Top StoriesChọn ngày khác
Pope: Salvation is a humble heart that trusts God
Vatican Radio17/12/2014
(Vatican 2014-12-17) God saves "a repentant heart," while he who does not trust in Him draws "condemnation" upon himself. This message was at the heart of Pope Francis’s homily during morning Mass at the Casa Santa Marta.

Humility saves man in God’s eyes, while pride is a loser. The key lies in the heart. The heart of a humble person is open, it knows repentance, it accepts correction and trusts in God. The heart of the proud person is the exact opposite: it is arrogant, closed, knows no shame, it is impervious to God's voice. The reading from the Book of the prophet Zephaniah and from the Gospel of the day guide Pope Francis in a parallel reflection. Both texts, he notes, speak of a "judgment" upon which salvation and condemnation depend.

HUMILITY, THE ONLY PATH

The situation described by the prophet Zephaniah is that of a rebellious city in which, however, there is a group of people who repent of their sins: this group, the Pope said, is the "people of God" possesses the "three characteristics" of "humility, poverty, and trust in the Lord." But in the city there are also those, Francis says, who "do not accept correction, they do not trust in the Lord." They will be condemned:

"These people cannot receive Salvation. They are closed to Salvation. ‘I will leave within you
the meek and humble; they will trust in the name of the Lord’ throughout their lives. And that is still valid today, isn’t it? When we look at the holy people of God that is humble, that has its riches in its faith in the Lord, in its trust in the Lord - the humble, poor people that trust in the Lord: these are the ones who are saved and this is the way of the Church, isn’t it? This is the path I must follow, not the path in which I do not listen to His voice, do not accept correction and do not trust in the Lord. "

SINCERELY REPENNTANT, NOT HYPOCRITES

The scene of the Gospel tells of the contrast between two sons invited by their father to work in the vineyard. The first refuses, but then repents and goes to work in the vineyard; the second says yes to the father but actually deceives him. Jesus tells this story to the chief priests and the elders of the people stating clearly that it is they who have not wanted to listen to the voice of God through John and that is why the Kingdom of Heaven will be entered, not by them but by tax collectors and prostitutes who did believe John. And the scandal provoked by this statement, Pope Francis said, is identical to that of many Christians who feel "pure" just because they go to Mass and receive communion. But God, he says, needs much more:

"If your heart is not a repentant heart, if you do not listen to the Lord, if you don’t accept correction and you do not trust in Him, your heart is unrepentant. These hypocrites who were scandalized by what Jesus said about the tax collectors and the prostitutes, but then secretly approached them to vent their passion or to do business - but all in secrecy - were pure! The Lord does not want them. "

OFFER YOUR SINS

This judgment "gives us hope" - Pope Francis assured the faithful - provided, he concludes, that we have the courage to open our hearts to God without reserve, giving Him even the "list" of our sins. And in explanation of these words the Pope recalled the story of the Saint who thought he had given everything to the Lord, with extreme generosity:

"He listened to the Lord, he always followed His will, he gave to the Lord, and the Lord said to him: 'there is still one thing you have not given me’. And the poor man who was good said: 'But, Lord, what is it that I have not given you? I have given you my life, I work for the poor, I work for catechesis, I work here, I work there ... ‘ 'But there is something you have not given me yet' .- 'What is it Lord? 'Your sins'. When we will be able to say to the Lord: 'Lord, these are my sins – they are not his or hers, they are mine… They are mine. Take them and I will be saved'- when we will be able to do this we will be that people, ‘that meek and humble people', that trusts in the Lord's name. May the Lord grant us this grace. "
Clergy and Seminarians to gather in Rome for International Colloquium
Vatican Radio17/12/2014
(Vatican 2014-12-17 ) Over one hundred bishops, priests, deacons and seminarians will meet in Rome in January 2015 for the Second International Conference of the English-speaking Confraternities of Catholic Clergy.

The conference brings together clergy from the United States, Australia, the United Kingdom and Ireland. Each of these countries has an active confraternity which assists its members to grow in zeal, learning and holiness.

The 2015 conference takes up Pope Francis' call for the Church to contemplate Jesus Christ, and to go out from itself toward its existential peripheries. It is entitled: 'Quo vadis, Domine? The Church, Priests and Mission in the twenty-first century.'

Conference speakers include Cardinal George Pell who heads the Secretariat for the Economy, Cardinal Angelo Amato who heads the Congregation for the Causes of the Saints, and Archbishop Joseph Di Noia, who is Assistant Secretary of the Congregation for the Doctrine of the Faith.

The conference will join the Holy Father for Mass in St Peter's Basilica on the Feast of the Epiphany.

The US and Australian Confraternities organised their first international clergy conference in 2010, in response to Pope Benedict's declaration of a Year for Priests. That conference proved so successful that it inspired newly-founded Confraternities in Britain and Ireland.

A highlight of the 2015 conference is the opportunity to celebrate the sacred liturgy in Rome's major basilicas, assisted by Dublin's, Lassus Scholars, who excel at choral masterpieces sung in their authentic liturgical setting.

Although booking is now closed, the conference was not restricted to confraternity members. An invitation was extended to all English-speaking clergy; with seminarians enjoying a generous subsidy, which expressed one of the Confraternities' particular concerns: the promotion of priestly vocations.
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Toà Thánh thành công trong việc làm trung gian hoà giải giữa Hoa Kỳ và Cuba.
Trần Mạnh Trác17/12/2014


Trong khi các văn phòng truyền thông cuả Toà Thánh vẫn giữ một thái độ im lặng, thì hầu như tất cả các cơ quan truyền thông trên Thế Giới đã loan tin về việc Toà Thánh âm thầm làm trung gian giữa Hoa Kỳ và Cuba, mở nhiều buổi họp tại Vatican từ 18 tháng qua, và kết quả là sự 'tan băng' giữa hai quốc gia vẫn còn giữ thái độ 'thù địch' từ cuộc 'Chiến Tranh Lạnh'.

Cả hai vị Tồng Thống, Hoa Kỳ và Cuba, đã đồng thời công bố bước đầu tiên cuả biến cố tan băng này, TT Obama công bố vào buổi trưa và TT Cuba Raul Castro gửi một thông điệp tới quốc dân trên hệ thống truyền hình cuả Cuba.

"Chúng ta sẽ kết thúc cách tiếp cận lỗi thời cuả nhiều thập kỷ qua, đã không giúp ích gì cho quyền lợi cuả Hoa Kỳ, và thay vào đó chúng ta sẽ bắt đầu bình thường hóa mối quan hệ giữa hai nước," ông Obama tuyên bố như vậy tại toà Bạch Cung. Thỏa thuận này sẽ "bắt đầu một chương sử mới giữa các quốc gia Mỹ Châu" và vượt qua khỏi một "chính sách cứng nhắc, bắt nguồn từ những biến cố xảy ra trước cả những lúc mà phần lớn chúng ta sinh ra."

