phêrô. Sau đó chàng lại thấy nhà thờ Đức Bà Thiên Thần bị bỏ hoang, chàng tự tay kéo đá trộn hồ sửa sang lại. Khi Thánh lễ đầu tiên dâng trong nhà thờ Đức Bà mới trùng tu, tiếng nói vô hình lại đến với chàng. Lần này lệnh truyền cho chàng hãy đi rao giảng khắp miền thôn quê.

Khi Phanxicô bắt đầu giảng cho dân chúng vùng Assisi người ta nhạo cười chàng. Vì tò mò họ đổ xô ra xem chàng như một người điên, nhưng sau đó họ cảm động với lời chàng, rồi không lâu sau có một số người xin làm môn đệ.

Họ dựng chòi quanh nhà thờ Đức Bà. Hàng ngày họ chia nhau đi làm từng nhóm : làm vườn, đi đổi hàng, đi quyên góp, nhóm rao giảng và dạy dân chúng. Cộng đoàn ngày càng lớn mạnh. Phanxicô viết bản luật dòng thật ngắn gọn để hướng dẫn cuộc sống anh em trong cộng đoàn mà chàng đặt tên là ‘Anh Em Hèn Mọn’

Nhiều lần Thiên Chúa đã làm phép lạ để chứng tỏ Ngài yêu Phanxicô chừng nào. Như lần kia, Phanxicô đang giảng cho dân chúng, thì đàn chim đậu trên các cây gần đó kêu inh ỏi, át cả lời giảng, Ngài hướng về đàn chim xin các ‘chị’ đừng làm ồn để mọi người nghe giảng Lời Chúa. Lập tức đàn chim im tiếng. Chờ đến khi Ngài giảng xong bày chim sà xuống chung quanh, đậu trên vai và cánh tay Ngài. Rồi Ngài giảng cho chúng nghe về tình yêu bao la Thiên Chúa đối với các tạo vật.

Hội dòng Anh Em Hèn Mọn ngày một phát triển, lan rộng và càng đông người xin gia nhập. Các tu sĩ được cử đi truyền giáo tận Phi Châu, Á Châu, nhiều người được diễm phúc tử vì đạo. Phanxicô không chỉ tu bổ những nhà thờ gạch đá, nhưng Ngài tu sửa và xây dựng chính Giáo Hội sau những ngày hoang tàn đổ nát.

Năm 1224, Chúa in 5 Dấu Thánh vào tay chân và cạnh sườn Phanxicô. Hai năm sau Ngài lâm bệnh và bị mù cả hai mắt. Trước giờ chết Ngài khuyên anh em trong hội dòng giữ vững tinh thần Nghèo Khó. Ngài xin anh em để mình nằm chết trên đất, xác phủ bằng chiếc áo dòng cũ, rồi trút hơi thở cuối cùng ngày 4/10/1226.

Chỉ hai năm sau Ngài được phong Hiển Thánh.

Sau đây xin trích dẫn 2 bài ca nổi tiếng nhất của Thánh Phanxicô Assisi :

*Kinh Hòa Bình.

Bài Kinh phổ biến khắp nơi, đặc biệt là trong cộng đồng Công Giáo, thường được hát lên trong Thánh Lễ hay những buổi thắp nến cầu nguyện cho Công Lý và Hòa Bình.

‘Lạy Chúa từ nhân!

Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người.

Lạy Chúa! Xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa.

Để con đem yêu thương vào nơi oán thù,

Đem thứ tha vào nơi lăng nhục,

Đem an hòa vào nơi tranh chấp,

Đem chân lý vào chốn lỗi lầm.

Để con đem tin cậy vào nơi nguy nan,

Chiếu trông cậy vào nơi thất vọng.

Để con rọi ánh sáng vào nơi tối tăm,

Đem nguồn vui đến chốn u sầu.

Lạy Chúa! Xin hãy dạy con,

Tìm an ủi người hơn được người ủi an,

Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết.

Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu,

Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh.

Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân.

Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ.

Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.

Ôi! Thần Linh Thánh Ái! Xin mở rộng lòng con.

Xin ban xuống những ai lòng đầy thiện chí ơn An bình.’

*Bài Ca Mặt Trời.

Thánh Phanxicô Assisi nổi bật về nhân đức khó nghèo. Ngài còn là một nhà thơ được ca tụng với nhiều áng thơ đặc sắc, trong đó nổi nhất là bài ‘Ca Mặt Trời’. Bài thơ không nhằm ca tụng các tạo vật, nhưng để ca tụng Đấng tạo ra chúng. (Bài thơ này đã được nhạc sư Hải Linh phổ nhạc)

‘Lạy Đấng Tối Cao toàn năng và nhân ái,

Xin ca ngợi, tôn vinh và chúc tụng!

Chỉ mình Ngài xứng muôn lời hoan chúc.

Xướng tên Ngài, nào ai xứng đáng đâu.

Chúc tụng Ngài, lạy Chúa với muôn loài.

Anh Mặt Trời cho ngày đến với tôi,

Chúa nhờ anh soi sáng hết muôn loài,

Anh thật đẹp, thật huy hoàng rực rỡ,

Ý nghĩa này Chúa nhờ anh mang đến.

Chúc tụng Chúa chị Trăng với các Sao,

Chị quí giá, sáng ngời và xinh đẹp.

Chúc tụng Chúa, anh Gió với Mây cao,

Trời bão tố và trời yên bể lặng,

Chúa ban cho để nâng đỡ muôn loài.

Chúc tụng Chúa, vì chị Nước trong lành,

Tuy khiêm tốn mà vô cùng hữu ích.

Chúc tụng Chúa, này anh Lửa soi đêm,

Anh thật đẹp, vui tươi và dũng mãnh.

Chúc tụng Chúa, mẹ Đất của con người,

Nuôi chúng con bằng muôn ngàn cây trái,

Hoa muôn màu và cỏ dại thơm tho.

Chúc tụng Chúa, những ai vì yêu Chúa,

Đã thứ tha và khổ cực đắng cay.

Diễm phúc thay ai xây dựng hòa bình,

Sẽ được Ngài yêu thương vinh thưởng.

Chúc tụng Chúa, vì chị Chết xác thân,

Không buông tha cho bất cứ người nào,

Khốn cho ai chết chìm trong tội lệ.

Phúc cho ai đang thi hành thánh ý,

Họ sẽ không bị chết tới hai lần.

Xin chúc tụng và ngợi khen Thiên Chúa!

Cảm tạ Ngài và khiêm tốn hiến dâng! ‘

*Tâm Niệm :

Noi gương Thánh Phan-xi-cô,

Chọn đời nghèo khó không mơ sang giàu,

Tình yêu Thiên Chúa nhiệm mầu,

Trùm phủ vạn vật tinh cầu đẹp thay,

Tình yêu Thiên Chúa đắm say,

Quên mình phục vụ đêm ngày tha nhân,

Cuộc đời ngắn ngủi gian trần,

Tình yêu Thiên Chúa hồng ân tràn đầy.

Đinh văn Tiến Hùng

*Ghi chú :

- Trích theo tài liệu ‘ Pocket Catholic Dictionary’ của John A.Hardon,S.J và hạnh tích các Thánh của Raymond Thư, CMC.

- Xin phân biệt 2 vị Thánh cùng tên Phanxixô :

(1) Thánh Phanxicô Assisi người nước Ý, sáng lập dòng ‘Anh Em Hèn Mọn’ hay cũng thường gọi là Dòng Phan Sinh.

(2) Thánh Phanxicô Xaviê người nước Navarra thuộc Pháp, bổn mạng các Xứ Truyền Giáo, đồng sáng lập Dòng Tên cùng với Thánh Inhaxiô (I-Nhã).

Tài Liệu - Sưu Khảo
Vấn đề ly dị và tái hôn trong Đạo Công Giáo: Phần Hai, cuộc tranh luận quanh đề xuất của Đức HY Kasper (16)
Vũ Văn An01/10/2014
Chủ yếu là vấn đề tiết dục

Điều đáng lưu ý là Đức HY Kasper không nhắc chi tới điểm quan yếu này: ăn năn đòi hối nhân phải từ bỏ nguyên nhân gây ra tội, trong trường hợp này là cuộc hôn nhân thứ hai, khách quan vốn tạo ra tội ngoại tình. Không từ bỏ nó, ăn năn trở thành vô nghĩa. Và do đó, rước lễ là mâu thuẫn với yếu tính của Phép Thánh Thể. Ngài có nhắc tới hồi tâm bản thân nhưng không nói rõ hồi tâm bản thân là thế nào. Phải chăng chỉ là cố gắng sống tốt trong cuộc hôn nhân thứ hai và dưỡng dục con cái thành Kitô hữu tốt? Thực ra hồi tâm bản thân chỉ có thể có nghĩa: phải từ bỏ cuộc hôn nhân bất thành sự thứ hai. Đức HY hình như không đồng ý như thế khi quả quyết rằng không thể đảo ngược được cuộc hôn nhân đó mà không rơi vào mặc cảm tội lỗi mới. Ngài không cho biết thêm gì về mặc cảm tội lỗi này. Trong khi đó, giải pháp hiện nay của huấn quyền là liên hệ anh trai em gái, một liên hệ đòi hai người phải tiết dục, và chắc chắn không khiến họ rơi vào mặc cảm tội lỗi đối với con cái.

Đức HY Kasper không đề cập gì tới giải pháp trên cả. Có lẽ ngài coi giải pháp ấy không thực tiễn và do đó, cuộc thảo luận nên tập chú vào vấn đề tiết dục. Đây là quan điểm của 12 nhà thần học Dòng Đa Minh trong một khảo luận tựa là “Các Đề Xuất Gần Đây Đối Việc Chăm Sóc Mục Vụ Những Người Ly Dị Và Tái Hôn: Một Lượng Định Thần Học” đăng trên Tập San Thần Học Nova Et Vetera (Mới Và Cũ), ấn bản Anh Ngữ, Tập 12, Số 3 năm 2014.

Các nhà thần học này nhằm trả lời ngắn gọn các điểm được Đức HY Kasper nêu ra, dưới hình thức gần như các đề mục bách khoa, chứ không hẳn các các bài nghiên cứu dài rộng. Theo họ, đề xuất của Đức HY có hai điểm quan yếu:

Thứ nhất, ngài cho rằng một cuộc hôn nhân thành sự đòi hai bên phải tin vào “mầu nhiệm vốn được bí tích biểu tượng” và vì điều này thường thiếu vắng, nên nhiều cuộc hôn nhân không thành hiệu lúc kết ước dù được thực hiện dưới hình thức đúng theo giáo luật. Để sửa chữa, ngài đề nghị: thay vì theo “con đường pháp chế” ta có thể sử dụng “các thủ tục khác, có tính mục vụ và tâm linh hơn”. Hay, “giám mục có thể ủy nhiệm [quyết định về tính thành hiệu của hôn nhân] cho một linh mục, có kinh nghiệm tâm linh và mục vụ, làm đại diện xá giải hay đại diện giám mục”.


Thứ hai, ngài nói tới trường hợp “một cuộc hôn nhân đã thành hiệu và hoàn hợp giữa các cá nhân đã chịu phép rửa, nhưng cuộc chung sống vợ chồng đã gẫy đổ vô phương cứu chữa và một người hay cả hai người phối ngẫu đã kết ước cuộc hôn nhân thứ hai theo luật dân sự”. Đức GH Bênêđíctô XVI khuyến khích những người này rước lễ thiêng liêng thay vì rước lễ bí tích, một việc được coi như không “mâu thuẫn với lệnh truyền của Chúa Kitô”.

Sau đó, ngài đề cập tới một số thực hành từ thời các giáo phụ. Cuối cùng, ngài đề nghị cho các người này được rước lễ, nếu họ thoả mãn 5 điều kiện đã nói trên đây.

Các nhà thần học Đa Minh lần lượt giải đáp các đề nghị nêu trên.

Các nguyên tắc tổng quát

1. Hôn nhân bí tích bất khả tiêu

Đức Kitô nâng hôn nhân lên hàng bí tích vì nó biểu tượng cho tình yêu phu phụ và lòng trung thành tuyệt đối của Người đối với Giáo Hội (Eph 5:32). Bản chất bí tích của cuộc hôn nhân giữa các người đã chịu phép rửa không phải là một yếu tố tùy thể, mà nối kết với chính yếu tính của hôn nhân.

Cuộc hôn nhân bí tích đã thành hiệu và hoàn hợp thì không thể bị tiêu hủy bởi bất cứ quyền lực con người nào, kể cả quyền đại diện của Giám Mục Rôma. Đức Gioan Phaolô II, trích dẫn rất nhiều tuyên bố của các vị tiền nhiệm, đã quả quyết rằng điều vừa nói đã được giải quyết dứt điểm. Ngài kết luận: Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo… dạy rằng “Như thế, dây hôn phối đã do chính Thiên Chúa thiết lập một cách khiến cho một cuộc hôn nhân đã thành sự và hoàn hợp giữa các người đã chịu phép rửa thì không bao giờ tiêu hủy được. Sợi dây này, vốn do kết quả một hành vi tự do nhân linh của các người phối ngẫu và sự hoàn hợp hôn nhân của họ đem lại, là một thực tại, do đó, không thể hủy bỏ được, và làm phát sinh ra một giao ước được lòng trung thành của Thiên Chúa bảo đảm. Giáo Hội cũng không có quyền lực đi ngược lại sự sắp xếp này của Thiên Chúa” (Diễn văn trước Tòa Thượng Thẩm Rôma năm 2000).

Thành thử, Giáo Hội nhấn mạnh rằng khi có sự hiện hữu của của dây hôn phối thành sự, không cuộc hôn nhân thứ hai nào có thể có khi người phối ngẫu đầu còn sống. Ngay trước CĐ Nixêa, giáo huấn này đã được tuyên bố chính thức (xem khoản luật 9 của CĐ Elvira, các năm 300-303).

Về vấn đề này, huấn quyền cho hay: phán đoán riêng do xác tín bản thân của cá nhân không thể được dùng làm căn bản để quyết định tính thành sự của hôn nhân. Quyết định này, do thiên luật, thuộc về Giáo Hội.

2. Lịch sử việc định nghĩa ngoại tình và giáo huấn của Giáo Hội

Điều răn thứ sáu cấm ngoại tình (Xh 20:12). Chúa Giêsu đưa ra câu định nghĩa sau đây về ngoại tình: “ai ly dị vợ và cưới người khác là phạm tội ngoại tình, và ai cưới người đàn bà ly dị cũng phạm tội ngoại tình” (Lc 16:18).

Giáo Hội luôn hiểu câu ngoại trừ “gian dâm” trong tin mừng Matthêu, tức mê epi porneia, như là cho phép ly thân trong trường hợp ngoại tình nhưng không được tái hôn, ngoại trừ cuộc hôn nhân đầu bất thành sự.

Việc cấm ly dị và tái hôn đã rõ ràng trong các tuyên bố chính thức sớm sủa nhất của Giáo Hội Công Giáo (Xem CĐ Elvira (c. 300-303), DH 117; CĐ Carthage, Khoản 11 (407); và CĐ Angers, Khoản 6 (453).Từ thời Cải Cách, các Đức Giáo Hoàng liên tiếp tái khẳng định nó. Như năm 1595, Đức Clêmentê VIII cho hay không vị giám mục nào được dung thứ việc ly dị. Các Đức Urbanô VIII (1623-1644) và Bênêđíctô XIV (1740-1758) đều lặp lại giáo huấn này.

Năm 1803, Đức Piô VII nhắc các linh mục không được cử hành các cuộc hôn nhân lần thứ hai dù bị luật dân sự đòi hỏi. Sau cùng Đức Lêô XIII, trong Arcanum năm 1880, cực lực kết án việc ly dị.

3. Hôn nhân trong yếu tính có tính công cộng

Một số đề nghị đối với THĐ nhằm chuyển việc lượng định tính thành hiệu của hôn nhân cho thẩm quyền chủ quan của lương tâm hay các phán đoán tư riêng, hơn là bàn tới hôn nhân như một thực tại công cộng.

Tuy nhiên, hôn nhân chủ yếu có bản chất công cộng, xét theo ba phương diện sau đây: (1) nó là một khế ước công cộng giữa hai người phối ngẫu; (2) nó phục vụ công ích qua việc sinh sản và dưỡng dục con cái; và (3) bí tích là chứng tá và dấu chỉ công khai lòng trung thành và tình yêu của Chúa Kitô dành cho Giáo Hội.

