Tin Giáo Hội Hoàn VũChọn ngày khác
Các Giám Mục Nhật Bản kêu gọi bài trừ vũ khí nguyên tử
Linh Tiến Khải28/05/2016
HIROSHIMA: Các Giám Mục Nhật Bản tái kêu gọi bài trừ vũ khí nguyên tử, học các giáo huấn của Đệ Nhị Thế Chiến, và đừng lập lại các lỗi lầm quá khứ.

HĐGM Nhật đã đưa ra lời kêu gọi trên đây nhân chuyến viếng thăm Hiroshima của tổng thống Barack Obama ngày 27 tháng 5 vừa qua. Đây là lần đầu tiên một tổng thống Hoa Kỳ đương nhiệm viếng thăm nơi quả bom nguyên tử đầu tiên đã nổ ngày mùng 6 tháng 8 năm 1945. Bình luận về chuyến viếng thăm này ĐC Tarcisio Isao Kikuchi, GM Niigata, nói chuyến viếng thăm này là một “ngạc nhiên thích thú”, và có thể góp phần phát triển ước mong của nhiều người dân Nhật muốn bài trừ vũ khi nguyên tử. Hoà bình đích thật không thể đạt được mà không có việc duyệt xét luơng tâm liên quan tới các trách nhiệm của quá khứ. Bất cứ hoạt động nào cho một thế giới không có vũ khí nguyên tử đều đáng cầu mong và được đón nhận. Nhưng không thể tiến tới, nếu không suy tư sâu rộng trên các giáo huấn của Đệ Nhị Thế Chiến và các biện pháp cần áp dụng hiện nay để duy trì hoà bình.

Giáo Hội Công Giáo Nhật Bản đã luôn luôn lưu tâm tới đề tài này trong các năm 1995, 2005 và 2015, nhân các dịp kỷ niệm 50 năm, 60 năm và 70 năm bom nguyên tử nổ tại Hiroshima và Nagasaki và chấm dứt thế chiến. Giáo Hội đã luôn luôn dấn thân cổ võ hoà bình và khước từ chiến tranh. Trong một tài liệu công bố ngày mùng 7 tháng 4 vừa qua các Giám Mục Nhật đã tố cáo hai luật có hiệu lực từ ngày 29 tháng 3 năm 2016, cho phép quân đội Nhật can thiệp trợ giúp một đồng minh gặp nguy hiểm trong một cuộc xung khắc ngoại quốc. Như thế hai luật mới này tránh khoản 9 của Hiến Pháp cấm Nhật Bản dùng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế.

Các Giám Mục nhấn mạnh rằng khổ đau do các vũ khí nguyên tử gây ra vượt ngoài mọi lời nói. Chúng ta hãy làm sao để đừng lập lại các lỗi lầm quá khứ, nhưng phải suy tư nghiêm chỉnh về điều chúng ta được mời gọi làm trong tư cách công dân và kitô hữu. Chính qua lời cầu nguyện, chứ không phải qua các sức mạnh vũ trang, mà chúng ta đi lên để xây dựng một nền hoà bình dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau (SD 26-5-2016).
Tin Giáo Hội Việt Nam
Lễ Mình Máu Thánh Chúa và rước kiệu Mình Thánh tại giáo xứ Lam Điền 2016
Lm Antôn Nguyễn Văn Độ28/05/2016
Lễ Mình Máu Thánh Chúa và rước kiệu Mình Thánh tại giáo xứ Lam Điền 2016

Nét đặc biệt của lễ của Chúa là việc rước kiệu trọng thể Mình Thánh Chúa đặt trong mặt nhật liền sau lễ ra khỏi nhà thờ, đi trên đường trải thảm, có các em rắc hoa, bình hương nghi ngút, để loan truyền cho mọi người biết rằng: Chúa Giêsu hiện diện thực sự trong Bí tích Thánh Thể và Hy tế của Người là ơn cứu độ cho toàn thế giới. Chính vì vậy, cộng đoàn giáo xứ Lam Điền đã cử hành lễ này với đầy đủ ý nghĩa đó.

Xem Hình

“Này là Mình Thầy. Này là Máu Thầy”. Là chủ đề bài giảng của thầy Phó tế Vinh Sơn Thắng.

Đây là lời truyền phép đầu tiên. Chúa Giêsu đã biến bánh và rượu trở nên Mình và Máu Người. Đêm hôm ấy, ở giữa các Tông đồ, Chúa Giêsu cầm bánh trong tay và nói: “Này là Mình Thầy”. Rồi, sau bữa ăn, Chúa Giêsu cầm chén rượu trong tay và nói: “Này là Máu Thầy”.

Biến cố này thật là kỳ diệu ! Điều đem lại ý nghĩa cho các Tông đồ và đánh động họ, không phải là việc Chúa Giêsu bẻ bánh hay rót rượu vào chén; nhưng là khi Chúa Giêsu thêm vào mỗi lời chúc tụng, tạ ơn của Nghi lễ Vượt Qua lời tuyên bố giải thích của chính mình. Người đã đồng hóa mình với Chiên Vượt qua đang ở trên bàn ăn. Người minh nhiên cho các Tông đồ biết: bánh và rượu đã trở nên Mình và Máu Người. Từ nay, không phải chỉ là lương thực, mà còn là phương thế đem lại ơn tha tội cho mọi người. Bằng hành động ấy, Chúa Giêsu đã thiết lập Bí tích Thánh Thể, dấu chỉ của ơn tha tội; dấu chỉ của sự sống đời đời.

Sau Thánh lễ, cha chủ tế đặt Mình Thánh Chúa vào mặt nhật và cộng đoàn thờ lạy trong giấy phút, cuộc rước bắt đầu do thầy Phó tế Vinh Sơn chủ sự.

Trạm thứ I trước Hang Bêlem

(Do họ Tân An + Bến Cát + Chúc Đông đảm nhiệm)

Thầy chủ sự đặt Mặt nhật chứa Mình Thánh Chúa lên bàn thờ bắt đầu hát:

1. Bài: Ca Vãn, PANGE LINGUA – Ta hãy ca khen miệng lưỡi ( Hát chiều thứ Năm Tuần Thánh)

- Suy niệm

- Tấu bài kèn

2. Bài 2: Con thờ lạy hết tình, Chúa ngự trong phép Thánh… (Hoài chiên)

- Đọc kinh thờ lạy Mình và Máu Cực Thánh Chúa Giêsu (Sách kinh Hà Nội trang 172)

3. Hát bài: Con quì gối thờ lạy Chúa ….( Kèm theo vũ điệu các thiên thần)

4. Hát Ca Thánh Thể ( Bài điệu nhạc tha thiết)

Phép lành Thánh Thể, và cuộc rước tiếp tục

Trạm thứ II trước đài Đức Mẹ

(Do họ Lương Xá + Duyên Ứng+ Ứng Hòa Hòa đảm nhiệm)

Thầy chủ sự đặt Mặt nhật chứa Mình Thánh Chúa lên bàn thờ bắt đầu hát:

1. Bài: Thờ Lạy Chúa Giêsu Kitô đang ngự trên Bàn thờ

- Suy niệm

- Tấu bài kèn

2. Bài 2: Giêsu Chí Nhân ai nhớ mà suy

- Đọc kinh thờ lạy Chúa Giêsu ngự trong phép Mình Thánh ( Sách kinh Hà Nội trang 174)

3. Hát bài: Con quì gối thờ lạy Chúa …. (Kèm theo vũ điệu các thiên thần)

4. Hát Ca Thánh Thể bài: Đây nhiệm tích vô cùng cao quí, nào chúng ta phục bái….

Phép lành Thánh Thể, và cuộc rước tiếp tục

Trạm thứ III tiền sảnh Nhà thờ

(Do họ nhà xứ Lam Điền đảm nhiệm)

Thầy chủ sự đặt Mặt nhật chứa Mình Thánh Chúa lên bắt đầu hát:

1. Bài: Ta là Bánh Hằng Sống …

- Suy niệm

- Tấu bài kèn

2. Bài 2: Đây phép niệm mầu cực linh khôn sánh… (Hoài chiên)

- Đọc kinh Chầu Mình Thánh (Sách kinh Hà Nội trang 166)