Toà Bạch Cung sẽ không hoàn toàn dỡ bỏ mọi cấm vận kinh tế với Cuba - vì cần sự có một đạo luật từ Quốc hội. Nhưng các quan chức cao cấp cho biết Tổng thống sẽ giảm bớt những hạn chế về du lịch tới Cuba. Du khách từ Mỹ sẽ có thể mua những món hàng để sử dụng cho cá nhân, có thể mua rượu và thuốc lá lên tới $ 100.

Sự thay đổi lớn trong quan hệ của Mỹ và Cuba xảy ra sau khi nhà lãnh đạo cuả Cuba thả ông Alan Gross, bị giam cầm 5 năm qua.

Ông Gross là một nhà thầu cuả Cơ quan Phát triển Hoa Kỳ (USAID), bị kết tội vì cung cấp máy điện thoại di động cho người Do Thái ở Cuba và bị kết án 15 năm tù giam vì tội nhập khẩu công nghệ và thiết lập dịch vụ Internet bất hợp pháp cho người Do Thái Cuba.

Thỏa thuận thả ông Gross đạt được sau hơn một năm đàm phán bí mật ở cấp độ cao nhất giữa hai chính phủ.

Kéo dài 18 tháng với Canada làm trung gian nổi và với sự khuyến khích cuả chính cá nhân Đức Giáo Hoàng Phanxicô, cuộc đàm phán cuối cùng đã kết thúc tốt đẹp tại Vatican do Ngài đề xướng và chủ sự. Ngày hôm qua, hai vị TT Obama và Raul Castro đã đồng ý xoá bỏ những bất đồng từ nhiều thập niên trứơc trong một cuộc điện đàm trực tiếp với nhau, lần đầu tiên sau hơn 50 năm, dài 45 phút.

Những quan chức cao cấp giấu tên cuả Mỹ cho biết Đức Giáo Hoàng Phanxicô và Toà Thánh đã đóng một vai trò tối quan trọng. Toà Thánh không chỉ đơn thuần đóng vai chủ hội các cuộc đàm phán mà còn tham gia trực tiếp vào chi tiết bàn thảo. Cuộc họp nhằm mục đích mở lại liên hệ ngoại giao đã được tổ chức tại Vatican vào mùa thu. Vatican đã gửi một bức thư cá nhân cho cả hai Tổng thống Obama và TT Raul Castro. "Chúng tôi chưa hề nhận được một loại liên lạc từ một vị Giáo Hoàng như thế bao giờ," quan chức cao cấp HK nói. "Điều đó đã đem đến cho chúng tôi một động lực lớn hơn và một cái đà mạnh mẽ hơn."

Hoa Kỳ và Cuba đã cắt đứt mọi liên hệ ngoại giao kể từ năm 1961. Mỗi bên phải bảo vệ những "lợi ích" cuả mình qua trung gian các đại sứ quán cuả những nước khác.

Nhưng không phải mọi người đều hoan nghênh quyết định tan băng giữa Hoa Kỳ và Cuba. Người ta đang theo dõi những phản ứng từ Florida nơi mà phần lớn dân tỵ nạn Cuba tập trung.

Thượng nghị sĩ Cộng hòa Marco Rubio của Florida có vẻ như không hoan nghênh sự 'sáp lại gần nhau' giữa Mỹ và Cuba, và có ý sẽ gây khó dễ cho việc mở lại các sứ quán vì những bổ nhiệm ngoại giao thì cần có sự thoả thuận cuả Thượng Viện.

"Những điều này sẽ tuyệt đối không giúp ích gì cho vấn đề nhân quyền và dân chủ tại Cuba cả," TNS Rubio nói. "Nhưng sẽ chỉ nâng đỡ nền kinh tế ở đó rất nhiều, là điều mà chế độ Castro đang cần để củng cố chế độ trở thành vĩnh viễn cho nhiều thế hệ mai sau."
Úc/Pakistan/Yémen: Đức Thánh Cha cầu nguyện cho sự hoán cải của những kẻ bạo tàn
Bùi Hữu Thư17/12/2014
"Những hành động khủng bố vô nhân đạo”

Rome, 17 tháng 12, 2014 (Zenit.org)

Đức Thánh Cha Phanxicô cầu nguyện cho “sự hoán cải của trái tim những kẻ bạo tàn”, sau ngày các trẻ em của một trường học tại Pakistan bị thảm sát, sau ngày có vụ bắt giữ các con tin tại Úc, và hai vụ tấn công tại Yemen.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói: "Tôi muốn cùng các bạn cầu nguyện cho các nạn nhân của những hành động khủng bố vô nhân đạo xẩy ra trong những ngày qua tại Úc, Pakistan và Yemen.”

Đức Thánh Cha nói: "Nguyện xin Thên Chúa tiếp nhận những người quá cố vào nơi an nghỉ của Người, xin an ủi các gia đình, và hoán cải trái tim của những kẻ bạo tàn đã không biết dừng tay lại ngay cả trước những trẻ em.”

Đức Thánh Cha kết luận: "Chúng ta hãy cầu xin Chúa Cha ban cho chúng ta ơn phúc này.”

Một vụ bắt giữ các con tin tại Úc đã chấm dứt với cuộc tấn công của cảnh sát tại Sydney (Úc), và khiến cho hai con tin và chính hung thủ cũng bị chết, vào ngày thứ hai 15 tháng 12.

Một vụ thảm sát đã khiến cho 141 người bị tử thương trong một trường học tại Peshawar (Pakistan), ngày thứ ba, 16 tháng 12.

Ngoài ra có hai mươi sáu người, trong đó có 16 học sinh cũng bị giết hại ngày thứ ba, trong hai vụ tấn công bằng xe hơi gài bom trong thành phố Rada, trong Tỉnh Baïda, tại Yémen.
Một số nhận định về Bản Tường Trình cuộc điều tra các dòng tu nữ Hoa Kỳ
Vũ Van An17/12/2014
Như bạn đọc đã biết, ngày 16 tháng 12 hôm qua, Thánh Bộ Các Dòng Tu đã mở cuộc họp báo để công bố bản tương trình về cuộc thanh tra kéo dài 6 năm nay đối với các dòng tu nữ Hoa Kỳ.

Không thiếu các nhận định tiêu cực đối với Bản Tường Trình. Nữ tu Louise Gallahue, bề trên Dòng Nữ Tử Bác Ái Tỉnh Dòng St Louis, chẳng hạn, cho rằng cuộc thanh tra khởi sự từ năm 2008 là “một diễn trình quá dài và nhàm chán” vì nếu bản tường trình chỉ khuyến khích các cộng đoàn nữ tu suy nghĩ và đối thoại, thì họ đã vẫn làm từ xưa đến nay rồi.

Bà cho rằng vấn đề gai góc nhất liên quan tới Hội Đồng Lãnh Đạo Các Nữ Tu (Leadership Conference of Women Religious), một cơ quan đại diện cho khoảng 80% các nữ tu Hoa Kỳ, vẫn chưa được giải quyết. Một tường trình công bố năm 2012 tố cáo nhóm này cổ vũ các chủ đề duy nữ cấp tiến.