Thứ nhất, hôn nhân là một khế ước có tính giao ước giữa một người đàn ông và một người đàn bà. Khế ước này có và phải có tính công cộng. Trong mọi nghi lễ hôn phối, đều có những người làm chứng; việc kết hôn đặt lên vai các người phối ngẫu nhiều bổn phận cũng như ban cho họ nhiều quyền lợi. Trong số này, có việc các người phối ngẫu phải trung thành với nhau, phải giúp đỡ và chăm sóc lẫn nhau lúc vui lúc buồn và hợp tác với nhau để dưỡng dục con cái. Hơn thế nữa, họ còn được và phải được đối xử như một đơn vị dưới luật pháp: họ tạo thành một cộng đồng phu thê đơn nhất có các tài nguyên chung, có quyền đại diện lẫn nhau, và có quyền không bị phân rẽ khỏi nhau hay bị đặt vào thế chống lại nhau.

Thứ hai, hôn nhân phục vụ công ích theo nghĩa vợ chồng đem con cái vào đời và cam kết dưỡng dục chúng. Đã đành, tại nhiều nơi, việc dạy rằng thiện ích hàng đầu của hôn nhân là sinh sản và dạy dỗ con cái đã trở thành một đề tài tranh cãi; thậm chí còn bị những người cổ vũ việc hợp pháp hóa các cuộc kết hợp đồng tính coi là thiên kiến. Ấy thế nhưng nếu chiều theo áp lực mỗi ngày mỗi gia tăng này để không nói gì về chiều kích công cộng của hôn nhân, Giáo Hội sẽ góp phần tạo ra các khai triển tiêu cực này và sẽ từ bỏ một yếu tố và một lý do chủ yếu của hôn nhân. Nơi nào hôn nhân không còn được coi là một định chế công cộng đáng được luật pháp và văn hóa hỗ trợ, nó sẽ trở thành một thứ tỏ tình tư riêng.

Thứ ba, bí tích hôn phối hoàn thiện hóa cuộc kết hợp hôn nhân giữa các Kitô hữu đã chịu phép rửa. Tính bất khả tiêu của cuộc kết hợp này không những có tính chủ yếu đối với kế hoạch của Thiên Chúa đối với người đàn ông và người đàn bà (Mt 19:3-10) mà nó còn giúp tình yêu vĩnh viễn và trung thành của họ được dùng làm dấu chỉ bí tích cho tình yêu và lòng trung thành của Chúa Kitô dành cho nàng dâu của Người là Giáo Hội (Eph 5:32).

Hiện nay, Giáo Hội hiện hữu như một trong những tiếng nói ít ỏi của nền văn hóa Tây Phương vẫn trung thành tuyên bố chân lý về hôn nhân. Nền thần học, luật học, và thực hành phụng vụ của Giáo Hội vẫn đề cao tầm quan trọng của hôn nhân và gia đình trong xã hội và trong Giáo Hội. Các cặp vợ chồng vẫn hợp tác với Thiên Chúa trong việc tạo ra sự sống mới, là những nhà giáo dục đức tin đầu tiên và do đó, sản sinh nhiều con trai con gái nuôi mới cho Thiên Chúa với cùng đích được chung hưởng gia nghiệp đời đời của Người. Với lòng trung thành của họ, họ là các chứng tá công cộng cho lòng trung thành luôn bền vững của Chúa Kitô đối với dân Người.

Phân tích các đề nghị cho phép người ly dị và tái hôn rước lễ

1. Hết hy vọng sống khiết tịnh?

Như trên đã nói, các nhà thần học Đa Minh cho rằng ở tâm điểm các đề nghị này là niềm hoài nghi về sự khiết tịnh. Thực vậy, loại bỏ bổn phận sống khiết tịnh khỏi người ly dị và tái hôn là sự đổi mới chính trong các đề nghị này, vì Giáo Hội vốn đã cho phép người ly dị và tái hôn, vì lý do nghiêm trọng , như để dưỡng dục con cái, được tiếp tục sống với nhau và lãnh nhận bí tích Thánh Thể nếu họ chịu sống như anh trai em gái, và nếu không gây gương mù gương xấu. Cả Đức Gioan Phaolô II lẫn Đức Bênêđíctô XVI đều dạy như thế.

Tuy nhiên, các đề nghị này cho rằng sống khiết tịnh như thế là điều bất khả đối với người ly dị. Phải chăng giả thiết này chứa đựng nỗi thất vọng dấu mặt đối với đức khiết tịnh (chastity) và đối với sức mạnh của ơn thánh có thể chiến thắng tội lỗi và thói hư? Chúa Kitô kêu gọi mọi người sống khiết tịnh tùy theo bậc sống của mình, bất luận họ chưa lập gia đình, sống độc thân, đã lập gia đình, hay đã ly thân. Người hứa ban ơn thánh để họ sống cách khiết tịnh. Trong các sách Tin Mừng, Chúa Giêsu lặp đi lặp lại lời kêu gọi và lời hứa này, cùng với lời cảnh cáo rất gợi hình: điều gì gây nên tội thì phải “móc ném đi” và “cắt bỏ đi” vì “thà mất một phần thân thể còn hơn cả thân thể bị ném vào hỏa ngục” (Mt 5:27-32). Quả thực, trong Bài Giảng Trên Núi, khiết tịnh là tâm điểm và linh hồn giáo huấn của Chúa Giêsu về hôn nhân, ly dị và tình yêu vợ chồng.

Sự khiết tịnh này là hoa trái của ơn thánh, chứ không phải việc đền tội hay việc tước đoạt. Nó không ám chỉ việc ức chế tính dục của con người, mà ám chỉ việc sắp đặt nó cho đúng khuôn phép. Khiết tịnh là nhân đức nhờ đó, người ta khiến các ước muốn dục tình tuân theo lý trí, để dục tính của họ phục vụ mục đích đích thực của nó, chứ không phải nhục dục (lust). Kết quả, người khiết tịnh cai quản được các đam mê của mình thay vì trở thành nô lệ của chúng, và nhờ thế có khả năng hiến thân một cách toàn vẹn và vĩnh viễn. Tóm lại, nó không thể thiếu được đối với việc theo đường Chúa Kitô, là đường chân thực duy nhất dẫn tới niềm vui, tự do và hạnh phúc.

Nền văn hóa ngày nay cho rằng khiết tịnh là điều bất khả, thậm chí còn có hại nữa. Cái tín điều thế tục này trực tiếp mâu thuẫn với giáo huấn của Chúa. Nếu chấp nhận nó, ta khó thấy tại sao lại chỉ nên áp dụng nó vào người ly dị mà thôi. Há không phải là điều cũng bất thực tiễn hay sao khi ta yêu cầu người độc thân phải sống khiết tịnh cho tới lúc kết hôn? Và nếu không khiết tịnh được, liệu cả họ nữa cũng nên được rước lễ hay sao? Các thí dụ còn nhiều.

Một số cặp tái hôn dân sự quả có cố gắng sống khiết tịnh như anh trai em gái. Họ có thể thấy nó khó khăn, và đôi khi sa ngã, nhưng nhờ ơn thánh đánh động, họ lại chỗi dậy, đi xưng tội và làm lại. Nếu các đề nghị hiện nay được chấp nhận, thì bao nhiêu người trong số họ sẽ bỏ cuộc chiến đấu để sống khiết tịnh như thế này?

Lẽ dĩ nhiên, nhiều người ly dị và tái hôn không sống khiết tịnh. Điều phân biệt họ với những người cố gắng sống khiết tịnh (và đôi khi thất bại) là họ không chịu nhìn nhận việc gian dâm như là một tội trọng hay ít nhất không hề có ý định sống khiết tịnh. Nếu họ được phép rước lễ, dù trước đó có đi xưng tội chăng nữa nhưng vẫn có ý định tiếp tục sống không trong sạch, một điều mâu thuẫn triệt để, thì quả có nguy cơ thực sự là họ sẽ cố thủ trong thói hư hiện nay của họ. Khó lòng họ có thể tăng tiến trong cái hiểu của họ về tính tội lỗi khách quan và tính trầm trọng của các hành vi thiếu trong sạch của họ. Người ta không chắc liệu tính tình luân lý của họ sẽ được cải thiện hay có nguy cơ bị gián đoạn và thậm chí lệch lạc thêm.

Chúa Kitô dạy rằng khiết tịnh là điều có thể làm được, ngay cả trong các trường hợp khó khăn, vì ơn thánh Thiên Chúa mạnh hơn tội lỗi. Việc chăm sóc mục vụ các người ly dị nên được xây dựng trên lời hứa này. Họ sẽ không bao giờ cố gắng, nếu họ không nghe thấy Giáo Hội công bố các lời đầy hy vọng của Chúa Kitô rằng họ thực sự có thể sống khiết tịnh.

2. Các tiền lệ từ các công đồng sơ khai và các giáo phụ

Chứng tá gần như phổ quát trong Giáo Hội sơ khai khẳng nhận tính đơn nhất và bất khả tiêu của hôn nhân như là lời dạy của chính Chúa Kitô, và đây là điều phân biệt các thực hành của Kitô Giáo với các thực hành của Do Thái Giáo và dân ngoại. Không có vấn đề ly dị và tái hôn; đến cả việc tái hôn sau khi người phối ngẫu qua đời cũng đã khiến người thời ấy lo ngại. Thánh Phaolô chỉ cho phép cuộc hôn nhân thứ hai “trong Chúa” nhưng khuyến khích các góa phụ nên ở vậy (1Cor 7:39-40). Các giáo phụ nổi tiếng, căn cứ vào Mt 19:11-12 và lời khuyên của Thánh Phaolô, thường nhấn mạnh rằng thiện ích của đức đồng trinh và việc sống khiết tịnh lúc góa bụa đáng ưa hơn thiện ích hôn nhân.

Mới đây, có người chủ trương rằng Công Đồng Nixêa thứ nhất (325) có nói tới việc cho phép người ly dị và tái hôn được rước lễ. Đây là một cách hiểu sai Công Đồng này một cách nghiêm trọng cũng như hiểu sai các cuộc tranh cãi ở thế kỷ thứ hai và thứ ba về hôn nhân. Một số bè phái khắt khe và lạc giáo ở thế kỷ thứ hai đã ngăn cấm hôn nhân nói chung, trái ngược với giáo huấn của Chúa Kitô và của Thánh Phaolô. Một số giáo phái khác ở thế kỷ thứ hai và thế kỷ thứ ba, nhất là phái Novatiô, ngăn cấm “cuộc hôn nhân thứ hai” sau khi người phối ngẫu qua đời. Khoản 8 của CĐ Nixêa đặc biệt nhắm vào sai lầm của phái Novatiô về “cuộc hôn nhân thứ hai” thường được hiểu là sau khi người phối ngẫu qua đời này.

Điều trên đã được xác nhận trong lời giải thích thời Byzantine về một khoản luật của thế kỷ thứ tư về “cuộc hôn nhân thứ hai” và việc rước lễ.

Khoản luật trên chuyên biệt áp dụng vào những người góa chồng và góa vợ còn trẻ bị thôi thúc bởi “việc xuất hiện của tinh thần xác thịt” nên đã tái hôn sau khi người phối ngẫu của mình qua đời. Họ bị chỉ trích vì “cuộc hôn nhân thứ hai” này nhưng vẫn được phép rước lễ nếu họ đã hoàn tất một thời kỳ cầu nguyện và đền tội.

Có một vài bản văn mơ hồ của thế kỷ thứ tư nói về ly dị và mối liên hệ thứ hai bị coi là ngoại tình. Các bản văn này nói tới việc cho phép một người bước vào mối liên hệ ngoại tình này được rước lễ chỉ sau một thời kỳ đền tội lâu dài (7 năm chẳng hạn). Tuy nhiên, không có gì chắc chắn là các bản văn này cho phép mối liên hệ thứ hai, mà chúng vốn coi là ngoại tình, được tiếp tục. Lối hiểu tự nhiên là việc từ bỏ tội ngoại tình là một phần của việc đền tội cần thiết để được rước lễ.

Tóm lại, các giáo phụ và các công đồng sơ khai mạnh mẽ chống lại việc cho phép người ly dị và tái hôn được rước lễ.

3. Thực hành của Chính Thống Giáo Đông Phương

Thời Giáo Hội sơ khai có việc tranh luận xem liệu có được tái hôn sau khi người phối ngẫu qua đời hay không, còn ly dị và tái hôn thì bị cấm. Một số giáo phụ Đông Phương, như Thánh Grêgôriô thành Nazianô chống lại luật lệ lòng lẻo của đế quốc cho phép tái hôn. Ngài gọi các cuộc kết hợp tiếp theo là “dung túng” (indulgence), rồi “phạm qui” và thậm chí “như heo” nữa. Đấy không phải là cho phép ly dị và tái hôn, trái lại là các cố gắng loại bỏ các cuộc kết hợp sau đó, dù là sau khi một người phối ngẫu đã qua đời.

Với thời gian và dưới áp lực của các hoàng đế Byzantine, những người muốn tỏ uy quyền đối với Giáo Hội Đông Phương, các Kitô hữu Đông Phương mới đúc kết “các cuộc hôn nhân thứ hai” sau khi người phối ngẫu qua đời thành một với ly dị và tái hôn, và đọc lại các bản văn giáo phụ dưới ánh sáng này. Qua thế kỷ thứ mười, Hoàng Đế Byzantine là Lêô VI đã buộc được người Chính Thống Đông Phương chấp nhận ly dị và tái hôn. Bằng thực hành “khoan dung” (oikonomia), phương thức hiện nay của họ cho phép cuộc hôn nhân thứ hai và thứ ba sau khi ly dị, dù nghi thức hôn phối được cử hành bên ngoài Thánh Lễ. Vì những cuộc kết hợp này không bị coi là ngoại tình, nên người ly dị và tái hôn được phép rước lễ.

Thực hành trên đi ra ngoài truyền thống hết sức rõ ràng của Giáo Hội vốn chung cho cả Đông lẫn Tây Phương. Như Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin đã tuyên bố năm 1994: “Cho dù các giải pháp mục vụ tương tự đã được một số giáo phụ đề xuất và phần nào được đem ra thi hành, nhưng chưa bao giờ đạt được sự đồng thuận của các giáo phụ và chưa bao giờ tiến tới chỗ tạo thành tín lý chung cho Giáo Hội cũng như xác định ra kỷ luật của Giáo Hội”. Nhận định này phản ảnh bút tích lịch sử.

Hơn nữa, Giáo Hội Công Giáo nhiều lần xác định rằng mình không thể chấp nhận thực hành của Chính Thống Giáo Đông Phương. Công Đồng Lyon thứ hai, năm 1274, chuyên biệt bàn tới thực hành của Chính Thống Giáo Đông Phương, đã tuyên bố rằng “người đàn ông không được phép có nhiều vợ cùng một lúc và người đàn bà cũng không được phép có nhiều chồng. Nhưng, khi một cuộc hôn nhân hợp pháp bị tiêu hủy bởi việc qua đời của một trong các người phối ngẫu, thì [Giáo Hội Rôma] tuyên bố rằng cuộc hôn nhân thứ hai và sau đó, cuộc hôn nhân thứ ba sẽ lần lượt là hợp pháp”.

Hơn nữa, các đề nghị hiện nay biện hộ cho một điều mà ngay Chính Thống Đông Phương cũng không chấp nhận: cho phép những người kết hợp theo luật dân sự mà không được chúc lành rước lễ, vì điều này được coi là ngoại tình. Chính Thống Giáo Đông Phương chỉ cho phép người ly dị và tái hôn được rước lễ nếu việc kết hợp sau đó của họ được chúc lành trong một nghi thức Chính Thống Giáo Đông Phương. Nói cách khác, cho người ly dị và tái hôn rước lễ không thể tránh khỏi việc buộc Giáo Hội Công Giáo phải thừa nhận và chúc lành cho các cuộc hôn nhân thứ hai sau khi ly dị, một điều rõ ràng đi ngược lại tín điều đã cố định của Công Giáo và giáo huấn minh nhiên của Chúa Kitô.

4. Các câu hỏi này đã được giải đáp trong các tranh cãi thời Cải Cách

Phong Trào Cải Cách đã trực tiếp thách thức giáo huấn Giáo Hội liên quan tới hôn nhân và tính dục con người, bằng cách sử dụng các luận điểm khá tương tự với các luận điểm hiện nay. Việc độc thân của giáo sĩ bị coi là quá khó khăn, vượt quá điều bản chất sa ngã của con người có thể chịu đựng được, dù là với ơn thánh. Bản chất bí tích của hôn nhân Công Giáo đã bị bác bỏ, cũng như tính bất khả tiêu của nó. Ly dị dân sự được dẫn khởi vào Đức với lý luận cho rằng không thể chờ mong nhà nước dành đặc quyền, cổ vũ và bảo vệ các cuộc hôn nhân suốt đời. Quả thực, Phong Trào Cải Cách đã triệt để định nghĩa lại hôn nhân.