3. Hát bài: Con quì gối thờ lạy Chúa …. (Kèm theo vũ điệu các thiên thần)

u Hát cầu cho Đức Giáo Hoàng.

u Hát: Ca Thánh Thể.

u Lời nguyện.

u Phép Lành Mình Thánh Chúa.

u Hát kết thúc hướng về Mẹ Maria hát bài: Maria Người nữ Thánh Thể
Thánh lễ tạm biệt Đức Cha Vinh Sơn Nguyễn Văn Long tại Trung Tâm CG Vinh Sơn Liêm
Trần Bá Nguyệt hình ảnh Trần Văn Minh28/05/2016
(Melbourne – 28/5/2016)
Thánh Lễ trọng thể 5 giờ chiều thứ Bảy, 28/5/16 hôm nay mừng kính Phép Thánh Thể cũng là thánh lễ chính thức tạm biệt cộng đoàn Công Giáo người Việt Melbourne trước khi Đức Cha nhận nhiệm sở mới tại Parramatta, Sydney.
Mời xem hình
Trong khung cảnh ấm cúng, mặc dù nhiệt độ bên ngoài chỉ hơn mười độ, ngôi thánh đường trung tâm không còn một chỗ trống. Đúng 5 giờ chiều, thánh lễ khởi sự với bài ca nhập lễ của Ca đoàn Vô Nhiễm. Đức Cha cùng với Cha Quản Nhiệm và ba cha người Việt đồng tế tiến lên cung thánh.
Trong khi chờ đợi bài giảng sau Phúc Âm về phép lạ Năm Chiếc Bánh và Hai Con Cá, cả thánh đường yên lặng với không khí hơi trầm lắng. Đức Cha chủ tế đã mở đầu bằng cách nhắc đến năm năm từ ngày nhận nhiệm vụ làm Giám Mục Phụ Tá Đức TGM Melbourne với những lo âu, vui buồn lẫn lộn. Khi được tin ra đi nhận nhiệm vụ mới, tâm trạng buồn vui lẫn lộn đó cũng không giảm bớt, có điều lo lắng nhiều hơn vì (như các cụ nói) “lớn thuyền, lớn sóng”. Tuy nhiên, với hành trang Ra Khơi sẵn sàng truyền giáo, tâm trạng sẵn sàng ấy khiến Ngài chấp nhận dấn thân cho dù có tâm lý lo sợ của con người. Với sứ mệnh làm giám mục trong xã hội Úc, Ngài đã sẵn sàng hội nhập và đó chính là bước thành công ở một nơi không phải là quê hương mình. Ngài ví mình như mũi nhọn của tảng băng – tảng băng cộng đồng người Công Giáo Việt Nam– mà phần lớn chìm dưới nước sâu. Thánh lễ hôm nay cũng nhắc Ngài đến Vị Tổ Phụ Abraham đã vâng lời Thiên Chúa, chấp nhận ra đi đưa dân Người vào Đất Hứa. Abraham là hiện thân của mẫu người dấn thân lý tưởng với tinh thần phó thác và chấp nhận, không đắn đo do dự.
Đức Cha cũng nhân dịp này nhắc đến hiện tượng người dân Việt Nam đổ xô ra đường với con số hàng trăm ngàn người để chào đón Tổng Thống Hoa Kỳ trong mấy ngày đầu tuần lễ vừa qua. Tâm trạng ấy biểu lộ sự khao khát tự do của người dân đang bị kềm chế trước vị tổng thống đã đến VN như một con người mang biểu tượng của tự do với khẩu hiệu “cần phải thay đổi”.
Thiên Chúa đã đến và dạy chúng ta phải dấn thân vào công việc thực hiện cuộc cách mạng thiêng liêng là đem Chúa đến với mọi người. Ý nghĩa của năm chiếc bánh và hai con cá không phải là ý nghĩa một phép lạ mà là ý nghĩa của sự quảng đại dấn thân của em bé để Chúa thực hiện trên mỗi con người chúng ta.
Việc ra đi của Đức Cha không phải là một biến cố buồn, nhưng đó là dấn thân, thực hiện sứ mạng của mình. Đức Cha cũng hy vọng là những việc làm của cộng đoàn người Việt Melbourne sẽ tiếp tục được thực hiện trong tình liên kết của tất cả mọi người để việc mở mang và làm sáng danh Chúa được tiến triển mãi mãi. Đức Cha cũng ngỏ lời cám ơn cộng đoàn đã cộng tác và tỏ lòng ưu ái trong những năm tháng Ngài cùng làm việc với cộng đoàn tại đây. Đức Cha nói rằng Ngài sẽ mang những học hỏi và kinh nghiệm dấn thân của anh chị em giáo dân Melbourne đến vùng đất mới để tạo sinh hoa trái của Chúa Chiên lành trong tinh thần dấn thân không do dự của Abrham và tinh thần quảng đại của em bé trong Phép lạ Năm Chiếc Bánh và Hai Con Cá hôm nay.
Cuối lễ, Ông Nguyễn Ngọc Trúc, Chủ Tịch HĐMVCG Melbourne đã thay mặt cộng đoàn nhắc lại những lo lắng, hy sinh và sự hăng say của Đức Cha cho cộng đồng qua những thành quả to lớn của hai Đại Hội Lavang và Đại Hội LCTX vừa qua. Ông cũng thay mặt cộng đoàn kính chúc Đức Cha nhiều sức khoẻ và luôn nhớ đến Melbourne trong lời cầu nguyện.
Ông Mai Thanh Hải, đại diện Cộng đoàn Trung Tâm Vinh Sơn Liêm đã nhắc đến những kỷ niệm của Đức Cha với anh chị em trung tâm qua sự hiện diện thường xuyên của Ngài. Ông cũng nhắc đến những hoạt động Đức Cha đã làm cho người Việt tại quê nhà còn đang sống trong tình trạng mất tự do và bị kềm chế. Những việc làm đó đánh động lương tri của con người. Ông kính chúc Đức Cha nhiều hồng ân, sức khoẻ, sự kiên cường và thượng lộ bình an.
Bà Phượng Vỹ, Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do Victoria đã cám ơn Đức Cha về những sự hỗ trợ cũng như sự hiện diện của Đức Cha trong những sinh hoạt của cộng đồng. Người Việt cũng không thể thờ ơ trước hiện tình đất nước trong đó chính quyền chỉ lo vơ vét và áp bức người dân. Bà đã nhắc đến bài nói chuyện của Đức Cha trước đó, trong đó Ngài nhấn mạnh “Chúa đã sai tôi đi để giải thoát con người, giải phóng cho cho người” vì thế người Công Giáo không thể thờ ơ trước những bất công và đàn áp con người. Cộng Đồng NVTD Victoria rất hãnh diện vì có Đức Cha và chúc mừng Đức Cha trong vai trò mới tại Giáo Phận Parramatta.
Sau thánh lễ, Cha Quản Nhiệm đã thông báo một số công việc phụng vụ cuối tuần. Đức Cha đã ban phép lành, chụp hình lưu niệm với cộng đoàn và xuống hội trường dự tiệc liên hoạn với cộng đoàn. Trong bữa tiệc, Đức Cha đã đăng đàn trình bày hai nhạc phẩm. Một bài của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh và một bài của Ngô Thuỵ Miên mà Ngài nói đó là Ngài đã phá lệ thông thường của Ngài. Hội trường vui vẻ chúc mừng Đức Cha và cầu nguyện cho Ngài khi Ngài đến nơi làm việc mới.


Bình luận và góp ý về buổi toạ đàm tại Mĩ của Nhóm Phiên Dịch Thánh Kinh từ VN
Gia Sự / Mục Vụ Văn Bút28/05/2016
Trong buổi toạ đàm tại Giáo Xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, Arlington, Virginia, chiều 12/05/2016, Linh mục Trần Hoà Hưng (Lm T.H. Hưng, Lm Hưng, Cha Hưng), Đại diện Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ (NPD) từ Việt Nam sang, nói về những bản dịch Thánh Kinh ra Việt Ngữ và trả lời thắc mắc của thính giả liên quan đến công việc dịch thuật của Nhóm..