Nữ tu Campbell, người nổi tiếng với sáng kiến “Nữ Tu Trên Xe Buýt” và từng nói chuyện tại Đại Hội Đảng Dân Chủ năm 2012, thì thắc mắc không hiểu “đối thoại” có nghĩa là đối thoại hay đối thoại là phải nghe các “đấng”.

Nhưng phần đông nhấn mạnh tới những điều tích cực của Bản Tường Trình. Nữ Tu Mary Ann Walsh, nguyên phụ trách phòng Báo Chí của HĐGM Hoa Kỳ, cho rằng Bản Phúc Trình đã phát động một thời kỳ hòa giải.

Nữ tu Marie Bernadette Thompson, một phối trí viên của Hội Đồng Các Bề Trên Cả Của Các Hội Dòng Nữ (Conference of Major Superiors of Women Religious), bao gồm khoảng 20% nữ tu Hoa Kỳ, cho rằng bà tìm thấy trong Bản Tường Trình “một tinh thần hợp nhất và hợp đoàn thực sự… Nói chung, bản tường trình này rất ấm lòng và hữu ích đối với các hội dòng”.

Mẹ Agnes Mary Donovan, chủ tịch của CMSWR, cho rằng Bản Tường Trình này cho thấy các điều các nữ tu muốn nói đã thấu tai Đức Thánh Cha.

Nhiều nữ tu đồng ý với gợi ý cho rằng phải làm sao để người đời nhận ra các nữ tu là những người tận hiến qua y phục bề ngoài. Nữ Tu Thompson cho rằng: phần lớn đức tin Công Giáo được phát biểu ra ngoài qua nghệ thuật thánh, qua các dấu hiệu thánh trong phụng vụ, và y phục là một trong các dấu hiệu dễ nhận này, chứng tỏ các nữ tu là người đã được để riêng ra thánh hiến cho Chúa.

Tuy nhiên, Nữ Tu Campbell cảm thấy được khích lệ khi Bản Tường Trình thừa nhận rằng vì thừa tác vụ của mình, một số nữ tu đã phải tổ chức cộng đoàn của mình “một cách không chính thống” như các nữ tu có thể sống một mình ở bên ngoài cộng đoàn chẳng hạn.

Điều đáng chú ý là giọng điệu của Bản Tường trình đã đánh tan bầu khí căng thẳng trước đây giữa một số các dòng nữ của Hoa Kỳ và Tòa Thánh. Trong cuộc họp báo của Thánh Bộ các Dòng Tu, Nữ Tu Sharon Holland, người đứng đầu LCWR, thừa nhận rằng thoạt đầu, cuộc thanh tra của Tòa Thánh bị nhiều người nghi ngại và ngờ vực, nhất là các nữ tu có tuổi vì “cảm thấy rằng trọn cuộc đời của họ đã bị cho là thiếu sót”. Nay kết quả cho thấy Tòa Thánh đã lắng nghe các nữ tu.

Bà bảo: “trong bản tường trình này, giọng điệu rất khích lệ và thực tiễn. Các thách thức thì ai cũng hiểu, nhưng đây không còn là một văn kiện đổ lỗi hay bao gồm các giải pháp ngây ngô nữa. Đọc bản văn, ai nấy cảm thấy được đánh giá cao và được tin tưởng”.

Hầu hết các nữ tu cho rằng có được điều trên hiển nhiên là nhờ Đức Phanxicô. Nữ Tu Holland nói rằng “Tôi hoàn toàn dành cho ngài tất cả những công lao này. Tôi không biết phải lượng giá ra sao tất cả những ảnh hưởng của ngài trong việc này, nhưng ngài quả là một khích lệ và hy vọng lớn lao cho chúng tôi”.

Nữ tu Campbell cũng đồng ý như vậy. Bà bảo: “khi có sự thay đổi lãnh đạo, là có sự khác biệt sâu xa”.

Nữ tu Gallahue thì tin rằng việc làm của các nữ tu Hoa Kỳ đối với người nghèo đã làm Đức Phanxicô xúc động và cuối cùng, ngài đã giúp lên khuôn Bản Tường Trình, khiến nó có giọng điệu hòa dịu.

John Allen thì cho rằng Bản Tường Trình này là cành ôliu đối với các nữ tu Hoa Kỳ. Thực vậy, cuộc điều tra chưa từng có và từng gây nhiều tranh cãi mọi cộng đoàn nữ tu tại nước này đã bắt đầu với lời chỉ trích cho rằng các nữ tu này có “não trạng thế tục”, nhưng đã kết thúc với một Bản Tường Trình đầy khen ngợi, không đưa ra bất cứ biện pháp kỷ luật hay cơ chế kiểm soát mới nào.

Bản Tường Trình viết rằng: “Ngay từ những ngày đầu của GHCG [tại Hoa Kỳ], các nữ tu đã can đảm đứng ở tuyến đầu… chăm sóc đầy vị tha các nhu cầu thiêng liêng, tinh thần, giáo dục, thể lý và xã hội của không biết bao nhiêu người”.

Cách riêng, Bản Tường Trình nói rằng các nữ tu Hoa Kỳ đặc biệt có khả năng “cùng với Đức Phanxicô nhấn mạnh rằng ‘không ai trong chúng ta được nghĩ rằng mình được miễn chuẩn khỏi quan tâm tới người nghèo và công bình xã hội’”.

Tài liệu này biểu lộ “lòng biết ơn sâu xa của Tòa Thánh và của GH tại Hoa Kỳ đối với việc phục vụ tận tụy và vị tha của các nữ tu trong mọi phạm vi chủ yếu của đời sống GH và xã hội”.

Tưởng cũng nên nhắc lại: năm 2009, Thánh Bộ Dòng Tu cho biết lý do đứng đàng sau cuộc điều tra các dòng nữ Hoa Kỳ: “một não trạng duy tục đã và đang lan rộng trong các gia đình nữ tu này, thậm chí còn là tinh thần ‘duy nữ’ nữa”. Chính ngôn ngữ này đã khiến có những động thái cứng rắn từ Rôma nhằm đưa các nữ tu này trở lại hàng ngũ.

Nhưng kết cục, cuộc điều tra đã trở thành điều mà một quan sát viên Vatican coi gần như một cuộc tỏ tình (love fest). Tài liệu dài 5,200 chữ này đã chấm dứt cuộc điều tra bắt đầu từ năm 2008.

Điều đáng lưu ý là những hạn từ như “khủng hoảng”, “bất đồng”, “tín lý”, và “phẩm trật” không xuất hiện trong tài liệu này. Tuy nhiên hạn từ “vâng lời” thì có, nhưng là vâng lời Chúa Giêsu Kitô, chứ không hẳn vâng lời cơ cấu quyền lực của Giáo Hội.