Công Đồng Trent đã giải quyết cuộc khủng hoảng này bằng bốn cách. Trước nhất, Công Đồng định tín giáo huấn truyền thống về tính bí tích và tính bất khả tiêu của hôn nhân Kitô Giáo, minh nhiên đồng hóa tái hôn với ngoại tình. Thứ hai, Công Đồng buộc hôn nhân phải có hình thức công cộng và Giáo Hội, chấm dứt sự lạm dụng của các cuộc hôn nhân riêng tư và bí mật: vì trong các trường hợp này, người ta thường dựa vào quyết định tư riêng và có tính chủ quan để bãi bỏ cuộc hôn nhân lén lút rồi sau đó kết hôn công khai; Công Đồng kết án phương thức chủ quan và tư riêng này. Thứ ba, Công Đồng Trent ấn định thành tín điều quyền tài phán của Giáo Hội đối với các vụ án hôn nhân; vì sự toàn vẹn của các bí tích, CĐ đòi chúng phải được phán định bằng các tiêu chuẩn khách quan tại các tòa án Giáo Hội. Thứ bốn, CĐ minh nhiên dạy rằng người ngoại tình mất ơn công chính hóa: “các người ngoại tình” và “mọi người khác phạm tội trọng”, “dù không mất đức tin” song mất “ơn công chính hóa” và “bị loại ra ngoài Nước Thiên Chúa” trừ phi biết ăn năn, từ bỏ và căm ghét tội lỗi mình, và đi xưng tội theo bí tích. Ở một chỗ khác, CĐ Trent dạy rằng họ không được rước lễ nếu không chịu xưng tội.

Đơn thuần, ta không thể cho phép những người cứ tiếp tục sống trong sự ngoại tình được rước lễ đồng thời cho rằng mình phù hợp với các tín điều này của Công Đồng. Các định nghĩa của CĐ Trent về ngoại tình, công chính hóa hay ý nghĩa và tầm quan trọng của Phép Thánh Thể có thể thay đổi. Nhưng nhất định Giáo Hội không thể coi hôn nhân là việc riêng tư, hay là việc hoàn toàn thuộc thẩm quyền nhà nước hoặc là một điều được các phán đoán cá nhân của lương tâm quyết định. Sau một cuộc tranh cãi lâu dài, các vấn đề này đã được quyết định cách long trọng bởi một công đồng chung. Các tuyên bố này đã được huấn quyền đương thời lặp đi lặp lại, trong đó có CĐ Vatican II và Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo.

5. Tiền lệ trong Hiệp Thông Anh Giáo hiện đại - một đường dốc trơn trượt?

Trong một thế kỷ qua, Hiệp Thông Anh Giáo phần lớn đã đi theo tập quán thích ứng mục vụ vào phong thái xã hội và tính dục đang đổi thay của Âu Châu và Bắc Mỹ. Họ đã giải phóng việc ly dị, cho phép ngừa thai, cho phép người sinh hoạt đồng tính luyến ái được rước lễ và thậm chí, ở một số nơi, còn được đảm nhiệm thừa tác vụ thụ phong nữa, và đã bắt đầu chúc phúc cho các cuộc kết hợp đồng tính. Một số thay đổi này khởi đầu được biện minh viện cớ là chỉ áp dụng vào những trường hợp hiếm hoi, nhưng nay đã trở hành hết sức phổ thông.

Việc trên đã gây ra nhiều chia rẽ cay đắng, thậm chí phân rẽ, nếu không muốn nói là ly giáo thẳng thừng, trong Hiệp Thông Anh Giáo. Cùng giai đoạn này, con số tín hữu của họ ở Anh và Bắc Mỹ đã sa sút đáng kể. Dù người ta đang tranh luận về nguyên nhân gây ra sự sa sút này, nhưng không ai có thể có lý khi cho rằng sự thích nghi kia đã giúp Hiệp Thông này và nhiều hệ phái Thệ Phản khác duy trì được con số tín hữu của họ.

Huấn Quyền Công Giáo không đi theo con đường trên. Ngay năm 1930, Đức GH Piô XI đã thấy trước mối đe dọa trầm trọng do ngừa thai, ly dị và phá thai đem lại; và quan điểm của ngài đã được các Đức GH Piô XII, Gioan XXIII, Phaolô VI và CĐ Vatican II nhắc lại. Đức Gioan Phaolô II tái khẳng định các giáo huấn của Giáo Hội về ly dị, ngừa thai, đồng tính luyến ái và phá thai, nhấn mạnh tới mục đích sinh sản của hôn nhân, và đưa ra cơ sở thần học cho giáo huấn của Giáo Hội trong các bài giáo lý của ngài về thần học thân xác. Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo cũng nhắc lại các giáo huấn trường cửu này, coi tính dục con người dưới ánh sáng đức khiết tịnh. Và năm 2003, Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin tuyên bố rằng không có cách chi chấp thuận việc thừa nhận các cuộc kết hợp đồng tính là hợp pháp được; đây là một phần của luật luân lý mà lý trí, nhờ luật tự nhiên, có thể nắm được.

Do đó, trong thế giới đương thời, Giáo Hội luôn nhất quán làm chứng cho sự thật toàn diện về tính dục con người và tính bổ túc của các giới tính. Thiện ích của tính dục con người, từ trong nội tại, vốn có liên hệ với tiềm năng sinh ra sự sống mới, và vị trí thích đáng của nó là ở trong cuộc sống chung, trung thành và yêu thương hỗ tương giữa một người đàn ông và một người đàn bà. Đây là những sự thật cứu rỗi mà thế giới cần phải lắng nghe; càng ngày, Giáo Hội Công Giáo càng là tiếng nói đơn độc trong việc công bố chúng.

Dù các đề nghị này chỉ liên quan tới người ly dị và tái hôn, nhưng chấp nhận chúng, chỉ như các thực hành mục vụ mà thôi, cũng đòi Giáo Hội phải chấp nhận trên nguyên tắc rằng hoạt động tính dục bên ngoài cuộc hôn nhân vĩnh viễn và trung thành là tương ứng với việc hiệp thông với Chúa Kitô và với cuộc sống Kitô Giáo. Chấp nhận như thế, thật khó mà thấy làm thế nào Giáo Hội cưỡng lại được việc cho phép những cặp sống chung không hôn phối hay những người kết hợp đồng tính v.v… Thực vậy, luận lý học của chủ trương này đòi Giáo Hội cũng phải chúc phúc cho các liên hệ vừa kể, như Hiệp Thông Anh Giáo hiện đang làm, thậm chí chấp nhận trọn bộ cuộc “giải phóng” tính dục hiện nay. Việc cho người ly dị và tái hôn rước lễ chỉ là một khởi đầu.

6. Rước lễ thiêng liêng hay rước lễ bí tích đối với người ly dị và tái hôn?

Luận điểm để người ly dị và tái hôn khi vẫn còn cuộc hôn nhân đầu thành sự và hoàn hợp được đưa ra với các điểm sau đây: (1) Đức GH Bênêđíctô XVI đề nghị những người này nên rước lễ thiêng liêng; (2) nhưng nếu đã được rước lễ thiêng liêng thì cũng được rước lễ theo bí tích; (3) cho nên, người ly dị và tái hôn nên được phép rước lễ.

Vấn đề ở đây là việc dùng hạn từ “rước lễ thiêng liêng” cách mơ hồ. Tùy theo ngữ cảnh, việc này có thể chỉ (a) hoa trái hay hiệu quả tối hậu của việc rước lễ theo bí tích, tức việc được hiệp thông hoàn toàn về thiêng liêng với Chúa Kitô trong đức tin và đức ái; (b) cũng chỉ việc hiệp thông thiêng liêng này nhưng không rước lễ theo bí tích (thí dụ người rước lễ hàng ngày nhưng hôm đó lỡ, không tham dự Thánh Lễ hàng ngày được, nên đành nhờ hành vi đức tin sống động, lặp lại việc hiệp thông hoàn toàn với Chúa Kitô đã được lãnh nhận theo bí tích trước đây); hay (c) ước muốn được rước lễ của một người biết mình có tội trọng hay đang sống trong một tình thế mâu thuẫn với luật luân lý một cách khách quan, nên chưa được hiệp thông hoàn toàn với Người trong đức tin và đức mến.

Nghĩa thứ ba rất khác với hai nghĩa kia, vì người ước muốn được rước lễ chưa từ bỏ trở ngại trầm trọng cho việc hiệp thông hoàn toàn với Chúa Kitô. Trong hai nghĩa đầu, “rước lễ thiêng liêng” nói tới việc chu toàn sự hiệp thông hoàn toàn này. Thật rất tốt khi người này phát huy ước muốn như vậy và qua nó, với sự giúp đỡ của ơn thánh, cuối cùng họ có thể hồi tâm hối tội và phục hồi được sự viên mãn của hiệp thông Giáo Hội và tình trạng ơn thánh. Nhưng, và điều này rất chủ yếu, ước muốn này chỉ có giá trị bao lâu nó giúo họ từ bỏ chướng ngại vật.

Nếu họ được phép rước lễ trong khi chưa từ bỏ trở ngại, thì tình huống sẽ trở nên trầm trọng hơn. Họ sẽ rước lễ trong khi không thể tiếp nhận Chúa Kitô trong đức tin và đức ái, vì vẫn còn tiếp tục dính bén với tội trọng hay với tình huống sống vô trật tự một cách khách quan. Họ có thể rơi vào tình thế coi hoàn cảnh của mình không có vấn đề. Rõ ràng, Đức GH Bênêđíctô XVI khuyến khích người ly dị và tái hôn ước muốn rước lễ để họ tuân phục giáo huấn của Chúa Giêsu về hôn nhân, chứ không phải để họ miễn chước việc tuân phục giáo huấn này.

Hơn nữa, lãnh nhận Bí Tích Thánh Thể, bí tích của bác ái chứa đựng chính Chúa Kitô, trong khi biết mình có tội trọng, tự nó đã là một tội trọng rồi (1 Cor 11:27-31). Người ly dị và tái hôn trong khi vẫn bị bó buộc bởi cuộc hôn nhân thành sự đầu tiên là đang sống trong một mâu thuẫn khách quan ngược với lệnh truyền của Chúa Kitô; các hành vi vợ chồng trong mối liên hệ thứ hai này là các hành vi ngoại tình, là tội trọng. Những người như thế không thể rước lễ.

Tuy nhiên,ta nên khuyến khích họ ước muốn được kết hợp với Chúa Kitô và xin được ơn biết sống cuộc sống phù hợp với Người. Tham dự Thánh Lễ sẽ giúp họ lên đường xa lánh tội lỗi và hướng về cuộc sống mới trongThiên Chúa và trong Giáo Hội. Rước lễ bí tích quá hấp tấp chỉ tổ ngăn cản họ khỏi tiến tới chỗ hoàn toàn và đích thực hiệp thông với Chúa Kitô.

7. Không thể có tha thứ nếu không ăn năn và cương quyết cải sửa

Luận điểm đưa ra là: người ly dị và tái hôn khi vẫn bị trói buộc bởi cuộc hôn nhân thành sự đầu tiên, sẽ được phép xưng tội rồi rước lễ, nếu “họ thực sự hối hận vì đã thất bại trong cuộc hôn nhân đầu tiên”, nếu cuộc hôn nhân đầu tiên không thể phục hồi hay không thể bỏ mối liên hệ thứ hai “mà không bị mặc cảm tội lỗi mới” và “nếu họ cố gắng hết sức sống thực cuộc hôn nhân thứ hai trên căn bản đức tin và dưỡng dục con cái trong đức tin”. Không thấy nhắc gì tới việc sống như anh trai em gái; dù có dùng các chữ như “ăn năn” và “hồi tâm”, hình như luận điểm này mặc nhiên cho rằng đời sống vợ chồng vẫn tiếp diễn trong mối liên hệ thứ hai.

Theo lời dạy của Chúa Kitô, “ai ly dị vợ mình và cưới người khác, là phạm tội ngoại tình” (Mc 10:11). Nếu cuộc hôn nhân thứ nhất thành sự, thì người nào biết và tự do làm các hành vi vợ chồng với một người khác (dù là sau khi đã cưới người này theo dân sự, và dù đã xét tới các trường hợp giảm khinh vừa kể) đều phạm tội ngoại tình. Một cách khách quan, thì là chất liệu nặng nề, sẽ dẫn tới tội trọng.

Khẳng định rằng một người như thế có thể được tha thứ nhờ phép giải tội mà không cần phải ăn năn và xưng thú tội của mình là điều đơn thuần và dứt khoát không tương hợp với tín lý Công Giáo. Thực vậy, Giáo Hội vốn đã long trọng tuyên bố điều này thành tín điều và là một vấn đề thuộc thiên luật. Như Khoản Luật 7 của Công Đồng Trent về bí tích giải tội đã nói: bất cứ ai nói rằng theo thiên luật không cần phải xưng mỗi và mọi tội trọng mà họ nhớ được sau khi đã cẩn thận xét mình… họ hãy bị tuyệt thông”.

Sách Thánh dạy rằng ăn năn là điều cần thiết để được tha tội và hiệp thông với Chúa Kitô: “nếu nói rằng mình hiệp thông với Người trong khi vẫn đi trong bóng tối, ta là kẻ nói dối và không sống theo sự thật” (1 Ga 1:6)”. Như Thánh Gioan Phaolô II từng viết: “Không hồi tâm đích thực, tức hàm nghĩa sám hối từ bên trong, và không chân thành và cương quyết cải sửa, các tội vẫn tiếp tục ‘chưa được tha’ theo lời của Chúa Giêsu, và với Người, là Truyền Thống Cựu và Tân Ước”. Theo CĐ Trent, người ta phải “ghét tội đã phạm” và “cương quyết không phạm tội nữa” mới được tha thứ.

Bất kể liên quan tới bí tích nào (giải tội hay Thánh Thể), tín lý Công Giáo cũng loại bỏ khả thể tha tội nếu không sám hối mọi tội trọng và nhất tâm cải sửa. Đề nghị khả thể này cho người ly dị và tái hôn là dẫn họ ra xa chân lý, với những hậu quả hết sức nặng nề đối với họ.

8. Các hậu quả của việc rước lễ khi mang tội trọng

Thánh Thể là thánh thiện, nên đòi sự thánh thiện. Ta tôn kính và thờ lạy Bí Tích này vì nó chứa chính Chúa Kitô. Thánh Phaolô cảnh cáo chống việc lãnh nhận nó cách bất xứng rằng: “bất cứ ai ăn và uống cách bất xứng, không biện phân ra mình Chúa, là ăn và uống phán xét vào chính họ” (1 Cor 11:29). Giáo Hội luôn áp dụng lời này vào những người có tội trọng. Như CĐ Trent vốn dạy: “những ai mà lương tâm chất nặng tội trọng, bất kể họ nghĩ họ sám hối ra sao, nhất thiết họ phải xưng tội nếu có vị giải tội. Nếu bất cứ ai dám dạy hay giảng hoặc cố chấp chủ trương hay bênh vực điều ngược lại với điều này trong cuộc tranh cãi công cộng, thì vì chính sự kiện này họ hãy bị tuyệt thông”.

Lý do để Thánh Phaolô đưa ra lời cảnh cáo “đáng sợ” trên rất đơn giản: Dấu chỉ và ý nghĩa của việc rước lễ là người ta được kết hợp với Chúa Kitô.

Ai thiếu đức tin, một đức tin được đức ái siêu nhiên linh động hóa, thì không, và không thể kết hợp với Chúa Kitô.Theo định nghĩa, người sống trong tội trọng không có đức ái này. Nếu cứ rước lễ, hành vi của họ sẽ mâu thuẫn với điều được bí tích này biểu hiệu. Nói cho đúng hơn, đó là một sự phạm thánh.

Thuốc chữa có tính bí tích đúng nghĩa cho người có tội trọng là xưng tội, qua đó, người có tội biểu lộ sự ăn năn của mình và quyết tâm sửa cải. Trong Ecclesia de Eucharistia, Thánh Gioan Phaolô II chi tiết giải thích điều này: “Việc cử hành Thánh Thể… không thể là khởi điểm cho việc hiệp thông; nó giả thiết rằng sự hiệp thông đã có rồi, một sự hiệp thông nó nhằm cách củng cố và đem tới chỗ hoàn hảo”. Ngài trích Thánh Gioan Kim Khẩu: “Tôi cũng xin cất cao tiếng, van nài và van xin cùng nài nỉ rằng đừng ai tới gần bàn thánh này với một lương tâm vấy bẩn và đồi bại. Vì thực sự một hành vi như thế không bao giờ có thể gọi là ‘hiệp lễ’ được… mà chỉ là ‘kết án’, ‘hành hạ’ và ‘gia tăng hình phạt’ mà thôi”. Thánh Gioan Phaolô II kết luận: “cho nên tôi muốn tái quả quyết rằng trong Giáo Hội, vẫn còn hiệu lực, cả nay lẫn trong tương lai, điều luật theo đó Công Đồng Trent đã phát biểu cách cụ thể lời cảnh cáo của Thánh Phaolô khi khẳng định rằng để rước Thánh Thể cách xứng đáng, ‘người ta trước nhất phải xưng các tội của mình, khi biết mình có tội trọng”.