Điện thư do Ông Đỗ Văn Hùng được NPD nhờ để giàn xếp cuộc toạ đàm, và mời giáo dân đến dự, có viết: “Đây là lần đầu tiên đại diện của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ sang Hoa kỳ để tiếp xúc với giáo dân hải ngoại. Mục đích của cuộc họp mặt theo người tổ chức là để: ‘có dịp gặp gỡ, trao đổi’ giữa những người quan tâm và muốn có thông tin về Nhóm Phiên Dịch Các Lời Kinh Phụng vụ và tạo thêm bạn bè sẵn sàng tiếp tay trong công việc phục vụ Lời Chúa”.

Lm Trần Hoà Hưng
Phần trình bầy của Đại diện Nhóm

Trong phần trình bày, Lm T.H. Hưng nóí về tầm quan trọng của Lời Chúa trong đời sống người tín hữu vì Lời Chúa là “Lời hằng sống. Chúa có lời ban sự sống đời đời”. Lời Chúa là ánh sáng soi tâm hồn. Người tín hữu đọc lời Chúa, lắng nghe lời Chúa để cầu nguyện, rồi chia sẻ lời Chúa. Trong quá khứ, người Công Giáo chỉ chú tâm vào Thánh lễ và Bí Tích Thánh Thể. Tuy nhiên lời Chúa cũng là của ăn thiêng liêng của người tín hữu. Trong thánh lễ người tín hữu không những nghe lời Chúa trong 2, hoặc 3 bài đọc Thánh Kinh. Người tín hữu còn lắng nghe và cầu nguyện theo lời Chúa trong những lời cầu nguyện đối đáp với chủ tế trong thánh lễ như: “Chúa ở cùng Anh Chị Em. Và ở cùng Cha”, cũng là lời trich trong Thánh Kinh. Cha Hưng cũng nói đến việc đọc Kinh phụng vụ, trước gọi là kinh nhật tụng. Kinh phụng vụ không phải chỉ dành cho linh mục tu sĩ, mà Giáo Hội còn khuyến khích cả người giáo dân cầu nguyện bằng cách đọc kinh Phụng vụ, không phải chỉ đọc, nhưng cầu nguyện theo kinh Phụng Vụ. Trong thời đại @ a còng, có nhiều cách giúp người tín hữu cầu nguyện.

Lm T.H. Hưng cũng nói về sự thành hình và những diễn tiến của NPD và những thành quả dịch thuật đã thực hiện được trong hơn 40 năm qua. Nhóm Phiên Dịch Các Lời Kinh Phụng Vụ đã làm việc với Ủy Ban Phụng Tự (UBPT) thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam theo sự chỉ dẫn của Đức Cha Chủ tịch tịch Ủy Ban Phụng Tự thuộc HĐ GM từ năm 1971. Theo Lm Hưng, NPD đã cố dịch theo sát nghĩa bản chính. Theo mấy lời giới thiệu trong sấp giấy phát ra có đầu đề: “Giới Thiệu Thánh Kinh và Nhóm Phụng Vụ Các Giờ Kinh 1971-2016” có câu: “Cung cấp một bản dịch vừa đúng ý nguyên văn, vừa xuôi tiếng Việt và dễ hiểu”.

Trong dịp này Lm Hưng cũng chỉ dẫn cách cài đặt vào Smart Phone, Iphone, Ipad, Tablet (Android), cách đọc Kinh Phụng vụ, nghe, đọc các bài đọc trong thánh lễ hằng ngày. Chức năng mới này thích hợp cho người cao niên hoặc người đi du lịch có thể tải xuống và luu trữ để đọc hoặc nghe trong lúc đi dường, mà không cần internet.



Phần thắc mắc và trả lời câu hỏi

Đến phần này, có mấy người đặt những câu hỏi chung chung và được Cha Hưng trả lời. Rồi một linh mục trong cử toạ nói– trong bài này được gọi là Lm X - khi xuất bản bộ sách của mình mặc dầu có in trong thư mục ở cuối sách nguồn trích dẫn những câu Thánh Kinh theo bản dịch của NPD, có ấn kí “Imprimatur” cho phần Tân ước của TGm Nguyễn Văn Bình và ấn kí “Imprimatur” cho phần Cựu Ước của Hồng Y Phạm Minh Mẫn. Tuy nhiên vì sợ NPD kiện, nên Lm X đã email cho một linh mục thuộc NPD (trong bài này gọi là Lm X # 1), để xin phép trích dẫn những câu Thánh Kinh trong sách. Để cho chắc ăn, Lm X còn điện thoại cho Lm X # 1, hỏi xin phép nữa. Khi Lm X #1 hỏi Lm X muốn trích nhiều hay ít? Lm X trả lời mỗi bài chỉ trích chừng 2, hay 3, hay 4 câu thôi. Cha X #1 nói vậy thì Cha “cứ việc” (trích).

Rồi Lm X nêu lên một số thắc mắc về từ ngữ dùng trong: Sách Lễ Roma 1992, phần Nghi Thức Thánh lễ. Mặc dầu Phần Nghi Thức Thánh lễ trong Sách Lễ Rôma do Ủy Ban Phụng Tự xuất bản, nhưng những từ ngữ sau đây, được cho là của NPD.

(1). Trong Nghi thức đầu lễ, theo bản dịch của NPD thấy in là: “Nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần”, thay vì: “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” như trước và như các ngôn ngữ khác. Sao phải thêm từ Chúa vào mỗi Ngôi Vị? Có những người hỏi như vậy có phải có ba ‘Chúa’ hay sao?

(2). Trong lời Truyền phép Máu Thánh, in là “Sẽ đổ ra cho mọi người được tha tội” thay vì cho “nhiều người được tha tội” như trước. Theo thần học thì mục đích của việc Chúa Kitô chịu khổ hình và chịu nạn chịu chết, là để cứu chuộc mọi người. Tuy nhiên không phải mọi người được cứu rỗi. Tội Juda, không tỏ lòng sám hối là một điển hình.

(3). Trong lời tung hô kết Kinh nguyện Thánh Thể và trước Kinh Lạy Cha, in là: “Chính nhờ Đức Kitô, cùng với Đức Kitô và trong Đức Kitô” thay vì “chính nhờ Người, với Người và trong Người” như trước và như những ngôn ngữ khác.

Lm X nói 3 thắc mắc trên chỉ là thắc mắc thôi chứ không yêu cầu Cha Hưng trả lời. Tuy nhiên, từ khi có Huấn Thị số 5 của Toà Thánh gừi ra 28/03/2001 thì UBPT đã cho in lại phần Nghi Thức Thánh lễ năm 2005 và sửa lại 3 điểm trên.

Rồi Lm X nói thêm là sách Lễ Ro-ma của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kì ( The Roman Missal, the Sacramentary, xuất bản năm 1974, cũng dịch lời truyền phép Máu Thánh là cho mọi người: “It will be shed for you and for all men”. Huấn Thị số 5 cũng áp dụng cho các bản dịch của các ngôn ngữ khác nhau nữa. Vì thế trong cuốn “The Roman Missal, the Sacramentary, xuất bản năm 2011 của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kì, cũng đã sửa lại là: “Which will be poured out for you and for many” thay vì for all men.

Sau đó, Lm X còn đặt một số câu hỏi của mình và một số câu hỏi của người khác đã nêu ra trước đây về từ ngữ dùng trong việc dịch Thánh Kinh của NPD. Lm X cũng không yêu cầu Cha Hưng trả lời những câu hỏi đó. Tuy nhiên Cha Hưng có trả lời mấy câu. Những câu hỏi mà Lm X thắc mắc về từ ngữ NPD dịch là:

(1). Trong Sách:” Kinh Thánh trọn Bộ 1998, 1999 do NPD, câu: l Thê-xa-lô-ni-ca 4-4 dịch là: “Mỗi người hãy lấy cho mình một người vợ để sống cách thánh thiện và trong danh dự”. Theo Lm X, phần: “Mỗi người hãy lấy cho mình một vợ” làm độc giả khó hiểu ý nghĩa.