Hạn từ đối thoại đã được nhấn mạnh. Bản Tường Trình viết: “Chúng tôi dùng cơ hội này mời gọi mọi viện tu trì chấp nhận ý muốn của chúng tôi sẵn sàng dấn thân vào cuộc đối thoại tôn trọng và có hiệu quả với họ”.

Khởi đầu cuộc điều tra, một số cộng đoàn nữ tu Hoa Kỳ tuyên bố sẽ không hợp tác. Một số cộng đoàn còn đe doa sẽ qua mặt giáo luật (non-canonical) để tổ chức theo dân luật. Tuy nhiên, đầu năm 2011, có sự thay đổi lãnh đạo ở Thánh Bộ Dòng Tu với Đức HY João Bráz de Aviz, người Ba Tây và Đức TGM Joseph Tobin của Hoa Kỳ điều khiển; cả hai vị tỏ ý muốn hoà giải với các nữ tu (Đức Cha Tobin, sau đó, được cử làm TGM Indianapolis). Nhờ thế một phần mà có kết quả như ngày nay.
Tin Giáo Hội Việt Nam
Lễ tái thánh hiến nhà thờ Đức Mẹ La Vang, Miami.
Lm. Giuse Nguyễn Kim Long17/12/2014
Lễ thánh hiến nhà thờ Đức Mẹ La Vang, Miami.

Trong dòng đời nhộn nhịp và hối hả của những ngày cuối Năm Duơng lịch và Lễ Giáng sinh đã gần kề, người ta vất vả lo kiếm tiền và đi mua quà cho những người thân trong gia đình. Hoà chung niềm vui đó, giáo dân Giáo xứ Đức Mẹ La Vang, Tgp Miami, hân hoan mừng ngày Lễ Thánh Hiến Lại Nhà thờ sau những tháng ngày vất vả sửa chữa vào CN 14-12 lúc 5:30pm

Xem Hình

Tưởng cũng nên nhắc lại là vào thập niên 80, một số gia đình Công Giáo Việt Nam định cư tại miền Nam Florida đã được cha Pedro, trước đây đã từng dạy tại Giáo hoàng chủng viện Đàlạt, và sau này là Giám mục của địa phận Browsvill, Texas, qui tụ lại và chính thức thành lập Cộng đoàn Công Giáo Việt Nam. Sau đó cha Trần công Vang, Dòng Chúa Cứu Thế, đến hướng dẫn. Rồi cha Isidore Nguyễn bá Kỳ tiếp nối cha Vang trong trách nhiệm Quản nhiệm cho đến khi Cộng đoàn Đức Mẹ La Vang sát nhập vào giáo xứ Thánh Helen ở Ft. Lauderdale. Cha Kỳ nghỉ hưu sau hơn 22 năm ở với cộng đoàn và cha Giuse Nguyễn kim Long từ California đến thay thế.

Cộng đoàn đã có ước mơ gây quĩ mua nhà thờ riêng trong quá khứ nhưng vì hoàn cảnh nên giấc mộng chưa thành. Sau hơn 2 năm đồng hành với cộng đoàn và nhận thấy đã đến lúc cần phải làm sống lại ước vọng này, cha Quản nhiệm và một số đại diện đã viết thư và xin gặp Đức TGM vào ngày 7-11-2013 để trình bày nguyện vọng. Đức TGM, một người cha nhân từ, đã lắng nghe, tìm hiểu và chấp nhận trên nguyên tắc. Tuy nhiên, thời gian dần trôi qua và có lúc giấc mộng tuởng chừng như đã thành mây khói. Cha QN mời gọi anh chị em giáo dân đọc Kinh MC nối kết và cầu nguyện liên tục cho công việc quan trọng này. Thật vậy, lời cầu nguyện chân thành đã được Đức Mẹ La Vang chuyển cầu và Thiên Chúa đã nhậm lời.

Vào cuối tháng 2-2014, Toà GM đã báo cho cha QN là Đức TGM muốn bán cho Cộng doàn VN một nhà thờ Công Giáo tên Thánh Charles Borromeo đã bị đóng cửa và đang cho nhóm Tin lành thuê với giá 2 triệu. Sau khi đến xem, cha QN và các vị đại diện đã đồng ý mua vì khu đất rất đẹp rộng gần 4 mẫu với nhà thờ, nhà xứ và hội trường. Khu đất này trên thị trường là 5 triệu.

Sau khi nhận chìa khoá nhà thờ, cha Quản xứ và anh chị em giáo dân đã bắt tay vào sửa chữa và chuẩn bị cho ngày Thánh Hiến lại vào Chúa Nhật 14-12-2014.

Ngày Chúa Nhật 14-12 đã đến khi mọi người từ khắp nơi qui tụ về ngôi nhà thờ thân yêu này. Khoảng trên 1,000 người người ngồi chật kín trong nhà thờ và bên ngoài. Có cả những vị khách từ California, Texas và những nơi khác đến tham dự. Điều đặc biệt hơn nữa mà ít khi xảy ra là trong Thánh Lễ có sự hiện diện của cả hai vị chủ chăn Tổng giáo phận: Đức TGM Thomas Wenski, Đức Cha phụ tá Phêrô Baldacchino, 1 Đức ông và 11 Linh mục đồng tế, cả Việt Nam và Mỹ.

Thánh Lễ bắt đầu với đoàn rước từ nhà xứ và có kiệu Đức Mẹ La Vang đi cùng do quí vị TTV/TT khiêng và các bà Mẹ CG tháp tùng. Đến cửa nhà thờ, Đức TGM và cha QX cắt băng khánh thành trong tiếng vỗ tay của Cộng đoàn. Trong bài giảng, Đức TGM đặc biệt nói về niềm vui khi có nhà thờ mới, sự hy sinh không chỉ dừng lại ở việc sửa chữa, nhưng còn là hy sinh sống đạo, làm chứng cho Thiên Chúa. Ngài cũng kể ra tấm gương hy sinh của Đức cố HY Thuận, trong nhà tù đã dâng lễ với chén thánh là bàn tay và giọt rượu do bà cố gởi vào trong lọ thuốc.

Sau bài giảng là nghi thức thánh hiến bàn thờ mới, xức dầu bàn thờ và các tường nhà thờ. Thánh Lễ diễn ra thật sốt sắng và long trọng lồng trong tiếng hát điêu luyện của anh chị em ca viên liên Ca đoàn: Terêsa, Đức Mẹ MC và Thiên Thần (ca đoàn Thiếu nhi). Thánh Lễ kết thúc vào lúc 7:00pm và mọi người được mời ra Hội trường mới ăn tối và thưởng thức chương trình văn nghệ ngắn gọn.