9. Làm sống lại một lý thuyết luân lý đã bị bác bỏ?

Hãy xét trường hợp một cặp ly dị và tái hôn thừa nhận cuộc hôn nhân đầu là thành sự, tuy nhiên vẫn tự ý sống với nhau như chồng và vợ. Điều này tương tự như việc nhìn nhận mình ngoại tình và do đó, mắc tội trọng. Theo giáo huấn của Giáo Hội, cặp này nên được giúp đỡ để thấy ra rằng trong trạng thái thiêng liêng ấy, họ phải tự chế đừng rước Thánh Thể. Liệu có cách nào khác không? Liệu ta có thể chấp nhận rằng cuộc hôn nhân đầu tiên thành sự và mối liên hệ tính dục hiện nay của cặp này có vấn đề về luân lý, hay ít nhất không hoàn toàn phù hợp với Tin Mừng, nhưng đồng thời lại cho rằng ít nhất trong một số trường hợp, điều này không đảo ngược niềm tin và tình yêu của họ đối với Thiên Chúa, họ vẫn thân hữu với Người, và do đó có thể lãnh nhận Thánh Thể cách hữu hiệu? Thậm chí có lẽ nên khuyến khích những cá nhân như thế này rước lễ, dựa vào lý thuyết cho rằng Phép Thánh Thể sẽ tăng cường mối liên hệ của họ với Thiên Chúa với những ơn thánh mới và sẽ giúp họ tăng trưởng trong tư cách môn đệ Chúa Kitô?

Quan điểm trên lệ thuộc lối giải thích rộng rãi lý thuyết “chọn lựa căn bản” (fundamental option), là lý thuyết cho rằng người ta nên phân biệt tác phong cụ thể của một người với xu hướng nền tảng của họ hướng về hay quay mặt khỏi Thiên Chúa. Thiết nghĩ nên cảnh cáo các cặp này tránh xa phương thức sai lầm này, dựa trên hai cơ sở sau:

Thứ nhất là thẩm quyền giáo huấn của chính Giáo Hội. Tông Thư của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Veritatis Splendor, kết án phương thức “chọn lựa căn bản” này bằng cách bác bỏ rằng: người ta “nhờ chọn lựa căn bản này, có thể vẫn trung thành với Thiên Chúa bất kể một số quyết định và hành vi của họ có phù hợp với các qui luật luân lý đặc thù hay không”. “Người ta xúc phạm tới Thiên Chúa bằng mọi tội trọng tự ý phạm…; ngay cả khi họ trì chí trong đức tin, họ vẫn đánh mất ‘ơn thánh hóa’, ‘đức mến’ và ‘hạnh phúc đời đời’. Như Công Đồng Trent từng dạy: ‘ơn công chính hóa khi đã nhận được vẫn mất đi không những bởi tội bỏ đạo, qua đó chính đức tin mất đi, mà còn bởi bất cứ tội trọng nào khác’”.

Cơ sở thứ hai nội tại ngay trong lý thuyết chọn lựa căn bản: chọn lựa căn bản có thể diễn ra khi ta đưa ra các quyết định có tính nền tảng về hướng đi của đời ta. Quyết định thường xuyên dính líu vào các liên hệ tính dục ở bên ngoài cuộc hôn nhân thành sự chắc chắn là một quyết định thuộc loại này. Nó là một việc tập thành thói quen được chọn lựa và là một lối sống. Khó có thể mô tả nó như một thứ tội thoáng qua vì yếu đuối hay đam mê.

Dĩ nhiên, không có vấn đề gì đối với cặp tái hôn cố gắng sống như anh trai em gái nhưng đôi khi sai phạm. Họ có thể xưng thú điều này; trên nguyên tắc, họ có thể rước lễ. Vấn đề chỉ xuất hiện khi họ không có ý định từ bỏ các liên hệ tính dục. Trong trường hợp này, đâu còn vấn đề tranh đấu để sống tiết dục. Cho phép họ rước lễ sẽ không giúp được gì để họ khắc phục sự dính bén của họ với tội lỗi, mà chỉ giúp họ cố thủ trong chọn lựa mà họ đã chọn lựa rồi mà thôi.

10. Cho phép người ly dị và tái hôn rước lễ là gây gương mù gương xấu

“Gương mù là một thái độ hay một tác phong dẫn người khác tới chỗ làm điều ác. Người gây gương mù trở thành kẻ cám dỗ người lân cận” (Sách Giáo Lý Của GHCG số 2284). Gương xấu của một người thông tri sai lầm cho tri thức của người khác và làm yếu ý chí của họ, dẫn họ tới chỗ phạm tội.

Giáo Hội luôn không ngừng dạy rằng ly dị và tái hôn gây gương mù trầm trọng. Vatican II gọi ly dị là một “bệnh dịch” và kết án “hiệu quả tối tăm” của nó đối với tính” ưu tú” của “hôn nhân và gia đình” (Gaudium et Spes, số 47). Như Sách Giáo Lý Của GHCG từng giải thích: “ly dị là vô luân … vì nó đem vô trật tự vào gia đình và xã hội. Sự vô trật tự này gây thiệt hại trầm trọng cho người phối ngẫu bị bỏ rơi, cho con cái bị chấn thương vì sự phân ly của cha mẹ và thường bị cha mẹ giằng xé, và vì hiệu quả lây lan khiến nó quả là một bệnh dịch đối với xã hội” (số 2385). Tái hôn sau khi ly dị khuếch đại gương mù này. Một số người sẽ lý luận rằng việc năng xẩy ra ly dị nhiều hơn trong thời đại ta và việc chấp nhận nó cách rộng rãi đã làm giảm đi bất cứ gương mù nào, và do đó, là lý do để ta cho phép người ly dị và tái hôn rước lễ. “Ngày nay, còn có ai ngỡ ngàng về nó nữa đâu?”

Cái nhìn trên đã hiểu lầm cái xấu xa của gương mù, vốn không phải là ngỡ ngàng về tâm lý mà là một cám dỗ để phạm tội. Kẻ vi phạm không cần có ý định cám dỗ người lân cận của mình; cám dỗ là hiệu quả của chính tội lỗi. Khi tội lỗi trở nên việc thông thường về phương diện xã hội, thì gương mù càng mở rộng chứ không thu nhỏ lại. Với mỗi con người mới chịu chiều theo nó, quyết tâm nơi người khác để cưỡng lại nó càng lâm nguy và áp lực của xã hội đòi họ chấp nhận nó càng gia tăng. Thực vậy, Giáo Hội dạy rằng việc chấp nhận rộng rãi tác phong tội lỗi tạo ra cả một cơ cấu xã hội cho tội lỗi, nói cách khác là định chế hóa gương mù gương xấu. Người Kitô hữu càng ngày càng thấy khó có thể sống trong một xã hội như thế mà không tỏ ra khoan dung với tác phong tội lỗi. Giáo Hội khuyên tín hữu cưỡng chống lại các cơ cấu của tội lỗi này.

Trong Familiaris consortio, Đức Gioan Phaolô II nêu gương mù làm lý do khiến người ly dị và tái hôn không được rước lễ: “Nếu những người này được phép rước lễ, tín hữu sẽ bị dẫn vào sai lầm và mù mờ về giáo huấn của Giáo Hội liên quan tới tính bất khả tiêu của hôn nhân”. Đi ra ngoài lệnh cấm truyền thống này sẽ cho tín hữu thấy, ít nhất một cách mặc nhiên, rằng ly dị và tái hôn là điều có thể chấp thuận được. Việc này cũng có thể đặt ra câu hỏi tại sao những người mắc tội trọng khác lại không thể được rước lễ. Gương mù cứ thế gia tăng.

Xét cách khách quan, rước lễ là dấu chỉ sự hiệp thông với Chúa Kitô và do đó với Giáo Hội. Nó công khai công bố rằng người lãnh nhận đang sống phù hợp với đức tin và nền luân lý đúng đắn. Cho phép những người đang ở trong trạng thái tội lỗi công khai rước lễ sẽ khiến người khác kết luận rằng giáo huấn của Giáo Hội về tội này không có tầm quan trọng đáng kể và ta có thể dung thứ cho loại tội này. Đó mới là yếu tính của gương mù.

Phân tích các đề nghị đối với việc thay đổi diễn trình tuyên bố vô hiệu

1. Đức tin chân chính có cần thiết để một hôn nhân thành sự hay không?

Đôi khi có gợi ý cho rằng khi một cặp kết hôn trong Giáo Hội mà không cam kết một cách chân chính đối với đức tin của Giáo Hội hay không hiểu biết chiều kích bí tích của hôn nhân (thí dụ, một cặp ít được dạy giáo lý, chỉ Công Giáo cho có tên nhưng thiếu dấn thân đối với đức tin), là có một điều gì đó thiếu sót ngay trong bí tích, bất chấp sự ưng thuận có giá trị của họ theo hình thức Công Giáo. Luận điểm này không tương hợp với tín lý và thực hành mục vụ Công Giáo, vì ba lý do:

Thứ nhất, Giáo Hội dạy rằng sợi dây bí tích, bất khả tiêu của hôn nhân có thể được kết ước giữa một người Công Giáo và một người đã rửa tội nhưng không phải là Công Giáo (thí dụ Chính Thống hay Thệ Phản). Trong những trường hợp này, người không Công Giáo đâu có tuyên xưng đức tin Công Giáo trong tính toàn vẹn của nó. Cũng thế, khi một cặp Thệ Phản trở lại Công Giáo, Giáo Hội coi cuộc hôn nhân của họ có tính bí tích và bất khả tiêu, cho dù, lúc họ kết hôn, họ không tin hôn nhân là bí tích và chỉ có ý giữ các mục đích tự nhiên của hôn nhân mà thôi. Ấy thế mà luận điểm trên lại cho rằng tuyên xưng đức tin tinh tuyền Công Giáo là điều cần thiết để cuộc hôn nhân thành sự về bí tích.

Chủ trương như thế thực tế là biến mọi cuộc hôn nhân hỗn hợp và mọi cuộc hôn nhân không Công Giáo thành không phải là bí tích.

Thứ hai, lý luận như thế là phá đổ trụ cột chính của nhiệm cục bí tích: các bí tích thành sự không tùy thuộc việc thừa tác viên phải ở trong trạng thái ơn thánh (một điều xét cho cùng không ai biết được) nhưng tùy thuộc mô thức và chất thể đúng mà thôi. Hai người phối ngẫu chính là hai thừa tác viên của bí tích hôn phối. Nếu họ thiếu đức tin do đức ái đào luyện, nghĩa là nếu họ không ở trong trạng thái ơn thánh, thì rất có thể họ không được hưởng lợi gì từ hiệu quả ơn thánh của bí tích, nhưng chính bí tích thì vẫn thành sự, miễn là họ trao đổi lời ưng thuận có giá trị và có ý định làm điều Giáo Hội làm, như lời dạy rõ ràng của Đức Bênêđíctô XVI (Diễn Văn trước Tòa Thượng Thẩm Rôma, 26 tháng 1, 2013). Thực ra, vấn đề này đã được giải quyết trong cuộc tranh cãi ở thế kỷ thứ 4 với phái Đônatô là phái chủ trương giống như trên rằng các thừa tác viên đang không ở trong trạng thái ơn thánh thì không thể ban bí tích một cách thành sự được.

Thứ ba, lý luận như thế là thay đổi giáo huấn minh nhiên của Giáo Hội, một giáo huấn vốn dạy rằng một cuộc hôn nhân thành sự chỉ đòi người ta có ý định giữ các thiện ích tự nhiên của hôn nhân. Như Đức Gioan Phaolô II từng giải thích, “Giáo Hội không từ chối cử hành hôn nhân cho một người có ý hướng tốt, dù họ không được chuẩn bị hoàn hảo theo quan điểm siêu nhiên, miễn là người này có ý ngay lành muốn kết hôn theo thực tại tự nhiên của hôn nhân. Thực vậy, song hành với hôn nhân tự nhiên, người ta không thể mô tả một kiểu mẫu khác cho hôn nhân Kitô Giáo với những tiên quyết siêu nhiên chuyên biệt” (Diễn Văn trước Tòa Thượng Thẩm Rôma, 30-1-2003). Đức Bênêđíctô XVI, trong diễn văn trước Tòa Thượng Thẩm Rôma năm 2013, cũng đã trực tiếp trả lời cho lý luận cho rằng đức tin thiếu sót làm cho cuộc hôn nhân bất thành sự; ngài đã tái khẳng định giáo huấn của Đức Gioan Phaolô II rằng có ý định tuân giữ các mục đích tự nhiên của hôn nhân là đủ rồi.

2. Tuyên bố vô hiệu không thể ban bố nếu thiếu chuyên môn và thủ tục giáo luật

Diễn trình tuyên bố tính vô hiệu của hôn nhân không hẳn chỉ là một thủ túc khác: trong yếu tính, nó có liên hệ với giáo huấn vĩnh viễn của Giáo Hội đã được điều 1141 của bộ giáo luật phát biểu: “Hôn phối thành sự và hoàn hợp không thể bị tháo gỡ bởi một quyền bính nhân loại hay một nguyên do nào, ngoài sự chết”. Cơ bản của điều luật này là hai bài nói chuyện với Tòa Thượng Thẩm của Đức Piô XII và trên hết là hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng, số 48. Hơn nữa, hôn nhân vốn được sự che chở của pháp luật (favor of law): tính thành sự của một cuộc hôn nhân phải được nhìn nhận bao lâu chưa chứng minh ngược lại (Điều 1060). Thủ tục tuyên bố vô hiệu một cuộc hôn nhân nhằm tuyên bố một sự kiện pháp lý (xem Điều 1400 §1) và tìm kiếm sự thật. Chánh án phải có sự chắc chắn tinh thần về tính vô hiệu của cuộc hôn nhân để có thể kết án (Điều 1608 §1). Các qui định của Bộ Giáo Luật và của huấn thị Dignitas connubii (năm 2005, của Hội Đồng Giáo Hoàng về Các Văn Bản Lập Pháp) bảo đảm việc tìm kiếm sự thật này và bảo vệ chống lại thứ nhân hậu giả tạo mà cả hai Đức Gioan Phaolô II lẫn Đức Bênêđíctô XVI đều cảnh cáo chống lại trong các bài nói chuyện của các ngài năm 1990 và năm 2010.

Bảo đảm tốt nhất để các vụ về hôn nhân được xử lý một cách vừa công bằng vừa hữu hiệu là phải trung thành tuân theo các qui luật về thủ tục và có tính trọng yếu của giáo luật, và phải củng cố chúng bằng một hiểu biết thần học thích đáng. Tuy nhiên, điều này tùy thuộc việc phải đào luyện các thừa tác viên của tòa án một cách thích đáng về thần học và giáo luật; họ phải biết sentire cum Ecclesia (cùng cảm nhận với Giáo Hội).

Thiếu các đòi hỏi căn bản trên thường là nguồn gốc gây ra các vấn đề cho diễn trình tuyên bố vô hiệu. Thí dụ, Tòa Thượng Thẩm Rôma đôi khi bị chỉ trích là phải mất nhiều năm mới giải quyết được các vụ án, nhưng vấn đề thường bắt nguồn trước hết tại tòa dưới trong đó các vụ xử đã không được chỉ thị thích đáng và các thủ tục không được tuân theo. Thật cực kỳ khó khăn, nếu không muốn nói là bất khả, khi phải sửa ở tòa cao điều đã không được thực hiện ở tòa dưới. Bởi thế, đào luyện căn bản và tiếp tục đào luyện là điều chủ yếu đối với một diễn trình diễn tiến có kết quả. Đây là lý do tại sao các thừa tác viên tòa án phải là các luật sư có bằng cấp giáo luật (các điều 1420 §4, 1421 §3, và điều 1435). Hơn nữa, các thừa tác viên tòa án cần có đủ thì giờ để toàn tâm toàn trí vào các vụ án đã chỉ định cho mình chứ không nên ôm đồm nhiều nhiệm vụ khác làm họ mất thì giờ.

Nếu các vụ án được chỉ thị một cách thích đáng, thì việc đòi phải có một phán quyết kép không phải là một trở ngại mà là một bảo đảm cho công lý. Thủ tục thực ra khá đơn giản, và việc bắt buộc phải duyệt lại phán quyết thứ nhất thực tế là một khuyến khích để tòa dưới tuân theo luật lệ một cách cẩn thận. Bãi bỏ việc duyệt xét lần thứ hai này chắc chắn sẽ khiến cho quyết định của toà dưới mất phẩm chất.