(2). Trong cuốn: Kinh Thánh trọn Bộ do NPD, 1998, 1999, câu: Lu-ca 1:26; Lu-ca 2:5 dịch là: “Thành hôn”. Trước đó chính NPD dịch là “đính hôn” trong sách Kinh Thánh Tân Ước xuất bản 1994. Cha Hưng trả lời là đúng như vậy. Chính NPD đã đổi dịch từ đính hôn sang thành hôn vì đối với người Do Thái cổ xưa thì đính hôn tức là đã thành hôn rồi. Vì thế mà thiên sứ mới nói với Ông Giuse: “Đừng ngại đón bà Maria, vợ ông về, vì người con bà đang cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1:20). Cha Hưng giải thích khá dài về 2 kiểu dịch đính hôn và thành hôn và nói dịch kiểu nào cũng phải giải thích trong ghi chú.

(3). Trong cuốn: Kinh Thánh Tân Ước của NPD tái bản tại hải ngoại 1994, câu: Lu-ca 11:8 dịch là: “Vì thể diện” mà nửa đêm người chủ nhà phải dạy lấy bánh cho người bạn vay, thay vì để tránh bị quấy rầy theo đa số những bản dịch khác. Về điểm này, Cha Hưng có nói với Lm X là đã sửa lại trong cuốn Kinh Thánh trọn Bộ, 1998 là: “Vì anh ta cứ lì ra đó”.

(4). Trong cuốn: “Kinh Thánh trọn Bộ” 1998, 1999 do NPD, câu: Xuất Hành 20:12 dịch là: “Thờ cha kính mẹ” thay vì hiếu thảo hay tôn kính, thảo kính cha mẹ, vì thờ phượng chỉ dành cho Đấng tối cao, cho Thiên Chúa mà thôi. Dịch là ‘thờ cha, kính mẹ’ còn ngụ ý phân biệt đối xử nữa, coi mẹ là thấp kém hơn cha.

(5). Trong sách Kinh Thánh do NPD thấy dịch là: Đức Chúa thay vì Thiên Chúa, nghe có vẻ hơi lạ tai với giáo dân và xa với ý niệm “Ông Trời’ của dân gian VN. Quan niệm về Ông Trời của dân gian Việt Nam một phần nào cũng là quan niệm về Thiên Chúa của người Kitô giáo (Thiên là trời nên dịch là Thiên Chúa có nghĩa là Chúa ngự trên trời theo quan niệm bình dân, mặc dầu theo thần học thì Thiên Chúa ở khắp mọi nơi). Người theo Đạo Trời (Đạo Ông Bà) cũng tin Ông Trời là Đấng tạo thành trời đất, muôn vật, và thưởng phạt người lành người dữ như người Kitô giáo.

(6). Trong sách: “Kinh Thánh trọn Bộ” 1998, 1999 do NPD, câu Mt 21:41, thấy có kiểu nói: “Ác giả, ác báo”, một câu ngạn ngữ VN do NPD thêm vào, chứ không có trong bản chính. Thêm kiểu nói này vào, người đọc hiểu ý NPD muốn kết luận, trước khi giải thích những cách thế mà chủ vườn nho xử với nhóm tá điền bất lương, khi nói về ông chủ sẽ tru diệt bọn tá điền và cho các tá điền khác canh tác vườn nho.

Trên đây là phần trình bày của NPD về tầm quan trọng của lời Chúa và công việc của Nhóm PPD và diễn tiến của Nhóm trong buổi toạ đàm. Sau đó là phần thắc mắc và trả lời. Có thể còn những thắc mắc nữa về từ ngữ dùng và lời dịch trong Thánh Kinh của NPD. Rồi mấy hôm sau ngày 15-05/2015, Cha Hưng còn có buổi nói chuyện cũng về Thánh Kinh và cầu nguyện bằng lời Chúa tại nhà một gia đình trong Giáo Xứ với nhóm giáo dân khác.

Sau đây là phần bình luận và đề nghị của tác giả bài viết sau 2 buổi nghe đàm đạo với diễn giả, cũng như đọc mấy bài trong Kỉ Yếu “40 Năm Hiện Diện” của NPD xuất bản 2011..

Sao có được sự tái hợp tác giữa NPD và UBPT / Hội Đồng GMVN?

Trong buổi toạ đàm, Lm X nói với Lm Trần Hoà Hưng đại khái là theo một nguồn tin rất đáng tin cậy, thì UBPT có gặp và bày tỏ ý muốn có sự cộng tác của NPD để dịch hay sửa lại bản dịch Thánh Kinh mà NPD chưa sẵn sàng gì đó. Cha Hưng thì nói NPD cũng muốn hợp tác, nhưng chưa thuận tiện thế nào đó. Hôm sau về coi cuốn Kỉ Yếu: “40 Năm Hiện Diện” của NPD, xuất bản năm 2011, in trên khổ giấy 17cm x 24 cm, bằng giấy láng, với bìa cứng và hình mầu, có 49 bài viết trong 326 trang giấy, thì thấy như sau..

Trong cuốn Kỉ Yếu có một bài với đầu đề: “Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ bất hợp tác?” (có dấu hỏi) của một linh mục với tên thật, mà người viết bài này tạm gọi là Lm X #1 (khác Lm X trong buổi toạ đàm), kể lại do nhu cầu Phụng Vụ, mà NPD ra đời năm 1971. Biến cố năm 1975 khiến NPD phải tự giải tán. Khi UBPT được tái lập năm 1978, thì Đức Cha Chủ tịch UBPT đích thân đến thăm và mời NPD cộng tác làm việc với UBPT. Tuy nhiên, vào năm 1999, theo Lm X #1 thì, vì một lời nhắn của một Đức Cha được nêu rõ tên, nhờ một linh mục thư kí chuyển nguyên văn đến cuộc họp bất thường giữa UBPT và NPD, khiến những thành viên NPD nghĩ ngợi gì đó về lời nhắn của Đức Cha, nên rút lui dần khỏi UBPT. Lời nhắn đó được trích nguyên văn trong bài viết. Đến ngày 07-11- 2001, Đức Cha tân Chủ Tịch UBPT lại mời NPD cộng tác với UBPT. Lại theo bài viết của Lm X #1 thì khi nghe biết vậy “anh em(trong NPD) nhận lời ngay, nhưng nói rõ là sẵn sàng làm bất cứ việc gì, ngoại trừ việc dịch lại Kinh Thánh, vốn là việc anh em làm suốt bao nhiêu năm rồi”. NPD còn nói thêm nếu Hội ĐGM chấp thuận bản dịch Kinh Thánh của NPD, Nhóm sẵn sàng phiên âm các tên riêng từ La-tinh (La ngữ) và chỉnh lại cho sát bản La-tinh hơn.

Như vậy lời Đức Cha Chủ Tịch UBPT nói với Lm X, khi Ngài qua Mĩ là đã có mời NPD cộng tác là đúng. Lời Lm X nói với Cha Hưng trong buổi toạ đàm là UBPT có mời NPD cũng là đúng. Lời Cha Hưng nói trong buổi toạ đàm này là NPD muốn cộng tác cũng là đúng. Người viết cũng đồng ý với NPD là việc dịch lại Kinh Thánh (toàn bộ?) là việc làm đòi hỏi rất nhiều thời giờ, trí lực và tâm lực của cả NPD, mà Nhóm đã làm rồi. Còn việc sửa lại những từ ngữ, những câu văn cần sửa là điều phải lẽ mà NPD đã chấp nhận sửa. Như vậy việc cộng tác đã gỉải quyết được một nửa hay bước đầu rồi.