Cảm tạ Chúa, qua lời chuyển cầu của Mẹ La Vang và Thánh cả Giuse, đã ban cho Giáo xứ chúng con một ngày tràn đầy niềm vui. Xin giúp chúng con, khi đã có ngôi nhà thờ vật chật, một "Ước mơ đã thành sự thật" thì cũng biết cùng nhau xây dựng ngôi nhà thờ thiêng liêng qua sự hiệp nhất, yêu thương và giúp đỡ người nghèo. Xin cho chúng con luôn biết dâng lời cảm tạ Chúa vì "Tất cả là hồng ân".
Phụng Vụ - Mục Vụ
Maria nói lời xin vâng
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT17/12/2014
Chúa Nhật IV MÙA VỌNG, năm B
Lc 1,26-38

MARIA NÓI LỜI XIN VÂNG

Chúa Nhật thứ IV Mùa Vọng là Chúa Nhật cuối cùng dọn mừng đón Chúa giáng sinh. Thực tế mà nói, Chúa Nhật này phải gọi là Chúa Nhật của Đức Mẹ. Bởi vì, năm nào cũng vậy, Giáo Hội luôn dành riêng Chúa Nhật thứ IV Mùa Vọng để nói đến vai trò hết sức quan trọng của Đức Mẹ. Nếu không có Đức Mẹ, không có lời xin vâng của Mẹ theo ý nhiệm mầu của Thiên Chúa. Chắc chắn, lịch sử cứu độ đã bước vào một khúc ngoặt khác.Hôm nay, gần đến lễ Giáng Sinh, Giáo Hội khẩn khoản kêu mời nhân loại, con người hướng về mầu nhiệm yêu thương của Thiên Chúa. Mầu nhiệm đã được các ngôn sứ loan báo từ bao ngàn năm và cuối cùng được thực hiện nơi chính cung lòng trinh khiết của Đức trinh nữ Maria, một người nữ tử Sion, một cô thiếu nữ hiền lành, đạo đức và hết mực thánh thiện :” Trinh nữ Maria đã cưu mang Con Thiên Chúa bởi phép Chúa Thánh Thần “ và Mầu nhiệm cứu độ đã đến trần gian nơi Hài Đồng Giêsu…

Ở đây dựa theo Giáo lý Công Giáo chúng ta phác họa vài nét cơ bản về Mẹ Maria để qua đó chúng ta hiểu Mẹ là ai ? Đức Maria là Mẹ Đấng Cứu Thế, người đã sinh ra Chúa Giêsu. Đức Mẹ Maria thuộc dòng dõi vua Đavít, thân sinh người là ông thánh Gioankim và thân mẫu người là bà thánh Anna. Theo như truyền thống kể lại thì hai ông bà đã già chỉ có Maria là người con duy nhất. Maria sinh ra và lớn lên tại làng Nagiarét, trong xứ Galilêa ở mạn Bắc nước Palestina. Khi Maria đến tuổi thành hôn thì kết hôn với một người tên là Giuse cũng thuộc chi họ vua Đavít, làm nghề thợ mộc ở Nagiarét. Chính trong thời kỳ Maria đính hôn với Giuse, trước khi về chung sống với nhau, thì thiên thần Gabriel đã được Thiên Chúa sai đến truyền tin cho Maria cho cô biết là cô sẽ thụ thai và sinh ra Đấng Cứu Thế. Và tuy đã đính hôn nhưng Maria đã khấn giữ mình đồng trinh, nên thưa lại cùng vị Thiên sứ rằng : “ Việc đó làm sao thực hiện được vì tôi không biết đến người nam ?“. Nhưng Thiên sứ đã giải thích cho Maria biết là cô đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần chứ không theo thói thường nhân loại, nên sinh con mà cô vẫn còn đồng trinh. Lúc ấy Maria mới thưa lại cùng Thiên sứ :” Này tôi là nữ tỳ Chúa, xin vâng như lời Thiên Thần truyền”.Chính lúc ấy Ngôi Hai đã xuống đầu thai trong lòng trinh nữ Maria.

Mẹ Maria hoàn toàn được đắc sủng với Thiên Chúa . Vì được tuyển chọn, Mẹ Maria đã được những ơn huệ cao quí mà bất cứ người nào trên trần gian này cũng không có được. Bởi vì là người được Thiên Chúa cất nhắc làm Mẹ Đấng Cứu Thế, nên ngay khi Mẹ Maria được cưu mang trong cung lòng bà Thánh Anna, Thiên Chúa đã gìn giữ Mẹ khỏi mọi tì ố, bợn nhơ của tội lỗi. Đây là mầu nhiệm: "Thiên Chúa ban cho Mẹ ơn vô nhiễm nguyên tội “. Chính vì thế, Thiên Chúa luôn gìn giữ sự thánh thiêng của Mẹ, gìn giữ Mẹ không vương bất cứ một chút bợn nhơ của tội lỗi trong suốt cuộc đời của Mẹ. Trong những tháng cưu mang Chúa Giêsu, Thiên Chúa luôn tuôn đổ hồng ân đặc biệt xuống trên Mẹ để Mẹ nhận ra rằng Chúa Giêsu đang sống trong Mẹ. Mầu nhiệm này thật lạ lùng đến nỗi thánh sử Luca đã nhận xét về Mẹ Maria sau cuộc phục sinh của Chúa Giêsu rằng : "Mẹ Maria đã ghi nhớ tất cả ,và suy đi nghĩ lại trong lòng “ ( Lc 2, 19).

Có thể nói đây là biến cố hết sức kỳ diệu Chúa đã làm cho Mẹ Maria và qua Mẹ Maria, Chúa cũng làm cho nhân loại qua chương trình cứu độ của Ngài. Thiên Chúa đã ban cho Mẹ những đặc ân cao quí nhất, Mẹ đã đem Chúa Giêsu cho nhân loại và nhân loại đã lãnh nhận ơn cứu rỗi nơi Chúa Giêsu. Đó là mầu nhiệm tuyệt vời Thiên Chúa đã trao ban cho Mẹ Maria và trao ban cho con người, cho thế giới, cho loài người. Sự cưu mang Chúa Giêsu và sinh ra Chúa Giêsu bởi cung lòng Đức Trinh Nữ Maria là một ân sủng lạ lùng Thiên Chúa đã làm cho nhân loại, cho thế giới, cho từng người chúng ta.

Mẹ Maria không chỉ nói lời xin vâng một lần với Thiên Chúa, nhưng lời xin vâng của Mẹ là lời xin vâng bao trùm trọn cả kiếp người của Mẹ. Mẹ đã nói lời xin vâng làm theo ý Thiên Chúa ngày truyền tin, nhưng lời xin vâng của Mẹ đã đi theo suốt đời của Mẹ và điều vô cùng ý nghĩa và là của lễ sống động nhất, đó là Mẹ đã chấp nhận đứng dưới chân Thập Giá để dâng Con của Mẹ cho Đức Chúa Cha.

Cuộc đời của người môn đệ Chúa, của tất cả chúng ta sẽ vô cùng ý nghĩa nếu biết sống trọn theo ý Chúa bằng việc giữ Đạo và sống Đạo. Chúng ta sống phải như thánh Phaolô : “ Tôi coi mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô “ hoặc “ Tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi “.