Phương thức mục vụ thường bị nhìn như là đối nghịch với phương thức giáo luật. Thực ra, đây là một nhị phân giả tạo. Đức Bênêđíctô XVI vốn khuyên các chủng sinh nên “hiểu và, cha dám nói, nên yêu giáo luật, biết đánh giá nó cần thiết xiết bao và trân quí các áp dụng thực tế của nó: một xã hội mà không có luật sẽ là một xã hội không có quyền. Luật là điều kiện của yêu thương” (“Thư gửi Các Chủng Sinh” , ngà y 18 tháng Mười, 2010: AAS 102 [2010] 796). Phương thức giáo luật, trong yếu tính, vốn có tính mục vụ, vì nó đặt để các điều kiện cần thiết cho những tấm lòng chao đảo dễ thay đổi. Nơi nào không có tâm thức này, giáo luật chắc chắn bị hiểu lầm. Bất hạnh thay, điều thường gọi là phương thức mục vụ hay dẫn người ta tới các quyết định võ đoán và do đó bất công. Đó là nguy cơ tức thời nếu người ta tính tới việc bãi bỏ các thủ tục do luật dự liệu.

3. Trong các vụ án hôn nhân, không thể dựa vào các phán đoán chủ quan

Liệu một phương thức có tính mục vụ nhiều hơn đối với các vụ vô hiệu có thể thay thế được diễn trình pháp lý hay không? Đôi khi người ta cho rằng diễn trình giáo luật hiện hành có tính vô ngã (impersonal), bàn giấy, và vô cảm đối với chiều kích bản thân độc đáo của những hoàn cảnh đặc thù. Hơn nữa, một số người ly dị và tái hôn còn chủ quan xác tín trong lương tâm rằng cuộc hôn nhân trước của họ không thành sự. Các mục tử của họ có thể đồng ý với họ. Trong các trường hợp như thế, tại sao không trao việc quyết định tính vô hiệu cho sự biện phân có tính bản thân bao gồm cá nhân và vị mục tử của họ, hay cho một linh mục được chỉ định làm đại diện giám mục đặc biệt phụ trách các vấn đề này?

Nhưng đã có cả một lịch sử dài phía đàng sau các câu hỏi trên. Thời Cải Cách, một số nhà Thệ Phản từng đề nghị rằng trong một số trường hợp, người ta có thể ly dị nếu được tòa đời cho phép, bất chấp các tòa án của Giáo Hội. Công Đồng Trent lên án quan điểm này: “Nếu bất cứ ai nói rằng các vụ án hôn nhân không thuộc quyền các chánh án Giáo Hội, thì họ hãy bị tuyệt thông”. Đức GH Piô VI sau đó minh giải rằng những vụ đó chỉ thuộc quyền các tòa án Giáo Hội mà thôi, vì lâm nguy tới việc thành sự của bí tích.

Huấn quyền gần đây đã dứt khoát loại bỏ các phán quyết chủ quan trong các vụ tuyên bố vô hiệu (thí dụ, giải pháp tòa trong). Nhưng tại sao các quyết định liên quan tới quyền tự do kết hôn của người ta lại không thể được quyết định trong một diễn trình tư riêng? Thứ nhất, ngay trên bình diện tự nhiên, hôn nhân cũng đã là một hành vi vĩnh viễn và công khai rồi, giữa một người đàn ông và một người đàn bà để thiết lập ra một gia đình, nền tảng của xã hội. Do đó, không hề có những phán quyết “hoàn toàn tư riêng” hay “hoàn toàn bên trong” cho các vụ hôn nhân. Thứ hai, hôn nhân giữa hai người đã chịu phép rửa là một bí tích. Việc lãnh nhận bí tích luôn là một hành vi có tính Giáo Hội, không bao giờ hoàn toàn tư riêng cả. Do đó, việc thích đáng là Giáo Hội phán quyết tính thành sự của các bí tích theo các tiêu chuẩn khách quan.

Đàng khác, theo một diễn trình cá nhân hóa sẽ dễ dàng tạo ra bất công. Hãy xét trường hợp người chồng bị cám dỗ ngoại tình. Anh ta có thể đưa ra một phán đoán tư riêng dựa trên một lương tâm sai lạc cho rằng cuộc hân nhân của anh ta không thành sự và do đó, anh ta được tự do ra đi và thậm chí còn cưới người đàn bà thứ hai. Mục tử của anh ta dám không biết hết sự thật nếu không điều tra kỹ, nhưng muốn điều tra kỹ thì cần một diễn trình nào đó. Diễn trình này chính là nhiệm vụ của các tòa án hôn nhân; tòa này có khả năng hơn nhiều để tiến hành cuộc điều tra với những bảo đảm an toàn cho mọi người liên hệ. Hơn nữa, người vợ và gia đình người đàn ông có những quyền lợi mà Giáo Hội, vì đức công bằng, buộc phải tôn trọng. Dù đặt qua một bên các hệ luận đối với tính toàn vẹn của bí tích, việc cho phép một phán quyết lầm lẫn được ban hành căn cứ vào phán đoán tư riêng chắc chắn gây tai hại cho vợ con anh ta và cho cả toàn bộ cộng đồng.

Cuối cùng, hỗn độn sẽ xẩy ra. Nếu một linh mục bác bỏ một “giải pháp” nhưng vị khác lại chấp nhận nó hay nếu một cặp không ai biết đã kết hôn nhưng hành động như đã kết hôn, thì sinh hoạt của Giáo Hội chắc chắn sẽ bị hoen ố bởi mù mờ và gương mù gương xấu.

Các yếu tố của một đề nghị tích cực đối với THĐ sắp tới

Các giáo huấn của Giáo Hội liên quan tới hôn nhân, tính dục và đức khiết tịnh phát xuất từ Chúa Kitô và các Tông Đồ; chúng có tính vĩnh viễn. Không thể thay đổi chúng, trái lại, cần được nói rõ như mới. Vì cuộc khủng hoảng hôn nhân và gia đình trong thời đại ta, nhiệm vụ này lại càng đặc biệt cấp thiết. Để đạt mục tiêu này, các điểm sau đây xem ra có nhiều hứa hẹn đối với chúng ta.

Thứ nhất, đổi mới và thâm hậu hóa cái hiểu và việc thực hành đức khiết tịnh phải là một bước tích cực quan yếu hướng tới việc tái xây dựng cuộc sống gia đình. Hiện đang có cuộc khủng hoảng đích thực về đức khiết tịnh trong thế giới hiện thời, và nó đóng vai trò không nhỏ trong cuộc khủng hoảng hôn nhân và gia đình. Nền văn hóa thế tục hiện nay hiểu lầm ý nghĩa của nhân đức này khiến người ta hoài nghi, thấy không thể sống được với nó. Thực vậy, điều này đã xẩy ra nơi một số cặp vợ chồng cưới nhau trong Giáo Hội, thậm chí còn cả ở nơi một số giáo sĩ nữa, như những tai tiếng gần đây cho thấy. Thành thử sẽ là một đóng góp lớn lao nếu ta biết bênh vực, giải thích và cố gắng giáo huấn việc thực hành và tính tự do của cuộc sống khiết tịnh, thậm chí đưa ra được một nền nhân học về đức khiết tịnh. Cũng sẽ là một công trình có giá trị lớn lao nếu ta chịu tìm hiểu nạn dịch lây lan của văn hóa khiêu dâm, các nguy hiểm nó đặt ra cho gia đình, và đưa ra các khuyến cáo thực tiễn có tính mục vụ cho những ai bị nạn dịch này hoành hành.

Thứ hai, điều đáng giá cần làm là giải thích lại cho rõ tình yêu và lòng nhân hậu có tính biến đổi của Thiên Chúa. Tình yêu này không dừng lại ở việc tha thứ lỗi lầm quá khứ mà còn biến đổi con người từ bên trong, để họ sống thoát khỏi tội lỗi và thói hư. Dạy rằng ơn thánh Chúa không chỉ tha thứ mà còn chữa lành và nâng cao người lãnh nhận vốn là đặc điểm cổ điển của giáo huấn Công Giáo. Giải thích cho biết việc này diễn tiến ra sao trong từng bí tích, nhất là các bí tích hôn phối, thống hối và Thánh Thể, tái sinh khí hóa nền giáo lý về điểm này, và khuyến khích người ta thực hành thường xuyên và xứng đáng việc lãnh nhận các bí tích, nhất là bí tích thống hối, một bí tích mà nếu không có nó, ta khó có thể nhổ rễ các thói hư và vun trồng các nhân đức, cũng là bước tiến đáng kể nữa.

Tin mừng về ơn thánh và lòng nhân hậu là một chiều kích của sự thật trọn vẹn về hôn nhân. Khi Tin Mừng được công bố bằng tình yêu và hy vọng, thì sự thật của nó có sức đem người nghe tới gặp chính Chúa Giêsu, và nhờ thế được ơn thánh của Người biến đổi. Sự thật được Chúa Kitô giảng dạy, trong đó, có sự thật về tính dục con người, giải phóng người có tội và đem lại cho họ một đường thoát, một đường hy vọng nhờ ơn thánh.

Thứ ba, vì lòng tôn trọng đối với người ly dị và tái hôn, các THĐ nên tìm cách làm thế nào để thiết lập ra các cơ cấu mục vụ nhằm thi hành giáo huấn của Familiaris consortio một cách cụ thể. Người ly dị và tái hôn nên được khuyến khích lắng nghe Lời Chúa, tham dự Thánh Lễ, kiên tâm cầu nguyện, đóng góp vào các công việc bác ái và vào các cố gắng công bình xã hội của cộng đồng, dưỡng dục con cái trong đức tin Kitô Giáo, vun đắp tinh thần và thực hành thống hối và nhờ thế ngày đêm khẩn cầu ơn thánh Chúa. Giáo Hội nên cầu nguyện cho họ, khuyến khích họ và chứng tỏ mình là người mẹ nhân hậu, và nhờ thế nâng đỡ họ trong đức tin và đức cậy (Familiaris consortio, số 84).

Ta có thể làm gì trên bình diện giáo phận và giáo xứ giúp cho việc quan tâm mục vụ sâu sắc hơn đối với những người đang sống trong trạng huống này được dễ dàng? Cho phép rước lễ, theo một nghĩa nào đó, vừa thái quá vừa bất cập. Vì ta cần thừa nhận đặc tính của trạng huống này không những với lòng cảm thương và nhân hậu, mà còn với sự thật, với cầu nguyện và kiên nhẫn nữa.

Thứ tư, tại nhiều nơi, việc chuẩn bị hôn nhân cần được củng cố hơn nữa. Vì quả thực, bồi đắp các cuộc hôn nhân lành mạnh cũng còn tùy việc chuẩn bị tốt để lãnh nhận các bí tích thống hối, rước lễ và thêm sức. Đổi mới và gia tăng việc chuẩn bị lãnh nhận các bí tích này là một trợ giúp lớn lao.

Thứ năm, các tòa án hôn phối cấp dưới cần được tăng cường. Việc phục vụ của các tòa này có tính hết sức chủ yếu đến độ không thể chuyển giao cho các cơ quan khác mà không tạo ra các nan đề còn lớn lao hơn nữa. Các thừa tác viên của các tòa này cần được đào tạo thỏa đáng về giáo luật và thần học, và nên theo một chương trình tu nghiệp thường xuyên, giống các luật sư ở tòa dân sự. Cũng cần cung cấp nhân viên đầy đủ cho các tòa này và hỗ trợ chúng sao cho các vụ án được giải quyết nhanh gọn mà vẫn tuân thủ các qui định và thủ tục vững vàng của giáo luật. Những người được chỉ định làm việc tại các tòa này cần có thì giờ đầy đủ để thi hành nhiệm vụ, không nên bị chồng đống với nhiều nhiệm vụ mất thì giờ khác.

Sau cùng, các THĐ nên nói lại cho rõ tại sao giáo huấn của Giáo Hội về hôn nhân và tính dục không hề có thiên kiến, cuồng tín hay kết án ai, nhưng đúng hơn nhằm thiện ích chân chính của mọi người liên hệ. Điều này rất cần đối với đồng tính luyến ái, vì nhiều người Công Giáo hiện nay đang đối phó với áp lực nặng nề phải hành động phù hợp với thứ triết lý sống có tính thế tục, buông lỏng coi mọi chống đối đồng tính luyến ái đều là phi lý. Đưa ra các chiến lược thực tế cho việc chăm sóc mục vụ các người có khuynh hướng đồng tính là một việc làm rất có giá trị.

Trình bày rõ ràng sự thật của luật tự nhiên, và trong tương quan với ơn gọi phổ quát phải yêu thương theo tinh thần Chúa Kitô sẽ tăng sức cho các gia đình đánh trả những trào lưu mạnh mẽ đang làm nó bất ổn hiện nay ở nhiều nơi trên thế giới.

Trong phần kết luận, các tác giả cho rằng theo lời hứa của Chúa Kitô (Ga 15:26), Giáo Hội luôn được Chúa Thánh Thần hộ giúp. Cho nên, bất cứ khi nào gặp thách thức lớn trong việc phúc âm hóa, Giáo Hội cũng biết rõ Thiên Chúa sẽ ban ơn thánh cần thiết để Giáo Hội thực thi sứ mệnh của mình. Nhiều người đồng thời với chúng ta thấy mình rơi vào những hoàn cảnh đau khổ lớn lao. Cuộc cách mạng tình dục gây nên không biết bao nhiêu thương vong. Họ bị thương nặng nề, khó lòng chữa khỏi. Dù tình huống này có thách thức tới đâu, nó vẫn là một cơ may có tính tông đồ quan trọng đối với Giáo Hội. Con người nhân bản thường biết rõ các thiếu sót của họ, thậm chí cả tội lỗi nữa, nhưng lại không biết phương thuốc do ơn thánh và lòng nhân hậu của Chúa Kitô đem lại. Chỉ có Tin Mừng mới thực sự hoàn toàn đáp ứng khát vọng của tâm hồn con người và chữa lành các vết thương sâu xa nhất trong nền văn hóa ngày nay của ta.

Giáo huấn của Giáo Hội về hôn nhân, ly dị, tính dục con người, và đức khiết tịnh có thể khá khó tiếp nhận. Chúa Kitô thấy rõ điều đó khi Người tuyên bố nó. Tuy nhiên, sự thật này mang theo nó một sứ điệp tự do và hy vọng chân chính: có một lối thoát ra khỏi thói hư và tội lỗi. Có một đường đi lên dẫn tới hạnh phúc và yêu thương. Nhờ luôn nhớ tới các sự thật này, Giáo Hội có lý khi hân hoan và hy vọng chấp nhận nhiệm vụ phúc âm hóa trong thời đại ta.

Còn tiếp
Vấn đề ly dị và tái hôn trong Đạo Công Giáo: Phần Hai, cuộc thanh luận quanh đè xuất của Đức Hồng Y Kaspker (15)
Vũ Văn An01/10/2014
Đức Phanxicô nghiêng về Đức HY Muller hơn Đức HY Kasper

Tiến sĩ William Oddie cho rằng Đức Phanxicô đứng về phía Đức HY Muller, chứ không phải Đức HY Kasper, trong cuộc tranh luận về ly dị và tái hôn vì ngài sẽ tiếp tục bảo vệ thánh truyền trong vấn đề này, như ngài vẫn làm xưa nay.

Ta biết, sau bài diễn văn của Đức HY Kasper, Đức Phanxicô không dè dặt khen ngợi vị hồng này trước mật nghị hội Hồng Y, trong đó, dĩ nhiên có Đức HY Kasper: “hôm qua, trước khi đi ngủ, dù tôi không làm việc này để ru mình ngủ, tôi đã đọc hay đúng hơn đã đọc lại công trình của Đức HY Kasper, và tôi muốn cám ơn ngài vì tôi tìm thấy một nền thần học sâu sắc, thậm chí một suy tư sáng sủa về thần học. Quả là thích thú khi được đọc một thần học sáng sủa. Và tôi cũng tìm thấy điều Thánh Inhaxiô dạy ta về ‘cảm thức của Giáo Hội’, tình yêu đối với Mẹ Giáo Hội. Nó làm tôi sảng khoái và bỗng sinh ra một ý tưởng, xin lỗi Đức Hồng Y, nếu tôi làm Đức Hồng Y bối rối, nhưng ý tưởng này là phải gọi đây là ‘làm thần học trên đầu gối của mình’. Xin cám ơn Đức HY. Xin cám ơn”.

Ai cũng nghĩ những lời ca ngợi ấy chỉ có thể phát xuất từ cửa miệng một người hoàn toàn ủng hộ quan điểm của người được ca ngợi. Nhiều người vì thế tin rằng các người Công Giáo ly dị và tái hôn sẽ sớm được rước lễ. Điều này càng được củng cố hơn, khi một phụ nữ Á Căn Đình, người từng viết thư hỏi Đức Phanxicô xem bà có thể được chịu các bí tích hay không dù bà đã ly dị và đã tái hôn ở tòa đời, cho hay Đức Giáo Hoàng nói bà “an tâm” rước lễ. Tin này do người bạn đời của người phụ nữ tiết lộ trên Facebook, bị nhiều người hoài nghi và chính Tòa Thánh bác bỏ, nhưng vẫn được báo chí đời loan truyền rộng rãi.