Theo bài viết của Lm X #1, thì đến ngày 19-12-2001, Đức Cha Chủ Tịch / UBPT trở lại với linh mục Thư Kí Ủy Ban. Theo bài viết, Đức Cha nhấn mạnh đến quyền xuất bản các sách Phụng vụ. Còn Cha Thư Kí thì cứ gặn hỏi: “Nếu Hội Đồng Giám Mục sử dụng bản dịch Kinh Thánh của các Anh, thì các Anh tính bao nhiêu phần trăm”. NPD trả lời: “Cứ để xem các Đức Cha có muốn sử dụng bản dịch của Nhóm không đã, và nếu có thì Nhóm với Ủy Ban Phụng Tự sẽ trao đổi với nhau, đâu có vội chi”. Việc sử dụng bản dịch Kinh Thánh, theo tác giả hiểu, là Hội Đồng Giám Mục muốn xuất bản Kinh Thánh theo bản dịch của NPD. Nếu như vậy thì trong sách mà HĐGM xuất bản có ghi nhận NPD không?

Người viết phân tích lời đối đáp giữa UBPT và NPD lần hai ngày 19-12-2001 thì thấy Đức Cha Chủ Tịch / UBPT nhấn mạnh đến quyền xuất bản các sách Phụng Vụ là đúng. Cha Hưng, Đại diện NPD nói với cử toạ trong cuộc toạ đàm tại Mĩ cũng thừa nhận quyền xuất bản các sách Phụng Vụ của UBPT. Về câu hỏi “Các Anh tính bao nhiêu phần trăm”, thì người viết thiết tưởng NPD cũng chưa trả lời được vì còn tuỳ thuộc vào việc UBPT sử dụng toàn bộ bản dịch sách Kinh Thánh không, hay chỉ dùng cho một số sách. Ngoài ra NPD cũng phải về để bàn thảo với cả Nhóm nữa. Như vậy thì việc UBPT đến gặp NPD lần hai 19-12-2001 với những câu hỏi chung như vậy thì cũng vẫn chỉ là những câu hỏi dò dẫm thôi.

Còn câu hỏi: "Các anh tính bao nhiêu phần trăm" là phải lẽ vì “có thực mới vực được đạo”. Đức Giêsu cũng nói: “Làm thợ thì đáng được thưởng công”(Lc 10:7). Có lần một linh mục kia - mà giáo dân gọi là Cha già Liêm - giảng ở nhà thờ, phát biểu một câu rất ngạc nhiên thế này: “Bà dòng, bà ấy cũng có bụng như ta”. Số là có mấy phụ huynh không đóng tiền cho con học trường nhà dòng – trước đó còn gọi là bà mụ, đời nay gọi là bà Sơ, dì phước- nên ngài nói thực tế như vậy, nghĩa là bà dòng, bà sơ, dì phước cũng cần ăn, kẻo kiến bò bụng.

Một điểm nữa là khi Hội Đồng Giám Mục sử dụng bản dịch của các Anh (của NPD) thì có ghi nhận Nhóm Phiên Dịch ở chỗ nào trong sách không? Trong cuốn “Kinh Thánh trọn Bộ Cựu Ước và Tân Ước do Toà Tổng Giám Mục TP. HCM thực hiện 1998 có ghi nhận bản dịch của các thành viên trong NPD. Còn trong cuốn “Sách Lễ Ro-ma” do Uỷ Ban Phụng Tự thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam xuất bản năm 1992, trong đó những bản dịch các lời nguyện trong các thánh lễ và các Kinh Tiền tụng thì người viết không biết là của ai. Còn phần Nghi Thức Thánh Lễ thì người viết nghĩ cũng có sự đóng góp của NPD dựa vào câu: “Nhân danh Chúa Cha.. Chính nhờ Đức Kitô…”. Sau đó khi UBPT cho xuất bản cuốn Nghi Thức Thánh lễ 2005 thì mới không còn thấy “Nhân danh Chúa Cha… Chính nhờ Đức Kitô. .” mà chỉ thấy in: “Nhân danh Cha.. Chính nhờ Người..” như trước.

Có một điểm mà người ta thắc mắc là trong cuốn “Kinh Thánh trọn Bộ Cựu Ước và Tân Ước xuất bản năm 1998 có ấn kí “Imprimatur” năm 1993 cho phần Tân Ước do Đức Cha Nguyễn Văn Bình, Tổng Giám Mục Sài Gòn, và ấn kí “Imprimatur” năm 1998 cho phần Cựu Ước do Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám Mục Sài Gòn, mà sao NPD còn hỏi UBPT ngày 07-11-2001 là “trong trường hợp Hội Đồng Giám Mục chấp nhận bản dịch Kinh Thánh của Nhóm”. Còn ngày 19-12-2001, NPD lại nói với UBPT “cứ để xem các Đức Cha có muốn sử dụng bản dịch của Nhóm không đã”. Như vậy các Đức Cha có thể phủ nhận ấn kí “Imprimatur” của Đức Cha Bình và Đức Hồng Y Mẫn sao?

UBPT có thể không cần sự cộng tác của NPD vì UBPT có lí do của UBPT. Tuy nhiên câu hỏi được đặt ra là UBPT có đủ người chuyên môn để làm những công việc dịch thuật không? Nghe phong phanh là UBPT muốn nhờ đại chủng sinh của mấy đại chủng viện làm công việc dịch thuật các văn kiện về Phụng vụ, các Lời nguyện, các kinh Tiền Tụng trong thánh lễ. Trước năm 1975, nhóm đại chủng sinh của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt cũng đã dịch tài liệu Công Đồng Vaticanô II sang tiếng Việt. Công việc dịch thuật được thực hiện theo sự hưóng dẫn và kiểm lại của ban giảng huấn, vào mùa hè nên không làm cản trở chương trình học trong năm. Câu hỏi được nêu ra là số năm học La-ngữ của đại chủng sinh đời nay có sánh được với đại chủng sinh trước năm 1975 không? Đại chủng sinh trước năm 1975 phải học La ngữ 7 năm ở Tiểu chủng Viện, tiếp tục học La ngữ 2 năm nữa ở bậc Triết học, rồi đọc một số sách bằng La ngữ trong 4 năm thần học. Cách viết động tự La ngữ thay đổi ở những thì khác nhau tuỳ theo chỉ về hiện tại, tương lai, hoặc quá khứ và những thể nghi vấn hay phủ định. Động tự ở những thì khác nhau, thì cách viết có thể biến đổi hoàn toàn, không còn giống động tự ở thể vị biến thể nữa. Trong một câu, động tự có thể nằm ở giữa câu hay cuối câu. Ngoài động từ ra, danh từ và tĩnh từ cũng biến đổi cách viết trong những thì và khi chỉ số it hay số nhiều. Thời đó chủng sinh ở lớp Đệ Tam, Đệ Nhị, Đệ Nhất, tương đương với lớp 10, 11 vả 12 mà phải dịch ra Việt ngữ những đoạn văn La ngữ cổ điển. Phải nói là có khi phải cố gắng nặn óc ra, mới dịch cho đúng nghĩa được.

Như vậy để tiết kiệm nhân lực, vật lực, tài lực (tiền) và trí năng lực, UBPT và cả Ủy Ban Thánh Kinh có nên để mất sự cộng tác của NPD không? Nghe nói người giáo dân cũng muốn thấy NPD được cộng tác trở lại với UBPT đấy. Người viết biết được NPD có những thành viên của những bộ môn khác nhau. Chẳng hạn như khi dịch Thánh Vịnh ra thể thơ phú, mà nếu dùng hai danh từ, động từ, tĩnh tự kép mà có nghĩa giống nhau, thì thành viên thi sĩ của NPD có thể cho ý kiến dùng từ ngữ kép này thì đọc xuôi hơn hoặc nếu phổ nhạc vào Đáp Ca thì dễ hơn. Người viết còn được biết NPD làm việc khá chặt chẽ theo kỉ luật của Nhóm. Trông vào các ấn bản dịch thuật của NPD (xem hình) thấy kể là khá dồi dào. Nghe nói Nhóm sẽ còn tiếp tục ấn bản. Nhóm vẫn lưu trữ những bản dịch và cả những ghi chú và sửa chữa trong đĩa DVD và trong máy vi tính. Nhóm còn có văn phòng làm việc, thích hợp cho việc dịch thuật. Vào những khách sạn tại Mĩ người ta thấy những cuốn Thánh Kinh Tin Lành để sẵn trên bàn cho khách đọc. Bao giờ mới thấy cuốn Thánh Kinh Công Giáo bằng Anh ngữ để sẵn trên bàn khách sạn tại Mĩ? Bao giờ mới thấy cuốn Thánh Kinh Công Giáo tiếng Việt phát miễn phí cho người Việt nào muốn có, mà không có tiền?