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ tăng thêm đức tin cho chúng con để chúng con luôn biết nói lời xin vâng như Mẹ trong suốt cuộc lữ hành trần thế của chúng con. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1.Chúa Nhật thứ tư Mùa Vọng thường dành để nói về ai ?
2.Trước lời đề nghị của Thiên Thần Gabriel, Mẹ Maria đã có thái độ nào ?
3.Lời xin vâng của Mẹ có liên quan gì tới chúng ta ?
4.Giáng Sinh ngày nay đã trở thành ngày lễ Quốc tế phải không ?
Văn Hóa
Thi ca suy niệm Tuần 4 Mùa Vọng
Lm. Giuse Trần Việt Hùng17/12/2014
Chúa Nhật 4 MÙA VỌNG. B (Luca 1, 26-38)

XIN VÂNG


Cao siêu huyền nhiệm Nước Trời,
Ngàn năm dọn lối, Ngôi Lời hạ thân.
Ga-briel loan báo nhân trần,
Kính chào Trinh Nữ, tinh vân rạng ngời.
Thánh Thần Thiên Chúa cao vời,
Quyền năng phủ bóng, gọi mời hiến dâng.
Ma-ry phủ phục xin vâng,
Phận hèn tôi tớ, hồn nâng phụng thờ.
Khiêm nhu cung kính vô bờ,
Thành tâm dâng hiến, nương nhờ thánh ân.
Giê-su thánh tử chí nhân,
Thụ thai lòng mẹ, xác thân mọn hèn.
Cung lòng trinh khiết ngợi khen,
Con Vua Chí Ái, muối men giữa đời.
Dọn đường đón Chúa xuống đời,
Cải tâm tu thiện, nghe lời Phúc Âm.

Mầu Nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể là mầu nhiệm Tình Yêu. Tình yêu giao kết giữa Thiên Chúa và loài người. Khi thời gian đã mãn, thiên thần của Chúa được sai đến báo tin mừng về Đấng Cứu Thế. Thiên thần thân hành đến nhà Maria và chào rằng: Kính chào trinh nữ đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng trinh nữ. Trinh nữ có phúc hơn mọi người nữ. Hạnh phúc và cao qúy thay người phụ nữ được Thiên Chúa ghé mắt đoái nhìn.

Thoạt đầu, Maria rất sửng sốt khi nghe lời thiên thần chào bái và truyền tin. Maria vừa ngỡ ngàng vừa bối rối nhưng rất mau mắn thưa lời xin vâng. Lời xin vâng của Maria là một ân huệ cho loài người. Lời xin vâng khởi đầu một khúc quanh lịch sử của ơn cứu độ. Những lời loan báo cả ngàn năm về trước nay đã thành hiện thực. Một dân tộc được tuyển chọn, nay đã mở lòng đón nhận Đấng Cứu Thế. Chương trình cứu độ đã thực sự khởi đầu nơi cung lòng Đức trinh nữ Maria.

Trinh Nữ Maria đã cưu mang Con Thiên Chúa, Đấng là trung gian cả vạn vật. Ơn nghĩa của Thiên Chúa ở cùng Maria. Maria thật diễm phúc đã thốt lên rằng: ‘Này tôi là tôi tớ Chúa’. Được chọn làm mẹ của Con Thiên Chúa nhưng mẹ luôn nhận thân phận là tôi tớ. Maria đã sống những ngày tràn đầy ơn sủng.

Maria không quản ngại đường xá xa xôi vất vả và không ngại sự nghi kỵ của người thân. Maria đã sớm mang Chúa đến cho moi người trên đường đi thăm viếng và phục vụ. Maria lên đường trong niềm vui hoan lạc. Vì Maria có Chúa ở cùng. Từ lời Xin Vâng cao cả ấy, niềm vui và thánh giá của ơn cứu độ đã từng bước đi vào cuộc đời của Maria.

Đức Maria đã khiêm nhường chấp nhận thánh ý của Chúa. Mẹ sống niềm vui ơn cứu độ trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời. Maria đã trở nên nguồn ủi an và cậy trông cho những ai cần niềm hy vọng. Trong khi mong chờ Chúa đến, mỗi người hãy phó thác cuộc đời trong sự quan phòng của Chúa. Có Chúa chúng ta sẽ tìm thấy nguồn an vui và sự bình an trong cuộc đời.

Lạy Chúa, ngày mừng lễ Chúa Giáng Sinh sắp tới, xin cho chúng con biết dọn tâm hồn thanh sạch và ấm êm để xứng đáng đón Chúa viếng thăm. Xin tình yêu của Chúa sưởi ấm tâm hồn chúng con.

NGÀY 22 THÁNG 12 (1Sam 24-28; Lc 1, 46-56)
NGỢI KHEN

Linh hồn hoan hỉ ngập tràn,
Đoái thương tớ nữ, ơn ban cao vời.
Muôn đời phúc lộc rạng ngời,
Tình thương trọng đại, tuyệt vời huyền siêu.
Khiêm nhu đón nhận thiên triều,
Ngợi khen danh Chúa, ban nhiều ân thiêng.
Linh hồn thực tại thiêng liêng,
Tâm thần ngây ngất, hướng thiên ngút ngàn.
Kiêu căng lật đổ ngai vàng,
Đại gia giầu có, bẽ bàng trắng tay.
Chúa thương dòng dõi thẳng ngay,
Trao ban chúc phúc, dân này cưu mang.
Ngợi khen chúc tụng hát vang,
Tình yêu tuyệt đối, cao sang vô ngần.
Ma-ry khiêm tốn tinh thần,
Tâm tình gói trọn, vạn lần xin vâng.

NGÀY 23 THÁNG 12 (Mal 3, 1-4. 4, 5-6; Lc 1, 57-66)
GIOAN

Chúc mừng quí tử hạ sinh,
Gio-an tên gọi, thiên linh sáng ngời.
Mẹ cha nhận lãnh ơn trời,
Tuổi già ơn lạ, vui đời ấm êm.
Gia-ca thao thức từng đêm,
Mở lòng mở miệng, ngày đêm mong chờ.
Ngợi khen Chúa Cả vô bờ,
Ân ban cao trọng, tôn thờ kính yêu.
Tiền hô Con Chúa cao siêu,
Đọn đường chỉnh lối, như thiêu đốt lòng.
Bà con hàng xóm trông mong,
Trẻ này hy vọng, vô song tuyệt vời.
Ơn trên bao phủ cuộc đời.
Chứng nhân sự thật, gọi mời đổi thay.
Thành tâm sám hối mỗi ngày,
Dọn lòng sạch sẽ, đón ngày Giáng Sinh.

NGÀY 24 THÁNG 12 (2Sam 7, 15. 8b-11.16; Lc 1, 67-69)
CHÚC TỤNG

Thời gian viên mãn chờ mong,
Chương trình cứu độ, trong vòng thời gian.
Trải qua bao nỗi gian nan,
Con dân Chúa chọn, ơn ban bởi trời.
Ngàn năm mong đợi Con Trời,
Giáng sinh xuống thế, làm người cứu dân.
Cha ông tổ phụ thần dân,
Đón chờ Con Chúa, giáng trần hạ sinh.
Giê-su là Đấng cứu tinh,
Dìu đưa nhân loại, khỏi hình tội vong.
Gia-ca chúc tụng hết lòng,
Thánh Thần linh hứng, tình trong lẽ ngoài.
Vì yêu Thiên Chúa đoái hoài,
Cứu dân thoát khổ, nguôi ngoai cực hình.
Tự do thoát chốn tội tình,
Hồng ân tuôn đổ, an bình nội tâm.