Oddie cho rằng ca ngợi là một chuyện nhưng thay đổi thánh truyền lại là một chuyện khác hẳn, điều mà Đức Phanxicô chắc chắn không bao giờ làm. Ngài sẽ không thể đồng ý để những người mang tội trọng có thể rước lễ, mà người ly dị tái hôn rõ ràng là mang tội trọng trừ khi nhìn nhận rằng hôn nhân không bất khả tiêu.

Đức Phanxicô dù sao vẫn là người con trung thành của Thánh Giáo Hội Công Giáo. Điều này được chính ngài xác nhận trong một bài giảng thánh lễ hàng ngày tại Nhà Thánh Mácta vào một buổi sáng tháng Giêng, năm 2014 trong đó, ngài cho hay ta không thể sử dụng tín lý của Giáo Hội “tùy thích”. Ngài xác định 3 “cột trụ” để ta thuộc về Giáo Hội là “khiêm nhường”, “trung thành” và “phục vụ đặc biệt”. Trung thành đây là trung thành với Giáo Hội, với giáo huấn của GH, với Tuyên Tín của GH, với tín lý của GH, bảo toàn tín lý này. Ngài bảo: “Ta tiếp nhận sứ điệp của Tin Mừng như một hồng ân và ta cần chuyển giao nó như một hồng ân, không phải là một điều của riêng ta: nó là hồng ân ta đã lãnh nhận”.

Trích dẫn Đức GH Phaolô, ngài nói rằng thật là “một nhị phân phi lý khi yêu Chúa Kitô mà lại không yêu Giáo Hội, ở với Chúa Kitô mà lại đứng bên lề Giáo Hội. Không thể nào như thế được. Nó là một nhị phân phi lý. Ta lãnh nhận sứ điệp Tin Mừng trong Giáo Hội và ta thực thi sự thánh thiện của ta trong Giáo Hội, đường đi của ta trong Giáo Hội. Con đường khác là ảo tưởng, hay như ngài nói, một nhị phân phi lý”.

Phản kiến thần học

Robert Fastiggi, Ph.D., giáo sư thần học hệ thống tại Đại Chủng Viện Thánh Tâm ở Detroit, Hoa Kỳ, liền sau khi nghe bài diễn văn của Đức HY Kasper, trong một bài đăng tải trên L’Osservatore Romano, đã cho hay một số nhận định của ngài về người ly dị và tái hôn có vấn đề.

Dĩ nhiên, bài diễn văn của ngài có nhiều ưu điểm: Theo ông, ngài đã cung cấp một “tổng hợp nhân học và thánh kinh học rất phong phú về nền thần học hôn nhân”. Tuy nhiên phần nói về người ly dị và tái hôn gây nhiều tranh cãi.

1) Vấn đề thứ nhất là động thái vượt ra ngoài các tòa án Giáo Hội. Đức HY Kasper cho rằng thiên luật (iure divino) không đòi các vụ ly dị và tái hôn chỉ được xử lý bằng phương thế luật lệ. Giám mục có thể ủy thác những vụ này cho một linh mục nhiều kinh nghiệm mục vụ và tâm linh làm đại diện xá giải hay đại diện giám mục của mình. Nhưng việc tránh né thủ tục luật pháp của Giáo Hội xem ra có nhiều nguy hiểm. Nếu linh mục muốn đưa ra một tuyên bố vô hiệu đối với cuộc hôn nhân giả định (putative marriage) trước đây, thì ngài dựa vào căn bản nào để đưa ra phán quyết nếu không dựa vào bộ giáo luật của Giáo Hội? Mà đã dựa vào giáo luật, thì làm thế nào một linh mục cá thể lại có khả năng áp dụng nó hơn là một tòa án của Giáo Hội? Mà cho dù linh mục này chỉ có nhiệm vụ quyết định có nên cho phép người ly dị và tái hôn được rước lễ hay không đi chăng nữa, thì ngài dựa vào đâu để quyết định? Nếu ngài cho phép họ rước lễ mà không có sự quyết tâm sống tiết dục (continent), thì như thế là cho phép người ta có liên hệ tính dục với một người không phải là người phối ngẫu hợp bí tích của mình, nghĩa là cho phép họ ngoại tình, một điều trái với thiên luật!

2) Vấn đề thứ hai liên quan tới việc đi từ luật chung tới các tình huống cụ thể đặc thù. Đức HY Kasper nại tới bài diễn văn của Đức Phanxicô đọc ngày 24 tháng Giêng, 2014 trước Tòa Thượng Thẩm Rôma, trong đó, đức GH nhấn mạnh rằng không nên đối nghịch hai chiều kích mục vụ và luật pháp. Căn cứ vào đó, Đức HY nói tới nhu cầu thiêng liêng của người Công Giáo ly dị và tái hôn. Ngài tự hỏi liệu việc khuyến khích họ rước lễ thiêng liêng thay vì rước lễ bí tích có nghĩa lý gì không nếu xét nó theo cơ cấu bí tích nền tảng của Giáo Hội. Nếu những người Công Giáo ly dị và tái hôn này có thể thực hiện một hiệp thông thiêng liêng với Chúa Kitô bất chấp tình huống của họ, thì tại sao họ lại không thể lãnh nhận một cuộc hiệp thông bí tích với cùng một Chúa Kitô này? Câu trả lời đơn giản cho câu hỏi này là: ai vẫn tiếp tục ở trong tội trọng thì không được Rước Lễ (Giáo Luật, các điều 915-916). Có liên hệ vợ chồng với một người không phải là phối ngẫu của mình là một tội trọng vì là ngoại tình. Chăm sóc thích đáng cho con người nhân bản không bao giờ được dẫn tới việc cho phép họ phạm tội. Nếu Giáo Hội cho phép người Công Giáo ly dị và tái hôn được rước lễ, thì điều này có nghĩa một là hôn nhân không bất khả tiêu hai là ngoại tình không phải là một tội trọng. Như Đức Gioan Phaolô II đã viết trong Familaris consortio, số 84: “Nếu những người này [ly dị và tái hôn] được phép Rước Lễ, thì các tín hữu sẽ bị dẫn tới chỗ sai lầm và mơ hồ liên quan tới giáo huấn của Giáo Hội về tính bất khả tiêu của hôn nhân”. Luật lệ của Giáo Hội đặt cơ sở trên giáo huấn của Chúa Kitô vốn qui hướng về thiện ích đích thực của mọi cá nhân. Không hề có mâu thuẫn giữa việc áp dụng các giáo huấn của Chúa Kitô và việc quan tâm tới thiện ích đích thực của mỗi người. Lẽ dĩ nhiên, hãm mình không rước lễ là điều khó khăn đối với người ly dị và tái hôn. Tuy nhiên, lòng khát khao Thánh Thể của họ nên động viên họ đến với Giáo Hội để xem xem liệu cuộc hôn nhân giả định trước của họ có thực sự thành sự hay không. Gợi ý của Đức HY Kasper có nguy cơ loại bỏ việc tìm hiểu này vì Giáo Hội đã cho phép họ rước lễ mà không cần có tuyên bố vô hiệu rồi còn đâu.

3) Vấn đề thứ ba là việc Giáo Hội thời xưa có thể đã cho phép người ly dị và tái hôn được trở lại với hiệp thông Giáo Hội và do đó được rước lễ. Các điển hình lịch sử được Đức HY Kasper nêu ra về phương diện này hiện đang bị thách thức. Việc ngài nại tới khoản luật 8 của CĐ Nixêa I (325) là một sai lầm. Khoản luật này không áp dụng cho người ly dị và tái hôn. Sự khoan dung nói ở đây áp dụng vào những người lạc giáo Cathar vốn có khuynh hướng khắt khe và trước đây từng cấm những người bước vào cuộc hôn nhân thứ hai sau khi người phối ngẫu đầu của họ qua đời không được rước lễ. Một điều kiện để những người theo chủ thuyết Cathar này được trở về với hiệp thông Công Giáo là họ phải hiệp thông với các người đã tái hôn vừa nói. Điều này được trình bày rõ trong cuốn Christian Marriage: An Historical and Doctrinal Study (Hôn Nhân Kitô Giáo: Một Nghiên Cứu Sử Học Và Tín Lý) của George J. Joyce, S.J. (Sheed & Ward, 1933), các trang 581–582. Giáo sư Roberto de Mattei cũng từng trích dẫn cuốn này để luận bác một số điển hình lịch sử của Đức HY Kasper. Các trường hợp điển hình được ngài nhắc tới về các người Công Giáo tái hôn được phép rước lễ trở lại sau khi làm việc đền tội đều là những trường hợp liên quan tới việc đền khỏi tội của cuộc hôn nhân bất thành sự thứ hai nhưng đã bị bãi bỏ. Chứ không phải là các trường hợp làm việc đền tội nhưng vẫn cho phép hối nhân tiếp tục sống trong cuộc hôn nhân bất thành sự thứ hai. Đức HY Kasper cũng bị thách thức khi ngụ ý cho rằng Thánh Basilêô cho phép người ly di và tái hôn được tiếp tục sống trong cuộc kết hợp của họ sau khi làm việc đền tội. Như Cha Joyce đã chứng minh, “Thánh Basilêô chỉ quan tâm tới vấn đề liệu một người đã kết hôn nay rời xa vợ và sống với một nhân tình (paramour) có chịu việc đền tội theo giáo qui vì tội ngoại tình hay không thôi” (tr.322). Nếu người đàn ông bị vợ bỏ rồi sau đó ăn ở với một nhân tình, thì cả chàng lẫn nàng có thể làm một việc đền tội nhẹ vẫn dành cho các vụ gian dâm không có tính ngoại tình. Đây là một ân giải được Thánh Basilêô cho phép, chứ không phải là một ân giải để tiếp tục sống trong một liên hệ không phải là hôn nhân! Chủ trương của Thánh Basilêô rất rõ trong cuốn Ethica, Regula 73 (Đạo Đức Học, Qui Luật 73), c. 2: “Người đàn ông không được phép rẫy vợ mình và cưới một người khác. Họ cũng không được phép cưới một người vợ từng bị chồng nàng ly dị” (PG. 32, 730). Các điển hình khác được Đức HY Kasper trích dẫn cũng đáng bị nghi vấn. Việc ngài nhắc tới việc đền tội như là “tấm ván thứ hai sau phép rửa” là lấy của Tertullian, De paenitentia (Về Việc Đền Tội) 4,2 và được trích dẫn trong Sắc Lệnh về Sự Công Chính Hoá của CĐ Trent (D-H, 1542). Ngài đúng ở chỗ cho rằng trong Giáo Hội sơ khai, việc đền tội được sử dụng như là tấm ván (cấp cứu) thứ hai cho các hối nhân bỏ đạo (lapsi). Nhưng điều này giả thiết các hối nhân phải từ bỏ tội bỏ đạo của họ. Chứ đây không phải một việc đền tội cho phép họ tiếp tục sống trong tội! Một nhận định tốt hơn nhiều về thực hành của Giáo Hội sơ khai đối với người ly dị và tái hôn tìm thấy trong bản văn của Đức HY Ratzinger, Liên Quan Tới Một Số Luận Bác Đối Với Giáo Huấn Của Giáo Hội Về Việc Rước Lễ Của Các Thành Viên Tín Hữu Ly Dị Và Tái Hôn, được công bố dưới hình thức lời dẫn nhập cho Tập 17 của loạt tài liệu do Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin công bố tựa là Tài Liệu và Nghiên Cứu: Về Việc Chăm Sóc Mục Vụ Cho Người Ly Dị và Tái Hôn (Vatican City, 1998). Bản văn này cung cấp cho ta một bác bỏ thấu đáo các điển hình được Đức HYKasper nêu ra. Dù nhìn nhận khả thể có những trường hợp ngoại lệ, Đức HY Ratzinger quả quyết rằng: “Trong Giáo Hội sơ khai, thời các Giáo Phụ, các thành viên tín hữu ly dị và tái hôn không bao giờ chính thức được phép Rước Lễ” (số 2).

4) Vấn đề thứ bốn liên quan tới việc Giáo Hội Công Giáo không bao giờ bác bỏ thực hành của Giáo Hội Chính Thống Giáo Đông Phương cho phép ly dị và tái hôn. Đức HY đưa ra luận điểm này trong phụ lục thứ hai của ngài và ngài nại tới nhận định của một số học giả nói về chủ trương của CĐ Trent đối với vấn đề này. Tuy nhiên, CĐ Trent này đã ra vạ tuyệt thông cho những ai “nói rằng Giáo Hội sai lầm khi đã dạy và còn đang dạy rằng theo tín lý Tin Mừng và tông truyền [xem Mt 5:32; 19:9; Mc 10:11tt; Lc 16:18; 1Cor 7:11], dây hôn phối không thể bị hủy tiêu vì tội ngoại tình của một trong hai người phối ngẫu, và cả hai, kể cả bên vô tội nghĩa là người không tạo cớ cho sự bất trung, có thể kết ước một cuộc hôn nhân khác khi người kia còn sống; và người chồng rẫy vợ ngoại tình và tái hôn và người vợ rẫy người chồng ngoại tình và tái hôn, thì cả hai phạm tội ngoại tình” (D-H, 1807). Việc kết án này không chừa chỗ để ta khoan dung thực hành hiện nay của các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương. Như Đức HY Ratzinger viết trong bản văn đã trích dẫn trên đây: “Trên các cơ sở tín lý, thực hành của các Giáo Hội Đông Phương phân rẽ khỏi Rôma không thể được Giáo Hội Công Giáo tiếp nhận… Hơn nữa, có chứng cớ cho thấy các nhóm tín hữu Chính Thống trở lại Công Giáo phải ký một lời tuyên xưng đức tin trong đó minh nhiên nhắc tới việc không thể có cuộc hôn nhân thứ hai” (số 2).

Tóm lại, theo nhà thần học này, Đức HY Kasper cần được khen ngợi vì bốn phần đầu trong bài diễn văn ngày 20 tháng Hai, 2014. Phần năm của bài diễn văn đó đã lặp lại các gợi ý từng bị Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin bác bỏ trước đây.

Đức HY Kasper minh xác

Trong cuốn “Gospel of the Family” đã trích trên đây, Đức HY có thêm phần tựa là “Nhận Định Kết Thúc Về Cuộc Thảo Luận”. Trong phần này ngài cho hay để trả lời một số phản ứng đối với bài diễn văn của ngài, ngài muốn minh xác 3 điểm:

1. Khởi điểm và nền tảng mọi suy tư của ta phải là lời dạy của Chúa Giêsu rằng không con người nhân bản nào được phân rẽ điều Thiên Chúa đã kết hợp (Mt 19:6). Không ai nghi ngờ tính bất khả tiêu của một cuộc hôn nhân bí tích đã thành sự và hoàn hợp.

Tuy nhiên, ta không nên tách biệt lời Chúa Giêsu dạy ra khỏi ngữ cảnh toàn diện của sứ điệp của Người về nước Thiên Chúa và về tình yêu và lòng nhân từ của Thiên Chúa. Cũng thế, ta cần phải hiểu tín lý về tính bất khả tiêu của hôn nhân trong tương quan nội tại với các mầu nhiệm của đức tin, như CĐ Vatican I vốn dạy (DH 3016) và trong phẩm trật các chân lý đức tin, như CĐ Vatican II dạy trong Sắc Lệnh về Đại Kết số 11. Do đó, ta phải hiểu và hiện thực hóa lời dạy của Chúa Giêsu và giáo huấn của Giáo Hội trong tương quan với sứ điệp của Chúa Giêsu về lòng nhân từ vô lượng của Thiên Chúa đối với mọi hối nhân và muốn được Người thương xót.

Lòng thương xót ấy không phải là một thứ ơn thánh rẻ tiền. Vì nó không miễn chước việc hồi tâm của bản thân và lẽ dĩ nhiên, không loại bỏ sự thật. Lòng nhân từ luôn nối kết với sự thật, nhưng ngược lại, sự thật cũng nối kết với lòng nhân từ. Lòng nhân từ là nguyên tắc chú giải học để giải thích sự thật. Nó là điều cần thiết để thi hành sự thật trong tình yêu (Eph 4:15).

Ta còn một nguyên tắc chú giải học khác nữa, đó là: theo cách hiểu của Công Giáo, ta phải giải thích lời dạy của Chúa Giêsu trong ngữ cảnh của toàn bộ truyền thống của Giáo Hội. Trong trường hợp của ta, truyền thống này không hề có tính một hướng. Nó có những vấn đề thuộc lịch sử và nhiều ý kiến chuyên môn khác nhau mà ta không thể đơn thuần làm ngơ. Giáo Hội luôn cố gắng đi tìm con đường trung dung giữa chủ nghĩa khắt khe và chủ nghĩa lỏng lẻo, nghĩa là tìm cách áp dụng sự thật trong yêu thương.