Nếu hai công ti hoặc tổ chức muốn có sự tái hợp tác, họ phải tiến hành thế nào? Người viết cho rằng nếu chưa có đủ những đề nghị cụ thể của một bên, để bên kia cứu xét hầu có thể đi tới quyết định, thì không đi tới đâu cả. Như vậy, sau những bước thăm hỏi và dò dẫm, một bên bày tỏ bằng văn bản như muốn bên kia làm việc ở đâu, làm việc thế nào, giờ giấc làm việc, thành phần làm việc của bên kia, thù lao cho công việc, sao đi tới quyết định chung. Trong lúc còn thương lượng, nếu một bên cứu xét những đề nghị của bên kia lần đầu mà không đáp ứng được, thì đến lần sau, hoặc lần sau nữa cho tới khi cà hai bên cùng ưng thuận, thì mới vui vẻ ‘cả làng được’. Còn khi bên nọ gặp bên kia mà đặt những câu hỏi chung chung quá, như còn dò dẫm, thì bên liên hệ cũng khó trả lời vì không nắm đủ dữ kiện của bên kia để cứu xét và quyết định. Nếu như vậy, thì kết quả sẽ không đi đến đâu cả.

Đến một thời điểm nào đó, khi hoàn cảnh cho phép và với phương tiện có thể, người ta có thể hi vọng đến thời kì mà Uỷ Ban Thánh Kinh và Uỷ Ban Giáo Lí Đức Tin nữa, thuộc Hội Đồng Giám Mục VN cũng có thể đầu tư vào NPD bằng cách ủy thác cho NPD soạn thảo sách giáo khoa giáo lí, dựa vào Sách Giáo Lí của Giáo Hội Công Giáo cho mỗi lớp học giáo lí với những câu truyện Thánh Kinh và hình ảnh hí hoạ. Nếu được như vậy, thì ý kiến của người viết là NPD cần tuyển mộ những thành viên có tài kể chuyện và thành viên hội hoạ để làm việc này. Hiện tại, với hai thành viên linh mục triều kể là sáng giá trong NPD, gắn bó với Nhóm và gần gũi với Nhóm, đã ra đi vĩnh viễn, người viết thiết tưởng NPD nên tuyển mộ mấy thành viên linh mục triều vào Nhóm cho quân bình và cũng để cho Nhóm lên tinh thần.

Tại những quốc gia khác như Hoa Kì, học sinh phải học hết lớp 8 mới được lãnh Bí Tích Thêm Sức. Nếu học sinh học trường Công Giáo thì dĩ nhiên có giờ học giáo lí hàng tuần. Còn học sinh học trường công thì đến nhà thờ học giáo lí vào tối ngày thường hoặc cuối tuần, mỗi tuần hơn một giờ. Học sinh học trường công mà đến nhà thờ học giáo lí cũng phải học tới lớp 8 mới được lãnh Phép Thếm Sức đấy. Có những phụ huynh muốn đi đường tắt, không chịu gửi con đến nhà thờ học giáo lí, mà cứ đợi con học đến lớp 8, mới gửi con đến nhà thờ học giáo lí, với hi vọng con mình được lãnh Bí Tích Thêm Sức. Trường hợp này những học sinh đó phải học giáo lí bù lại rồi mới được lãnh nhận Bí Tích Thêm Sức vào những năm sau đó, chứ không dễ dàng vậy đâu. Sau khi học sinh lãnh Bí tích Thêm Sức, giáo xứ còn mở lớp giáo lí cho lớp 9, 10, 11 và 12 nữa. Như vậy cho thấy rằng những năm học giáo lí/Thánh kinh của học sinh Mĩ, nhiều hơn gấp bội những năm học giáo lí của học sinh Việt Nam. Thánh Giê-rô-ni-mô, người đầu tiên dịch Thánh Kinh sang tiếng La-Tinh tại chính Hang Đá Bê-lem quả quyết: “Không biết Thánh Kinh là không biết Đức Kitô”.

Trong cuốn kỉ yếu: “40 Năm Hiện Diện” của NPD, có một bài viết của một linh mục thành viên mà người viết gọi là Lm X #1 kể lại có nghe được những lời phê bình NPD là: “kiêu ngạo, ham tiền, thiếu tinh thần hợp tác”. Trong một bài khác, một phóng viên báo “Diễn Đàn Giáo Dân” nói có nghe một nguồn tin cho rằng NPD “giàu lắm, thù lao các thành viên hẳn rất cao”, Lm X #1 trả lời là NPD tậu mãi được căn nhà 8m x 16m gồm một tầng trệt và 6 tầng lầu ở Quận 3 nhờ một số ân nhân giúp đỡ để làm trụ sở. Lm X #1 kể khá chi tiết, nhưng được tóm tắt rất gọn ở đây. Lm X #1 còn kể NPD sỡ hữu 18 mẫu cao su ở Bình Dương do Lm X #1 đứng tên chủ đất, chủ nhà và điều hành công việc tại Trụ Sở NPD. Để trả lời một lời đồn thổi cho rằng lương thành viên chắc phải cao lắm, Lm X #1 trả lời NPD dùng 8% tiền bán sách của Liên Hiệp Thánh Kinh Hội giúp, để giúp trang trải chi phí và thù lao mỗi tháng cho mỗi thành viên “tương đương 100 mĩ kim, nhưng chỉ lãnh 50 mĩ kim, còn lại 50 mĩ kim thì sau mỗi 6 tháng mới được lãnh”.

Bài viết còn ghi mỗi thành viên phải kí vào tờ cam kết là khi không còn hoạt động trong NPD, thì “không đòi hỏi bất cứ một quyền lợi vật chất nào”. Bài viết có ghi: “Lời cam kết này có nghĩa là tài sản trên đây của chúng tôi mãi mãi sẽ được dùng để phục vụ Giáo Hội”. Người viết giả sử tới khi nào đó mà có sự tranh chấp về tài sản của NPD, mà Nhóm không có di chúc nào khác, và người viết là quan toà xử, người viết sẽ coi lời cam kết trên là lời di chúc công khai của Nhóm nói chung và của Lm X #1 nói riêng. NPD có thể hỏi tổ hợp luật sư xem sao. Độc giả cũng có thể đọc thêm bài viết: “Tại sao cần làm di chúc và làm di chúc thế nào” trong www.mucvuvanbut.net dưới mục: “Bài viết của tác giả trang Chủ”, phóng lên 2015-07-03. Để độc giả có thể thấy sơ qua về hoạt động của NPD, người viết cho ghi dịa chỉ của NPD: www.kinhthanhchomoinguoi.org hoặc vắn tắt là: www.ktcmn.org với sự ưng thuận của Nhóm.

Mỗi người có lối viết văn khác nhau. Khi đã có kinh nghiệm viết lách, thì không ai muốn bắt chước ai. Nhận thấy Lm X #1 có lối viết văn thẳng thừng, nghĩa là nói toạc ra cho những bài viết cần "nói toạc móng heo ra". Có lẽ sau mấy bài viết của Lm X # 1 về lai lịch, hoạt động của Nhóm, tài sản của nhóm, thù lao cho thành viên của Nhóm, tương lai của Nhóm với những câu trả lời thẳng thừng của Lm X #1, người ta sẽ ít nghe dần đi những lời đồn thổi về NPD và Nhóm cũng không còn phải e dè về những lời dị nghị nữa.
Hạt Phú Thọ: GĐ Phạt Tạ Thánh Tâm hành hương Năm Thánh
Văn Minh28/05/2016
Hạt Phú Thọ: GĐ Phạt Tạ Thánh Tâm Hành hương Năm Thánh

ĐTC Phanxicô đã công bố Năm Thánh ngoại thường “Lòng Chúa thương xót” để mọi tín hữu khi đi Hành hương được bước qua cửa Thánh để được nghe Lời Chúa dạy dỗ, nhận biết tình thương của Ngài bày tỏ cho mỗi người chúng ta. Để rồi chúng ta cũng biết mở rộng lòng mình đến cho mọi người.