NGÀY 25 THÁNG 12 (Is 62, 11-12; Tit 3, 1-7; Lc 2, 15-20)
GIÁNG SINH

Bê-lem nhỏ bé một làng,
Đêm đen phủ bóng, muộn màng lạnh se.
Mục đồng ẩn núp sau hè,
Chăn đoàn súc vật, lắng nghe lạ thường.
Ngước nhìn tinh tú bốn phương,
Xa xa vẳng tiếng, tỏa hương ngạt ngào.
Thiên thần cất tiếng cao rao,
Vinh danh Thiên Chúa, vọng cao khắp trời.
Bình an dưới thế cho người.
Thành tâm tín thác, rạng ngời tin yêu.
Kính tin mầu nhiệm huyền siêu,
Cùng nhau tôn kính, thiên triều giáng ân.
Hang lừa máng cỏ bình dân,
Ma-ry chiêm ngắm, triều thần tụng ca.
Hài Nhi bé nhỏ ngọc ngà,
Giu-se chính trực, nghĩa cha tròn đầy.

NGÀY 26 THÁNG 12 (Act 6, 3-10. 7, 54-59, Mt 10, 17-22)
THÁNH TÊPHANÔ

Ste-ven thầy Sáu đầu tiên,
Tràn đầy ân sủng, cõi thiên tìm về.
Chứng nhân kỳ diệu mọi bề,
Thực hành sứ vụ, chẳng nề gian nan.
Thù hành chống đối không than,
Nêu gương can đảm, ngập tràn yêu thương.
Khôn ngoan ân phúc mở đường,
Kiên tâm chịu đựng, bên phường bội nhân.
Hằn thù chối bỏ cận thân,
Hùa nhau ném đá, chết dần đớn đau.
Ste-ven tử đạo thật mau,
Sao-lê chứng kiến, cùng nhau vào hùa.
Sống đời hai chữ ăn thua,
Nước Trời chiếm lấy, giá mua ngàn vàng.
Hy sinh chịu chết cao sang,
Triều thiên vinh hiển, an khang cõi trời.

NGÀY 27 THÁNG 12 (1Ga 1, 1-4;Ga 20, 2-8)
THÁNH GIOAN

Gio-an môn đệ Chúa yêu,
Đồng hành sát cánh, cao siêu bên Thầy.
Biến hình đỉnh núi ngất ngây,
Dưới chân thánh giá, đong đầy tin yêu.
Trao ban Mẹ Chúa bóng chiều,
Chăm nom phụng dưỡng, thiên triều thánh ân.
Gio-an gia lão gian trần,
Chu toàn sứ vụ, tinh thần yêu thương.
Tình yêu rao giảng đêm trường,
Yêu người yêu Chúa, con đường hiến thân.
Ra làm nhân chứng canh tân,
Xây nền đạo thánh, vọng ngân cõi đời.
Phúc âm loan báo rạng ngời.
Truyền rao chân lý, ngàn đời khắc ghi.
Lắng nghe lời dậy từ bi,
Thi hành sứ mệnh, thực thi giới điều.
Tài Liệu - Sưu Khảo
Giải đáp phụng vụ: Có thể thay chuông bằng nhạc cụ khác trong mùa Vọng không?
Nguyễn Trọng Đa17/12/2014
Giải đáp phụng vụ: Có thể thay chuông bằng nhạc cụ khác trong mùa Vọng không?

Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.

Hỏi: Thưa cha, con muốn tìm xem trong việc cử hành Thánh lễ, nhất là trong mùa Vọng, liệu việc rung chuông có bị cấm khi truyền phép, như được làm trong suốt mùa Thường Niên không. Con nhận thấy rằng trong mùa Vọng, chuông không được sử dụng. Nhưng đồng thời, các thanh gổ tròn dài được đánh vào nhau để thay thế tiếng chuông khi truyền phép. Liệu sự thay thế này là được phép không? Nếu có, tại sao không tiếp tục dùng chuông, vì các thanh gỗ này cũng gây "tiếng ồn" không kém tiếng chuông bình thường. Có điều khoản Giáo luật nào nói về việc thay thế này không? Con cũng biết là không được sử dụng các nhạc cụ trong Mùa này. Liệu đây có phải là sự thực hành trong cả Giáo Hội phổ quát không? - E. C., Kabwe, Zambia


Đáp: Về việc sử dụng đại quản cầm và các nhạc cụ khác trong Mùa Vọng, chúng tôi xin nhắc lại một phần chúng tôi đã viết trong một câu trả lời cách đây 10 năm:

"Có nhiều tài liệu liên quan đến chủ đề này. Huấn thị về âm nhạc trong phụng vụ thánh “Musicam Sacram” (ngày 5-3-1967 của Thánh Bộ Nghi lễ) giải quyết vấn đề về đại quản cầm và các nhạc cụ khác trong các số 62-67. Xin trích dẫn:

"62. Các nhạc khí có thể rất hữu ích trong các buổi cử hành lễ nghi phụng vụ, hoặc đệm theo tiếng hát, hoặc chơi riêng một mình.

Trong Hội Thánh la-tinh, đại quản cầm có ống rất được quý chuộng và được coi như nhạc khí cổ truyền mà âm thanh có thể tăng thêm vẻ huy hoàng kỳ diệu cho những nghi lễ của Hội Thánh, và có sức mãnh liệt nâng các tâm hồn lên cùng Thiên Chúa và lên trời.

Còn những nhạc khí khác, thì tùy theo sự xét đoán và chấp thuận của thẩm quyền địa phương, có thể được dùng trong việc thờ phượng, tùy như chúng thích hợp hay có thể thích hợp được để dùng vào việc thánh với công dụng thiêng thánh, hay hợp với vẻ trang trọng của đền thờ, và thực sự giúp cho các tín hữu sốt sắng hơn. (41)

“63. Muốn thừa nhận và sử dụng các nhạc khí, phải để ý đến nét đặc sắc và tập quán của mỗi dân tộc. Những nhạc khí nào, mà theo ý kiến chung, và cách sử dụng thông thường, chỉ hợp với nhạc đời, thì phải loại trừ ra khỏi lễ nghi phụng vụ và các việc đạo đức thánh thiện.

“Mọi nhạc khí được thừa nhận trong việc thờ phượng phải sử dụng thế nào cho hợp với các đòi hỏi của lễ nghi phụng vụ, và làm cho việc thờ phượng nên tốt đẹp cũng như giúp các tín hữu thêm lòng đạo đức.