2. Tính độc đáo của mọi con người là thành tố căn bản của nền nhân học Kitô Giáo. Không con người nhân bản nào đơn thuần chỉ là một điển hình của bản tính nhân loại nói chung, và không một con người nhân bản nào bị phán xử duy nhất bằng qui luật tổng quát. Chúa Giêsu không bao giờ nói tới chủ nghĩa này hay chủ nghĩa nọ, bất kể là chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tiêu thụ, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa tương đối hay chủ nghĩa đa dục (pansexualism)… Trong một dụ ngôn, Người nói tới Người Chăn Chiên Tốt Lành bỏ 99 con chiên lại để đi tìm 1 con chiên lạc, để rồi vác nó lên vai khi tìm thấy nó và đưa nó về đàn. Chúa nói: “cũng thế, tôi bảo các ông: thiên đàng hân hoan vì 1 người tội lỗi biết ăn năn hơn 99 người công chính không cần phải ăn năn” (Lc 15:1-7).

Nói cách khác, không hề có người ly dị và tái hôn nói chung, mà đúng hơn, chỉ có những cá nhân ly dị và tái hôn; những cá nhân này rơi vào các tình huống rất khác nhau, mà ta cần phải phân biệt cẩn thận. Cũng không có tình huống khách quan nói chung làm ngăn trở cho việc cho phép rước lễ, mà đúng hơn có nhiều tình huống khách quan rất khác nhau. Thí dụ, nếu một người đàn bà bị bỏ rơi mà không hề có một chút lỗi lầm nào và, vì lợi ích của con cái, bà cần một người chồng hay một người cha, và bà trung thực cố gắng sống cuộc sống Kitô hữu trong cuộc hôn nhân và gia đình thứ hai theo luật dân sự, và dưỡng dục con cái thành Kitô hữu, đồng thời tham dự giáo xứ một cách gương mẫu, một điều rất thường xẩy ra, thì điều này cũng thuộc loại tình huống khách quan, nhưng khác trong yếu tính với một tình huống, tiếc thay, cũng rất thường xẩy ra là: một ai đó bước vào cuộc hôn nhân thứ hai theo luật dân sự một cách ít nhiều dửng dưng đối với tôn giáo và sống ít nhiều như người không thực hành đạo.

Do đó, ta không nên có một quan niệm quá hẹp hòi về tình huống khách quan đến độ thu nhỏ nó lại một điểm duy nhất. Mà đúng hơn, ta phải nghiêm túc tự hỏi liệu ta có thực sự tin sự tha tội mà ta vốn đọc trong Kinh Tin Kính hay không và ta có thực sự tin một ai đó phạm lỗi lầm, rồi ăn năn, và không thể đảo ngược được lỗi lầm ấy mà không rơi vào một mặc cảm tội lỗi mới, nhưng đã làm mọi điều có thể làm được, có thể nhận được ơn tha thứ của Thiên Chúa hay không, và liệu lúc ấy ta có thể từ khước việc giải tội cho họ hay không? Đấy có phải là lập trường của Người Chăn Chiên Tốt Lành và Người Samaritanô nhân hậu chăng?

Đối với những trường hợp như trên, Đức HY Kasper nói rằng truyền thống Công Giáo nhất định không thừa nhận nguyên tắc oikonomia (khoan dung), nhưng truyền thống này biết một nguyên tắc tương tự gọi là epikeia (thích nghi vào hoàn cảnh cụ thể), biện phân thần khí và thuyết đồng cái nhiên (equiprobabilism) của Thánh Anphôngsô đệ Liguori. Truyền thống này cũng nhìn nhận cái hiểu của trường phái Tôma về nhân đức thận trọng hay khôn ngoan (prudence) vốn là một nhân đức nền tảng giúp áp dụng qui luật tổng quát vào tình huống cụ thể.

Tóm lại, trong vấn đề đang bàn, không hề có giải pháp tổng quát cho mọi trường hợp. Đây không phải là vấn đề cho phép chung người ly dị và tái hôn nói chung. Mà đúng hơn, ta phải nghiêm túc lưu ý tới tính độc đáo của mọi con người và của mọi tình huống và thận trọng phân biết và quyết định từng trường hợp một. Bằng cách này, con đường hồi tâm và đền tội, như hình thức được Giáo Hội sơ khai thừa nhận, không phải là con đường của quảng đại quần chúng, mà đúng hơn là con đường của các Kitô hữu đặc thù, có thái độ nghiêm túc thực sự đối với các bí tích.

3. Chân Phúc John Henry Newman từng viết một khảo luận lừng danh tựa là “Về Việc Tham Khảo Tín Hữu Trong Các Vấn Đề Đức Tin”. Ngài chứng minh rằng trong cuộc khủng hoảng Ariô ở hai thế kỷ thứ 4 và thứ 5, không phải các giám mục, mà đúng hơn là các giáo dân đã duy trì được đức tin của Giáo Hội. Thời ấy, Chân Phúc Newman bị nhiều người cực lực phê phán, nhưng nhờ tuyên bố như thế mà ngài đã trở thành người tiền phong của CĐ Vatican II, một Công Đồng, một lần nữa, đã nhấn mạnh tới giáo huấn cảm thức đức tin, một cảm thức mà tín hữu nào, nhờ phép rửa, cũng được ân ban (Lumen Gentium, các số 12, 35).

Điều cần là phải xem trọng cảm thức đức tin của các tín hữu, nhất là vì nó có liên quan tới chủ đề của chúng ta ở đây. Đức HY Kasper cho rằng: các vị trong mật nghị hội Hồng Y đều là người độc thân; còn đại đa số tín hữu sống thực niềm tin của họ vào tin mừng gia đình trong các gia đình cụ thể và đôi khi trong các tình huống khó khăn. Cho nên, các vị trong mật nghị hội Hồng Y cần phải lắng nghe lời chứng của các tín hữu cũng như phải lắng nghe những gì các đồng sự mục vụ và các huấn đạo viên về chăm sóc mục vụ gia đình muốn nói. Họ vốn có nhiều điều muốn nói với chư vị. Bởi thế, toàn bộ vấn đề không thể được quyết định bởi một ủy ban chỉ gồm các vị Hồng Y và giám mục mà thôi. Điều này không loại bỏ việc quyết định cuối cùng vẫn nằm trong tay Thượng Hội Đồng với sự thỏa thuận của Đức Giáo Hoàng.

Về vấn đề này, Đức HY Kasper cho hay: hiện đang có nhiều mong chờ trong Giáo Hội. Dĩ nhiên, không phải mong chờ nào cũng được thể hiện. Nhưng sẽ là một thất vọng lớn lao “nếu ta chỉ lặp lại những giải đáp vốn luôn luôn được nêu ra. Là các chứng nhân của hy vọng, ta không nên để mình bị hướng dẫn bởi một khoa chú giải sợ sệt. Cần một thứ can đảm và trên hết một thứ bộc trực theo nghĩa Thánh Kinh (parrhesia). Nếu không muốn điều đó thì ta không nên tổ chức một thượng hội đồng về chủ đề này, vì như thế tình thế sẽ trở nên tồi tệ hơn trước. Ít nhất, ta cũng nên hé cánh cửa để giáo dân hy vọng và mong chờ và ít nhất cho họ một dấu hiệu để họ thấy rằng về phần chúng ta, chúng ta coi trọng các hy vọng cũng như các vấn nạn, các lo âu và nước mắt của biết bao Kitô hữu nghiêm túc”.

Còn tiếp
VietCatholic TV
Video: Suy niệm cùng với Đức Thánh Cha Phanxicô: 25/09-01/10/2014 - Câu chuyện Chúa Giêsu giảng dạy cho người phụ nữ xứ Samari
VietCatholic Network01/10/2014
Máy yếu hay Internet chậm xin nhấn vào nút Play bên dưới đây
1. Để hiểu Chúa Kitô, chúng ta phải vác thánh giá

Một Kitô hữu không có Thánh giá, không sẵn sàng vác thánh giá với Chúa Giêsu thì không thể hiểu Chúa Kitô, Đấng Cứu Chuộc. Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên trong bài giảng Thánh lễ sáng thứ Sáu 26 tháng 09, tại nhà nguyện Santa Marta.

Là một Kitô hữu nghĩa là trở thành một “ông Simon thành Cyrene” khác. Đức tin bao gồm điều này: Nếu bạn chịu mang lấy gánh nặng thánh giá Chúa thì bạn sẽ thuộc về Ngài. Nếu không bạn, đang đi một con đường xem ra “bằng phẳng” đấy nhưng đó là một thứ đường đi không đến.

Nội dung bài giảng của Đức Thánh Cha xoay quanh bài Phúc Âm trong ngày kể lại việc Chúa Giêsu hỏi các tông đồ về căn tính của Ngài và nhận được nhiều câu trả lời khác nhau. Đoạn Tin Mừng này diễn ra bối cảnh Chúa Giêsu mặc khải “cách đặc biệt về căn tính thật sự của Ngài.” Trong nhiều trường hợp, khi có ai muốn tiết lộ căn tính của Ngài, “Ngài ngăn cản họ”, cũng giống như nhiều lần Ngài cấm ma quỷ tiết lộ về căn tính Ngài là “Con Thiên Chúa,” Đấng đến để cứu độ thế gian. Là vì mọi người hiểu lầm và nghĩ rằng Đấng Cứu Thế là một nhà lãnh đạo quân sự sẽ trục xuất những người La Mã. Chỉ trong riêng tư, với Nhóm Mười Hai, Chúa Giêsu mới “bắt đầu giáo huấn về căn tính thực sự của mình”.

Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sống lại.” Đây là con đường giải thoát cho anh chị em. Đây là con đường của Đấng Mêsia: chịu Khổ Nạn, Thánh giá. Ngài giải thích về căn tính của Ngài cho các môn đệ. Họ không muốn hiểu và trong Tin Mừng Mátthêu, ta còn thấy Phêrô ra sức ngăn cản Chúa: “Không! Không, Đừng để Thầy bị như vậy … Chúa Giêsu bắt đầu mặc khải về căn tính thật sự của mình. Ta là Con Thiên Chúa. Nhưng đây là con đường của Ta: phải bước đi trên con đường khổ nạn”.

Đức Thánh Cha nói rằng, đây là khoa “sư phạm” mà Chúa Giêsu dùng “để chuẩn bị tâm hồn cho các môn đệ và dân chúng hiểu về mầu nhiệm Thiên Chúa”.

“Tình yêu Thiên Chúa che lấp muôn vàn tội lỗi và Ngài cứu chúng ta theo cách này: đó là con đường Thánh giá. Không có Thánh giá, bạn không thể hiểu được Chúa Giêsu Kitô là Đấng Cứu Thế. Chúng ta có thể nhận ra nơi Ngài là một ngôn sứ vĩ đại, Ngài làm những điều tốt đẹp, Ngài là một vị thánh. Nhưng nếu không có thánh giá bạn không thể hiểu Chúa Kitô như là một Đấng Cứu Thế. Tâm hồn của các môn đệ, tâm hồn của dân chúng chưa chuẩn bị sẵn sàng để hiểu mầu nhiệm này. Họ không hiểu được những lời tiên báo, cũng như không hiểu rằng chính Ngài là Con Chiên đền tội. Họ chưa được chuẩn bị.”

Vào Chúa Nhật Lễ Lá, khi Chúa Kitô tiến vào Giêrusalem, đám đông theo Ngài đã tung hô về căn tính của Ngài “Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến!” Mặt khác, chỉ sau cái chết của Chúa Giêsu danh tính của Ngài mới tỏ hiện cách viên mãn; “lời thú nhận đầu tiên” đã được đưa ra từ miệng viên đội trưởng Rôma: “Quả thật Người này là Con Thiên Chúa”.

Chúa Giêsu đã chuẩn bị từng bước một để chúng ta có thể hiểu rõ hơn về Ngài. Ngài chuẩn bị cho chúng ta cùng đi với Ngài theo con đường đưa đến Ơn Cứu Độ”

“Ngài chuẩn bị cho chúng ta nên như ‘Simon thành Cyrene,’ người vác đỡ thánh giá Chúa. Nếu đời Kitô hữu của chúng ta thiếu điều này, chúng ta không phải là Kitô hữu, chỉ có thể là một đời sống tinh thần tốt … Nhưng Chúa Giêsu đã chọn con đường thánh giá để cứu chúng ta và chúng ta cùng đi chung một con đường với Ngài. Chúng ta mang danh Kitô hữu không phải nhờ vào những công đức của chúng ta nhưng đó là một hồng ân.

2. Phù vân, quả là phù vân

“Phù vân, quả là phù vân. Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân. Lợi lộc gì đâu khi con người phải chịu đựng bao gian lao vất vả dưới ánh nắng mặt trời? Thế hệ này đi, thế hệ kia đến …Chẳng ai còn nhớ đến người xưa, và đối với những người đến sau thì cũng thế ; các thế hệ mai sau sẽ chẳng còn nhớ đến họ.”

Trong Thánh lễ sáng 25 tháng 9 tại tại nhà nguyện Santa Marta, Đức Thánh Cha Phanxicô nói rằng hãy cẩn trọng về tính chất phù vân của đời tạm này, vì cuối cùng mọi sự thế gian mà chúng ta gầy dựng cũng chỉ như “bong bóng xà phòng” mà thôi.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã trình bày những suy tư trên dựa vào sách Giảng Viên trong đoạn nói về tính chất phù vân của đời người. Phù hoa là một tên cám dỗ không chỉ đối với dân ngoại mà còn với các Kitô hữu, những người có đức tin.

Chúa Giêsu thường quở trách những người tự hào, khoe khoang. Ngài nói với các Luật sĩ, Kinh sư rằng họ không nên “đi ngoài đường” với “tua áo dài sang trọng,” như “hoàng tử”. Khi bạn cầu nguyện đừng để cho người khác nhìn thấy. Cầu nguyện nơi bí ẩn và vào phòng đóng cửa lại.”

Khi giúp đỡ người nghèo cũng nên làm như vậy: “Không thổi kèn, đánh phèng la, chũm choẹ, nhưng hãy làm điều đó cách kín đáo. Cha trên trời biết là đủ.”

“Khi ăn chay anh em cũng đừng làm ra bộ u sầu để mọi người thấy anh em ăn chay. Nhưng khi ăn chay anh em phải vui mừng, làm việc sám hối với niềm vui, để không ai biết anh đang ăn chay.”

Phù hoa là lối sống thích “thể hiện ra bên ngoài, sống để cho mọi người thấy.”

Kitô hữu cũng bị cám dỗ sống khoe hoang như thế. Đó chỉ là sự phù hoa, vênh vang, họ khoe mẽ như một con công khoe bộ lông. Đó là những người vỗ ngực tự hào nói: “Tôi là một Kitô hữu, tôi là một linh mục, một nữ tu, một giám mục; gia đình tôi là đạo dòng.”

Đức Thánh Cha hỏi: “Cuộc sống của bạn với Chúa rao sao? Bạn cầu nguyện như thế nào? Bạn có sống bác ái, xót thương với người khác không? Bạn có đi thăm viếng kẻ liệt lào đau ốm không? Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu mời gọi chúng ta phải xây dựng ngôi nhà của mình tức là đời sống Kitô hữu trên đá tảng là sự thật. Mặt khác, Ngài cũng cảnh báo rằng thật vô ích nếu xây dựng nhà mình trên cát, bởi vì nó không có khả năng chống lại những chước cám dỗ.

Có bao nhiêu Kitô hữu đang sống khoe khoang? Cuộc sống của họ chỉ như bong bóng xà phòng. Bong bóng xà phòng rực rỡ với các màu sắc của nó, nhưng nó chỉ kéo dài một ngày thôi. Và sau đó còn lại là gì? Khi chúng ta dự lễ an táng, chúng ta sẽ thấy cuối cùng chỉ là phù vân bởi vì sự mọi sự đều trở về với đất. Như Vị Tôi Tớ Chúa là Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục đã nói. “Đất trống đang chờ đợi chúng ta, đó là thực tại cuối cùng của chúng ta.” Trong khi chờ đợi, tôi tự hào khoe khoang hay tôi phải làm một cái gì đó? Tôi phải làm gì cho tốt đây? Tôi có tìm kiếm Thiên Chúa không? Tôi có cầu nguyện không? Phù hoa chính là tên lừa phỉnh, hắn lừa phỉnh chính hắn, hắn chỉ là tên rỗng tuếch, hắn hứa hẹn đủ điều nhưng cuối cùng hắn chỉ tìm kiếm chính hắn.