Xem Hình

Trên đây là lời chia sẻ của cha Anphongsô Hoàng Ngọc Bao, chánh xứ giáo xứ Bắc Hà trong buổi Hành hương cùng GĐPTTT hạt Phú Thọ diễn ra lúc 8 giờ sáng thứ Sáu ngày 27.05.2016, tại giáo xứ Hòa Hưng số: 104 Tô Hiến Thành, phường 15, quận 10, TPHCM.

Tham gia buổi Hành hương có quý vị đại diện BCH các cấp và quý đoàn viên GĐPTTT xứ đoàn Hòa Hưng, Bắc Hà, Thánh Phaolô, Thánh Giuse, Thăng Long, Phú Hòa, Phú Bình, Vĩnh Hòa, Tân Trang và Tân Phước.

Hướng đoàn viên GĐPTTT tham gia buổi Hành hương được sốt sắng, vị đại diện BCH đã tập hát cho cộng đoàn ngay trước tiền sảnh nhà thờ. Sau đó, quý đoàn viên tiến vào ngôi thánh đường và cùng nhau lần chuỗi kinh Mân Côi Lòng Thương Xót.

Đúng 8g45, cha Giuse Phạm Bá Lãm, hạt trưởng Phú Thọ đã chủ sự dâng Thánh lễ. Đồng tế cùng ngài có cha Anphongsô Hoàng Ngọc Bao, chánh xứ giáo xứ Băc Hà, kiêm linh hướng GĐPTTT hạt Phú Thọ, cha Giuse Vũ Minh Danh, chánh xứ giáo xứ Tân Phước, phó hạt Phú Thọ, cùng một số giáo dân trong giáo xứ Hòa Hưng tham dự.

Sau bài công bố Tin Mừng, cha Giuse Phạm Bá Lãm dựa bài Tin mừng Mc 11,11 – 26 chia sẻ: Lời Thánh Phêrô nói với mỗi người chúng ta, anh em hãy yêu thương nhau, và hãy tin vào Thiên Chúa. Trong dụ ngôn về cây vả trong đoạn Tin Mừng hôm nay, chúng ta nhìn thấy cây cao lá xanh tươi tốt, tuy vậy nó lại không trở sinh được hoa trái. Cũng vậy, trong cuộc sống, có những người Kitô hữu cách sống đạo của họ bên ngoài tưởng chừng là đạo đức thánh thiện, nhưng trong lòng lại không tôn thờ Thiên Chúa một cách đích thực. Nhân dịp Năm Thánh Lòng Chúa Thương xót này, xin cho mỗi đoàn viên GĐPTTT luôn sống theo Tin Mừng như Lời Chúa dạy, không theo bản năng của con người, biết từ bỏ thú vui mau qua nơi trần gian, một lòng tin tưởng vào Thiên Chúa, trong đức tin, đức cậy, và đức mến. Hãy biến đổi tâm hồn mình thành đền thờ cho Chúa ngự trị, hăng say làm việc tông đồ, giúp đỡ cho những người có hoàn cảnh khó khăn và bất hạnh ngay trong gia đình và môi trường xung quanh. Có như vậy, chúng ta mới xứng đáng là những đoàn viên của GĐPTTTCG ngày hôm nay.

Sau phần hiệp lễ, quý đoàn viên cùng nhau đọc một kinh lạy Cha, một kinh tin kính, để được lãnh nhận ơn toàn xá trong Năm Thánh theo lẽ thông thường.

Thánh lễ khép lại lúc 10g30. Sau Thánh lễ, quý vị đại diện cùng quý cha chụp chung tấm hình kỷ niệm, và nhận một phần quà do cha quản hạt trao trước khi ra về.
Phụng Vụ - Mục Vụ
Có những điều lạ mà rất thường. Có những điều rất thường mà lại lạ
Lm. Anphong Nguyễn Công Minh, ofm28/05/2016
LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA.

Có những điều lạ mà rất thường. Có những điều rất thường mà lại lạ

1. Có những điều lạ mà rất thường

Palestine là vùng đất hiện vẫn còn rất đông người gia nhập Hồi giáo sinh sống. Một hôm nọ có một giáo sĩ lãnh tụ một cộng đoàn Hồi giáo, mời một linh mục Công Giáo công khai tranh luận trước sự hiện diện của tín hữu hai bên về bí tích Thánh Thể.

Ông thầy hỏi : “Làm sao mà một miếng bánh lại có thể trở thành thịt Đức Kitô được ?" Vị linh mục trả lời: "Được chứ sao lại không được. Tôi xin chứng minh cho thầy biết bằng một thí dụ đơn sơ này, nếu thầy ăn bánh, thầy có thể biến miếng bánh ấy thành thịt của thầy, có thật thế không nào? Chớ tại sao Chúa lại không khiến tấm bánh nhỏ thành thịt của Đức Kitô được?

Vị Thầy đó lại hỏi tiếp: “Mà làm sao Đức Giêsu to lớn như thế lại có thể ở trong miếng bánh nhỏ xíu thế kia ?" Linh mục trả lời: "Thầy hãy nhìn trời, nhìn núi non và làng mạc thành thị xem. Bầu trời mênh mông bát ngát, núi non cao lớn hùng vĩ, thành thị và làng mạc rộng rãi bao la có phải thế không? Thế mà con mắt nhỏ xíu của thầy có thể chứa được tất cả. Nếu con mắt của Thầy làm được chuyện đó thì làm sao Thiên Chúa lại không thể cho miếng bánh nhỏ xíu chứa đựng được Chúa Kitô ".

Vị thầy không chịu thua lại hỏi thêm: Tại sao có thể cử hành nhiều thánh lễ cùng một lần tại nhiều nơi trên thế giới, mà mỗi thánh lễ lại có Mình và Máu Đấng Thiên Chúa của quý vị được?" Vị linh mục đáp: “Đối với Thiên Chúa không có gì là không thể làm được". Rồi như để chứng minh cho câu trả lời này một cách cụ thể hơn, vị linh mục lấy một tấm gương ném xuống nền đá khiến nó bể tan thành rất nhiều mảnh nhỏ. Tiếp đến, cha giơ tay chỉ cho thầy đang trố mắt ngạc nhiên, và nói: “Trước đây trong tấm gương này, thầy trông thấy gương mặt mình có phải không nào? Và bây giờ Thầy cũng trông thấy gương mặt mình trong nhiều mảnh kiềng nhỏ, có phải vậy không? Thế thì tại sao Thiên Chúa lại không thể hiện diện tại nhiều nơi trong cùng một lúc được? "

Cuộc tranh luận giữa vị linh mục và thầy Hồi giáo trên đây, có thể giúp chúng ta hiểu một phần nào mầu nhiệm Mình Máu Thánh Chúa mà Giáo Hội cử hành mỗi ngày trong bí tích Thánh thể, và đặc biệt trong lễ mừng kính Mình Máu Thánh Chúa. Thức ăn thức uống thông thường trở nên thịt máu con người.

Quả thật lạ nhưng đâu có lạ gì, khi ta ăn bánh, dẫu là bánh bao bánh ít, bánh bèo, bánh xèo bánh ú, hay sang trọng hơn, và phù hợp hơn : bánh mì, bánh bột mì, thì bánh đó biến thành thịt, thành máu. Bánh thành thịt. Nói hơi khó nghe, cỏ còn biến thành thịt được cơ mà. Con bò ăn cỏ, cỏ khô, biến thành thịt, thịt bò bit tếch thơm phức. Việc đó không lạ sao, vậy mà ta đâu có thấy lạ, trong khi Chúa Giê-su cầm lấy bánh nói: này là Thịt Thầy, thì nhiều kẻ thấy lạ, chói tai, tin không nổi.

Bởi thế, có những chuyện lạ mà ta thấy thường, nhưng cũng có những chuyện thường mà ta nghe lạ.