“64. Nên dùng nhạc khí để đệm theo tiéng hát hầu giữ cho giọng khỏi xuống, và giúp cho cộng đoàn tham dự dễ dàng hơn, cũng như hợp nhất với nhau mật thiết hơn. Nhưng âm thanh của các nhạc khí không bao giờ được lấn tiếng hát, và làm cho bản văn trở nên khó hiểu. Mọi nhạc khí đều phải im tiếng khi linh mục hay thừa tác viên đọc cao giọng một bản văn được dành riêng cho các vị ấy.

“65. Trong các lễ hát hoặc lễ đọc, có thể dùng đại quản cầm hoặc một nhạc khí nào khác đã được chính thức thừa nhận để đệm theo tiếng hát của ca đoàn và giáo dân. Có thể độc tấu nhạc trước khi linh mục tới bàn thờ, lúc dâng lễ vật, trong khi rước lễ và lúc cuối lễ. Có thể áp dụng cùng một quy tắc đó, thích nghi cho hợp trong các buổi cử hành thiêng thánh khác.

“66. Không được phép độc tấu các nhạc khí đó trong Mùa Vọng và Mùa Chay, trong Tuần Tam Nhật Vượt qua, và trong giờ Kinh Lễ cầu hồn.

“67. Mong sao các nhạc công đại quản cầm và các nhạc khí khác, chẳng những sử dụng thành thạo nhạc khí, mà còn hiểu biết sâu sắc tinh thần phụng vụ, để khi thi hành nhiệm vụ, dù chơi theo ngẫu hứng, họ vẫn làm cho buổi cử hành thêm phong phú theo bản tính thực của mỗi yếu tố và làm cho tín hữu say sưa tham dự” (Bản dịch Việt ngữ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam).

Do đó, theo tài liệu này, không được phép độc tấu đại quản cầm trong Mùa Vọng.

Tuy nhiên, trong khi các tiêu chí trên vẫn còn hiệu lực, dường như có một sự nới rộng nhỏ để cho phép độc tấu đại quản cầm trong Mùa Vọng, trong Qui chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma năm 2001, vốn trích dẫn các qui chế được đưa ra trong Sách Lễ nghi Giám Mục năm 1984.

Số 313 nói: “Trong Mùa Vọng được phép đánh phong cầm và các nhạc cụ khác cách vừa phải, phù hợp với đặc tính của mùa này, nhưng đừng đi trước niềm vui trọn vẹn của lễ Chúa Giáng Sinh.

“Trong Mùa Chay tiếng phong cầm và các nhạc cụ khác chỉ để giúp hát mà thôi, trừ Chúa Nhật Laetare (IV Mùa Chay), lễ trọng và lễ kính” (Bản dịch Việt ngữ của linh mục Phanxicô Xavier Nguyễn Chí Cần, giáo phận Nha Trang).

Như vậy, việc cấm rõ ràng độc tấu đại quản cầm, được tìm thấy trong huấn thị "Musicam Sacram", được giới hạn trong Mùa Chay, trong khi trong mùa Vọng, bây giờ có thể độc tấu đại quản cầm, miễn là “một cách vừa phải, phù hợp với đặc tính của mùa này”.

Đúng là không phải Sách Lễ Nghi Giám Mục, và cũng không phải Quy chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma (GIRM) số 66, đã minh nhiên cấm hoặc xóa bỏ luật trước đó.

Tuy nhiên, bởi vì các tài liệu Giáo Hội thường trích dẫn chính xác các tài liệu trước đó, các thay đổi nhỏ trong việc nhấn mạnh thường có ý nghĩa, và có thể phản ánh một sự tiến hóa trong qui chế, ngay cả khi luật trước đó không được bãi bỏ cách đặc biệt. Vì vậy tôi nghĩ rằng đây là một sự thay đổi rõ ràng về sự nhấn mạnh đối với tài liệu trước đó, bởi vì việc không nhắc đến sự sử dụng đại quản cầm để giúp hát trong mùa Vọng chắc chắn không phải là ngẫu nhiên.

Lý do có thể cho việc này là rằng Mùa Vọng không còn chính thức được kể vào các mùa thống hối.

Theo Sách Lễ Nghi Giám Mục, số 41, trong Mùa Vọng được phép đánh phong cầm và các nhạc cụ khác cách vừa phải, phù hợp với đặc tính của mùa này, nhưng đừng đi trước niềm vui trọn vẹn của lễ Chúa Giáng Sinh.

Chắc chắn, Mùa Vọng có các yếu tố giống với mùa Chay sám hối (lễ phục màu tím, bỏ kinh Vinh Danh (Gloria),…). Chúng được biện minh bởi sự tập chú của Mùa Vọng vào việc chuẩn bị tinh thần cho Chúa Kitô đến, bằng cách nhắc lại các mầu nhiệm của lịch sử cứu độ, cũng như các ám chỉ cánh chung của phụng vụ với “bốn sự sau”: sự chết, sự phán xét, thiên đàng và hỏa ngục.

Theo số 39 của Phần Giới thiệu lịch phụng vụ Rôma: “Mùa Vọng có hai đặc điểm: là một mùa để chuẩn bị Lễ Chúa Giáng Sinh khi việc Chúa Kitô đến lần đầu với chúng ta được tưởng nhớ; là một mùa khi sự tưởng nhớ này hướng tâm trí và con tim để chờ đợi việc Chúa Kitô đến lần thứ hai vào lúc tận cùng thời gian. Do đó Mùa Vọng là một khoảng thời gian cho sự chờ đợi sốt sắng và vui mừng”.

Mùa Vọng, được phát triển trong Nghi Lễ Rôma vào thế kỷ thứ sáu và luôn chứa đựng hai yếu tố này, mặc dù đôi khi một yếu tố được nhấn mạnh nhiều hơn yếu tố kia, cho đến khi mùa đạt đến nhiều hay ít hình thức hiện tại của nó.

Việc dùng các thanh gỗ gõ ra tiếng để thay thế cho chuông trong mùa Vọng dường như là một tập tục địa phương, và không được quy định trong luật phụng vụ. Chỉ có một số dịp khi luật phổ quát tiên liệu việc dùng các thanh trắc được gõ thay tiếng chuông khi truyền phép, sau kinh Vinh Danh cho Thánh Lễ Tiệc ly ngày Thứ Năm Tuần Thánh, sau đó không được rung chuông nữa cho đến kinh Vinh Danh của Đêm Vọng Phục Sinh.

Tại một số nơi, việc dùng các thanh trắc được tập tục địa phương cho mở rộng trọn mùa Chay, và cũng xuất hiện ở đây trong mùa Vọng nữa. Không có lý do phụng vụ tốt để duy trì sự thay thế này, và chuông có thể được rung trong suốt Mùa Vọng. Tuy nhiên, nếu tập tục đã có từ lâu và có qui chế của một tập tục pháp lý, nó cũng có thể được tiếp tục thực hiện. (Zenit.org 16-12-2014)

Nguyễn Trọng Đa