Và điều này rất gần với những gì đã xảy ra với Vua Hêrôđê như Tin Mừng nhắc đến hôm nay. Đó là người đã cảm thấy vô cùng lo lắng bất an khi điều tra về danh tính của Chúa Giêsu.

Phù vân gieo vào lòng người sự lo lắng. Nó làm mất đi sự bình an. Nó giống như những người đã quá tỉ mỉ trang điểm và bây giờ thì sợ đi ra ngoài vào trời mưa, vì sẽ làm tiêu tan hết những gì họ đã cố gắng điểm trang.

Phù hoa không mang lại cho chúng ta sự bình an, chỉ có sự thật mới cho chúng ta sự bình an mà thôi.

Chúa Giêsu là đá tảng vững chắc mà chúng ta hãy xây đời mình trên đó. Chúng ta đọc lại mưu mô của ma quỷ đã dùng sự phù hoa để cám dỗ Chúa Giêsu trong sa mạc. Hắn nói với Ngài: “Hãy đến đây, chúng ta hãy đi lên đền thờ, chúng ta sẽ thấy tất cả vinh quang phú quý trong thiên hạ. Hãy quỳ bái ta đi thì ông sẽ được những thứ đó. Con quỷ cho Chúa Giêsu thấy sự phù vân. Phù vân là căn bệnh nghiêm trọng cho tinh thần.”

Các Thánh Giáo Phụ Ai Cập ẩn tu trong sa mạc nói rằng phù hoa là một cơn cám dỗ mà cả đời chúng ta phải chống lại nó, bởi vì nó luôn quay lại làm cho chúng ta xa rời sự thật. Và để hiểu được điều này, các vị khuyên: Phù hoa giống như một củ hành tây. Bạn cầm nó và bắt đầu bóc từng lớp phù hoa của nó ra. Ngày từng ngày bạn bóc từng lớp phủ phù hoa ra. Như bạn đang vượt thắng được nó. Và cuối cùng bạn sẽ hài lòng: tôi đã loại bỏ các tính hư, tôi đã bóc từng lớp phù hoa của vỏ hành nhưng mùi của nó vẫn còn vương lại trên tay bạn.

Chúng ta hãy nài xin ơn Chúa để không bị vướng vào phù hoa nhưng luôn biết nhận ra sự thật chân thực về chính mình và về Tin Mừng.

3. Câu chuyện Chúa Giêsu giảng dạy cho người phụ nữ xứ Samari

Trước khi bị thất thủ vào năm 721 trước Chúa Giáng Sinh, Samari là miền đất thuộc về dân Giavê Thiên Chúa- nơi ở dưới chân núi Gơridim, còn lưu lại dấu tích một cái giếng rất cổ xưa được xem là giếng của tổ phụ Giacóp. Sau khi bị các dân ngoại xâm lăng, bị áp đặt niềm tin tôn giáo, và bị những người Do Thái khinh rẻ người Samari đã ly giáo. Từ đó giữa Do Thái và Samari trở nên thù địch không đội trời chung. Tuy nhiên, tại chính miền đất hận thù này một áng văn tuyệt tác của Tin Mừng theo Thánh Gioan đã ghi lại cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ xứ Samari.

Khi ấy Chúa Giêsu đến một thành xứ Samari, tên là Xykha, gần thửa đất ông Giacóp đã cho con là ông Giuse. Ở đấy, có giếng của ông Giacóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.

Có một người phụ nữ Samari đến lấy nước. Ðức Giêsu nói với người ấy:

"Chị cho tôi xin chút nước uống!"

Quả thế, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn.

Người phụ nữ Samari liền nói: "Ông là người Do Thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông nước uống sao?"

Quả thế, người Do Thái không được giao thiệp với nguòi Samari.

Ðức Giêsu trả lời:

"Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: ‘Cho tôi chút nước uống’, thì hẳn chị đã xin, và người ấy ban cho chị nước hằng sống".

Chị ấy nói:

"Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống? Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, là người đã cho chúng tôi giếng này? Chính Người đã uống giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy".

Ðức Giêsu trả lời:

"Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa.

Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời".

Người phụ nữ nói với Ðức Giêsu:

"Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước".

Người bảo chị ấy:

"Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây".

Người phụ nữ đáp: "Tôi không có chồng".

Ðức Giêsu bảo:

"Chị nói: 'Tôi không có chồng' là phải, vì chị đã năm đời chồng rồi, và hiện người đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng".

Người phụ nữ nói với Người:

"Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ... Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này; còn các ông lại bảo: Giêrusalem mới chính là nơi thờ phượng Thiên Chúa".

Ðức Giêsu phán:

"Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này

hay tại Giêrusalem. Các người thờ Ðấng các người không biết; còn chúng tôi thờ Ðấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do Thái. Nhưng giờ đã đến - và chính lúc này đây

giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật".

Người phụ nữ thưa:

"Tôi biết Ðấng Mêsia, gọi là Ðức Kitô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự".

Ðức Giêsu nói:

"Ðấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây".

Kính thưa quý vị và anh chị em,

Thoạt đầu, khi khựng lại ở mức độ cụ thể của đời thường, người phụ nữ Samari không hiểu gì về những điều Chúa nói, nên Chúa đã đi thêm một bước nữa, Ngài nói với chị về đời tư của chị, khi đó chị nhận ra ngay Ngài là một ngôn sứ. Điều đáng kinh ngạc ở đây là chính cái quá khứ không ra gì của chị đã làm cho chị nhận biết Đức Kitô và trở thành người có khả năng nói về Chúa : "Đến mà xem : Có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Kitô sao ?". Mọi người tin lời chị, họ đến gặp Chúa Giêsu và họ cũng tin Chúa. Như vậy, sau khi gặp Chúa Giêsu, người phụ nữ đã tin và làm chứng cho Chúa giữa những người Samari trong thành, và những người này, sau khi gặp Chúa, đã xin Chúa ở lại với họ, và hân hoan tuyên xưng rằng : "Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian".

Kinh nghiệm của người phụ nữ xứ Samari cho thấy muốn gặp gỡ Chúa là điều rất dễ, bởi vì chính Chúa yêu thương chúng ta, ngày ngày đi tìm và đến gõ cửa tâm hồn mỗi người chúng ta dù cho quá khứ chúng ta chẳng ra gì. Hãy nhớ lời Chúa nói : "Này Ta đang đứng ngoài cửa và gõ, ai nghe tiếng Ta và mở cửa thì Ta sẽ vào nhà kẻ ấy". Như vậy có nghĩa là cuộc gặp gỡ hoàn toàn tùy thuộc nơi chúng ta, tùy thuộc vào thái độ sẵn sàng của chúng ta. Có thể Chúa Giêsu đã tìm đến gõ vào cánh cửa của tâm lòng chúng ta nhiều lần rồi, nhưng chúng ta say ngủ hay bận bịu trăm công ngàn việc hoặc trong tâm lòng chúng ta có quá nhiều tiếng ồn ào và quá nhiều khách khứa nên chúng ta đã không nghe thấy tiếng Ngài và không mở cửa cho Ngài. Nếu thế thì cần phải có những quyết định cụ thể và thay đổi ngay thế nào để khi Chúa đến gõ cửa, chúng ta sẵn sàng mở ngay. Có thể Chúa đang gõ cửa tâm lòng chúng ta ngay trong lúc này, chúng ta đừng bõ lỡ cơ hội.

4. Căn cội của đời sống Kitô là gì?

Trong bài giảng hôm thứ Ba 23 tháng 09, tại nhà nguyện Santa Marta, Đức Thánh Cha đã bàn đến hai yếu tính căn bản của đời sống Kitô. Đó là lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành.

Lời giảng của Chúa Kitô có tác động mạnh đến dân chúng, đó là lý do tại sao rất đông dân chúng đã đi theo để nghe Lời Ngài. Lời của Chúa Kitô có “sức mạnh cứu rỗi”. Dù vậy, đã có những người đi theo Ngài “vì lợi ích cá nhân”, hoặc những mưu toan “không ngay chính trong tâm hồn”, hoặc mong được “một chút lợi nào đó” mà thôi. Điều ấy vẫn lặp lại trong hai ngàn năm qua. Thậm chí ngày nay, vẫn tái hiện trong hình ảnh 9 người phong hủi trong Tin Mừng được Chúa chữa khỏi bệnh đã “quên” mất ơn nghĩa với Chúa.

Tin Mừng (x.Lc 8,19-21) kể: Chúa Giêsu đang giảng dạy dân chúng, những người vây quanh Chúa và được Chúa yêu, đến nỗi Ngài nói “đây là mẹ tôi và đây là anh em của tôi.” Chúa Giêsu giải thích: “đó những người lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành.”

Và đây là hai điều kiện để theo Chúa Giêsu: lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành. Đời sống Kitô không có gì hơn ngoài hai điều đó. Đơn giản vậy thôi! Có thể chúng ta đã làm cho Lời Chúa thêm rắc rối, giải thích dài dòng đến nỗi người ta không hiểu. Nhưng đời sống Kitô hữu là gì: Lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành.

Như đã được kể trong Tin Mừng Thánh Luca, Chúa Giêsu đã trả lời cho người đến nhắn với Ngài là có người thân đến tìm Ngài như sau: “Mẹ tôi và anh em tôi là những người lắng nghe lời Chúa và đem ra thực hành”. Nghe Lời Chúa không phải nghe theo kiểu bình thường: tai này lọt tai kia, nhưng phải chăm chú lắng nghe, suy gẫm, phải nghi nhớ điều này “Lắng nghe Lời Chúa”, nghĩa là “đọc Lời Chúa và tự chất vấn” rằng: “Lời ấy đang nói gì với tôi? Lời ấy tác động trong tâm hồn tôi ra sao? Chính Thiên Chúa đang nói gì với tôi qua Lời của Ngài”. Cuộc sống của chúng ta sẽ thay đổi khi chúng ta tự chất vấn trước Lời của Chúa như thế.

Mỗi khi chúng ta mở sách Tin Mừng đọc một đoạn, chúng ta hãy tự chất vấn mình: “Thiên Chúa đang nói với tôi điều gì? Có phải Ngài đang nói gì đó với tôi không? Và nếu Ngài đang nói điều gì đó, thì đó là điều gì?” Đây là cách chúng ta lắng nghe Lời Chúa: lắng nghe bằng tai và bằng tâm hồn. Hãy mở rộng tâm hồn mình cho Lời Chúa. Những kẻ thù ghét Chúa cũng nghe Lời Chúa nhưng để tìm chỗ sai, để bắt bẻ nhằm hạ nhục Ngài. Họ không bao giờ tự chất vấn mình: “Thiên Chúa đang nói gì với tôi trong Lời này?” Lời của Thiên Chúa không chỉ nói cho tất cả chúng ta nhưng còn cho từng người một trong chúng ta.

Đem ra thực hành những gì đã nghe không phải “dễ dàng”. Thật vậy, chúng ta luôn bị cám dỗ để nghĩ rằng có thể chúng ta sẽ dễ chịu hơn khi không phải lo lắng, bận tâm đến nhu cầu cấp bách của Lời Chúa.

Chúa Giêsu đón nhận tất cả mọi người, thậm chí những kẻ đã nghe Lời Chúa nhưng sau đó phản bội Ngài. Hãy suy nghĩ về Giuđa. Chúa Giêsu đã nói với Giuđa “Bạn ơi” ngay khi ông chuẩn bị phản bội Ngài.

Chúa Giêsu luôn luôn gieo Lời Ngài và đòi hỏi chúng ta cần có một tâm hồn rộng mở để có thể đón nhận, lắng nghe và đem ra thực hành. Vì vậy chúng ta hãy cầu nguyện với Thánh Vịnh 119: 35 rằng: “Lạy Chúa, xin dẫn con đi trong đường lối huấn lệnh của Chúa”. Đường lối Chúa là lắng nghe Lời Ngài và đem ra thực hành.

5. Các thiên thần bảo vệ chúng ta

Các thiên thần giao chiến với Satan vì số phận của nhân loại và đã giành chiến thắng. Các ngài bảo vệ mầu nhiệm cao cả nơi Giáo Hội là Thiên Chúa làm Người. Các ngài luôn bảo vệ chúng ta cho dẫu cho Satan luôn bày mưu chống lại những điều tốt đẹp nơi con người. Đó là những điểm chính trong bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô tại nguyện đường Santa Marta trong Thánh Lễ sáng thứ Hai 29 tháng 09, lễ kính các Tổng lãnh Thiên thần Michael, Gabriel và Raphael.

Bài đọc của ngày hôm nay trình bày cho chúng ta hình ảnh rất ấn tượng: viễn cảnh về vinh quang Thiên Chúa được ngôn sứ Daniel mô tả với hình ảnh Con Người, đó là Chúa Giêsu Kitô.

Tổng lãnh thiên thần Michael và các thiên thần của ngài chiến đấu chống lại “con mãnh xà, là con rắn xưa, kẻ được gọi là ma quỷ” và “chuyên quyến rũ con người”, và nó đã bị đánh bại, như Sách Khải Huyền trình bày.

Trong Tin Mừng Chúa Giêsu nói với Nathanael: “Anh sẽ thấy trời mở ra và các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người”. Đức Thánh Cha nói về “cuộc đấu tranh giữa Thiên Chúa và ma quỷ”.

“Cuộc đấu tranh này diễn ra sau khi Satan tìm cách tiêu diệt người phụ nữ sắp sinh con. Satan vốn luôn tìm cách tiêu diệt con người. Con Người mà ông Daniel đã thấy xuất hiện trong vinh quang, cũng là Đấng mà Chúa Giêsu nói với Nathanael. Khởi đầu Kinh Thánh cho chúng ta biết: Satan là tên quyến rũ con người. Chúng ta cũng đọc trong Thánh Vịnh 8: ‘Chúa cho con người trỗi vượt hơn một số các thiên thần, một sinh vật thấp kém hơn lại trỗi vượt hơn, và vì vậy thiên thần vốn có trí tuệ thông minh siêu vời đã không thể chịu được sự sỉ nhục này, đã trở nên satan tìm cách tiêu diệt con người”.

“Vì vậy, chúng bày ra nhiều âm mưu làm tha hóa con người vì hắn ghét loài người. Satan là tên dối trá. Trang đầu sách Sáng Thế nói với chúng ta như vậy, hắn là tên dối trá. Hắn lừa phỉnh chúng ta làm như thể mọi thứ điều tốt đẹp. Nhưng thật ra âm mưu của chúng là hủy diệt. Và các thiên thần bảo vệ chúng ta. Các ngài bảo vệ con người và bảo vệ Đấng vừa là Con Người vừa là Thiên Chúa, đó chính là Chúa Giêsu Kitô, một Con Người hoàn hảo trong nhân loại. Đây là lý do tại sao Giáo Hội tôn kính các Thiên thần, vì các ngài đang ở trong vinh quang của Thiên Chúa, bảo vệ mầu nhiệm kín ẩn nơi Thiên Chúa, đó là Ngôi Lời nhập thể.”

“Nhiệm vụ của các thiên thần trong vinh quang Thiên Chúa là bảo vệ con người: con người Giêsu vì Ngài đã trao ban sự sống của mình cho tất cả mọi người”. Ngược lại kế hoạch của Satan là hủy diệt, ý định của hắn là chống lại những điều tốt đẹp nơi con người, chống lại nhân loại và chống lại Thiên Chúa”.

“Cuộc giao tranh này là một thực tại luôn diễn ra hàng ngày trong đời sống tín hữu, trong tâm hồn chúng ta, trong cuộc sống của chúng ta, trong gia đình chúng ta và trong giáo xứ chúng ta … Nếu chúng ta không chiến đấu chống lại Satan chúng ta sẽ bị đánh bại. Nhưng Chúa đã ban chúng ta các thiên thần để giúp chúng ta chiến đấu và giành chiến thắng. Và đoạn kết trong sách Khải Huyền là lời ca chiến thắng:

“Thiên Chúa chúng ta thờ

giờ đây ban ơn cứu độ,

giờ đây biểu dương uy lực với vương quyền,

và Ðức Kitô của Người

giờ đây cũng biểu dương quyền bính,

vì kẻ tố cáo anh em của ta,

ngày đêm tố cáo họ trước tòa Thiên Chúa,

nay bị tống ra ngoài.”

Đức Thánh Cha kết luận bài giảng bằng việc mời gọi tín hữu luôn cầu nguyện với các Tổng lãnh Thiên Thần Michael, Gabriel và Raphael. Lời kinh cổ xưa nhưng thật đẹp hay dùng dâng kính Tổng Lãnh Thiên Thần Michael: “Nguyện xin ngài tiếp tục chiến đấu và bảo vệ những bí mật lớn nhất của nhân loại đó là: Ngôi Lời làm Người, chết và sống lại. Đây là kho báu của chúng con. Xin Ngài hãy chiến đấu để bảo vệ nó”.