2. Có những điều rất thường mà sao nghe lạ

Câu nói sau đây nghe rất thường mà lại rất lạ. Một linh mục kể về quãng thơ ấu của mình như sau :

“Hôm nay, tôi bỗng chợt nhớ đến một kinh nghiệm sống trong gia đình và thường được lặp đi lặp lại mãi trong thời gian tôi 5,7 tuổi. Cứ mỗi lần mẹ tôi làm bánh hay cha tôi tát các mương đìa quanh nhà bắt cá thì tôi thèm thuồng ngồi bên nồi bánh vừa chín, hoặc tiếc nuối những con tôm con cá. Thèm thuồng vì rổ bánh chín mà mình muốn ăn nhưng mẹ tôi lại cứ lấy đi phân chia, bảo tôi đem cho người này người nọ, hoặc hối tiếc những con tôm, con cá mà mẹ tôi bắt đem cho các gia đình hàng xóm, những người cần đến. Mỗi lần bảo tôi mang đi cho người khác thì tôi không muốn cho đi, bấy giờ mẹ tôi lại bảo : “Con ạ, mình giữ lại ăn thì hết, mà cho người ta ăn thì còn mãi”. Cái mình ăn sẽ hết, cái người ta ăn thì còn. Tôi không bao giờ quên lời nói đơn sơ này đi kèm với chính hành động chia bánh, chia cá cho những người xung quanh.

Thánh Thể là tấm bánh bẻ ra, để chia sẻ. Trong phép lạ bánh hoá nhiều, Chúa nói : Anh em hãy cho họ ăn.

Không cần phải làm phép lạ cả thể đâu, nhưng cứ chia sẻ, đem cho nhà này, nhà kia ăn đi, là ta đã “cử hành thánh thể,” là tuân hành lệnh Chúa: Hãy làm việc này để nhớ đến Thầy. “Việc này” tức là việc chia sẻ.

Lát nữa đây chúng ta sẽ được ăn thịt Chúa. Một người ngoại giáo đã hỏi một người Công Giáo như sau:

-Có phải các bạn ăn Chúa Kitô không? -Phải

-Vậy tại sao các bạn không nên giống như Chúa ?- Không trả lời.

Khi đi ngang qua trại heo. Người Công Giáo hỏi người ngoại kia: -Có bao giờ chị ăn thịt heo chưa? -Nhiều lần rồi

-Thế sao chị chưa biến đổi thành heo?

Câu chuyện đối đáp cứng cỏi, cho vui, chứ thực ra, heo làm gì có sức mạnh biến ta thành lợn. Nhưng Chúa có sức mạnh đó, miễn là ta cũng muốn nữa.

Câu hỏi của người ngoại “bạn ăn thịt Chúa sao bạn không nên giống Chúa” rất đáng cho ta quan tâm xét mình. Và ta có thể sửa câu nói của Chúa mà không sợ sai ý Chúa : chữa câu “hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” thành “hãy làm việc này (cho ăn cho uống, dự lễ rước lễ, thờ phượng) để trở nên giống Thầy.”

Anphong Nguyễn Công Minh, ofm
Tình yêu làm nên phép lạ
Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng28/05/2016
TÌNH YÊU LÀM NÊN PHÉP LẠ

LỄ MÌNH MÁU CHÚA – NĂM C

“Anh em hãy cho họ ăn”. Tình yêu làm nên phép lạ. Sống trong cuộc đời mà không có tình yêu, thử hỏi có ai có thề sống không? Cứ tưởng tượng, một lúc nào, thế giới hoàn toàn không có chút yêu thương: cha mẹ cũng không, vợ chồng cũng không, bạn hữu cũng không, thầy trò cũng không…

Hoàn toàn thiếu vắng tình yêu, vì thế, đi tới đâu cũng chỉ là bạo hành, chết chóc, là máu, là thù, là hận…, Một thế giới như thế không thể tưởng tượng nỗi. Chắc chắn không còn là thế giới loài người.

Bởi đó, tình yêu là cần thiết, tối cần thiết. Có yêu thương, có lòng mến, mỗi tuần, thậm chí mỗi ngày, ta mới đều đến nhà thờ để lắng nghe Lời Chúa, chấp nhận lời rao giảng của vị đại diện Hội Thánh, do sứ mạng đòi buộc mà vị ấy phải thi hành.

Cũng vậy, trong đời thường, có yêu mới có sự thân thiện, có tình người, có đồng cảm, có san sẻ, dẫu rằng san sẻ cho nhau vật chất: người này thiếu thốn, người kia giúp đỡ, hay là san sẻ cho nhau vui buồn của cuộc đời, san sẻ cho nhau sự thông cảm, sự suy nghĩ, kiến thức…, nhiều lắm.

Làm được tất cả những điều đó, đòi phải có tình yêu. Nếu cuộc đời không có yêu thương, con người không sống nổi. Chính tình yêu làm cho cuộc sống tươi hơn, dễ mến hơn. Nói theo kiểu ngụ ý một chút, yêu thương để người này sống với người kia “dễ thở” hơn.

Tình yêu làm nên phép lạ. Và phép lạ là chính lúc người ta thực hiện yêu thương.

Hôm nay lễ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu, chúng ta suy niệm câu chuyện Tin Mừng kể lại việc Chúa làm phép lạ từ năm cái bánh và hai con cá nuôi năm ngàn người, không kể đàn bà, trẻ con. Họ ăn no mà vẫn dư.

Chúa làm phép lạ đâu phải làm cho vui, chắc chắn không làm để phô diễn tài năng, càng không phải để người ta tôn vinh, khen ngợi. Chúa làm phép lạ chỉ vì một động cơ duy nhất, đó là lòng yêu thưong.

Sau một ngày theo Chúa, dân chúng đói, Chúa thương họ vất vả nhiều, nên đã cho họ bánh ăn. Hãy nhớ một điều Chúa dạy trước khi làm phép lạ: “Các con hãy cho họ ăn”. Bạn và tôi hãy cho họ ăn. Cho những người đang cần ta cứu giúp, những người cậy nhờ ta, cần lòng yêu thương của ta.

Mệng lệnh “Các con hãy cho họ ăn ” chính là mệnh lệnh đòi ta phải yêu thương anh chị em quanh mình. Có yêu thương mới có rộng lòng, có san sẻ, chia sớt. Phép lạ mà mỗi một người làm được là ở điểm ấy. Ngay chính tình yêu, và ngay chính lúc người ta yêu thương nhau đã là phép lạ.

Nhưng Chúa Giêsu không đừng lại ở lời dạy, không dừng ở chỗ cho bánh, cho cá. Khi suy niệm mầu nhiệm Thánh Thể, tôi thấy trong nghĩa cử hiến mình, và tự hiến hoàn toàn của Chúa Giêsu, không chỉ là một tình yêu tuyệt đỉnh của một vì Thiên Chúa hạ thân để thành bánh nuôi trần gian.

Điều ấy đã là đáng quí, đáng tôn thờ. Nhưng trong bí tích Thánh Thể, tình yêu tuyệt đỉnh đạt đến vô cùng còn là hành động thúc đẩy mạnh: “Anh em hãy cho họ ăn”.

Bởi trong bí tích Thánh Thể, bí tích của tình yêu, đòi từng người hãy yêu. Yêu quên mình. Yêu hiến mình vì người mình yêu. Chính tình yêu làm nên phép lạ. Bí tích Thánh Thể là phép lạ cả thể để Thiên Chúa mãi mãi ở với loài người.

Cho nên sống bí tích Thánh Thể là sống tình yêu. Mà tình yêu được Chúa nhắn nhủ bằng những lời rất gọn: “Hãy cho họ ăn”. Cho họ ăn cái gì? Cho bánh, cho cá, cho lương thực, cho niềm vui, cho lời an ủi, cho một cái bắt tay chan thành, cho lòng cởi mở, cho sự tha thứ…

Hãy cho đi. Chỉ cần tình yêu là có thể cho. Chính tình yêu làm nên phép lạ của sự cho đi. Do đó hãy yêu. Yêu như Thầy Chí Thánh đã từng yêu. Chỉ có tình yêu mới làm nên phép lạ.

LmJB. NGUYỄN MINH HÙNG