Tin Giáo Hội Hoàn VũChọn ngày khác
Điểm chung của hai Đức Gioan XXIII và Gioan Phaolô II: phá sập các bức tường
Vũ Văn An24/04/2014
Để phong hiển thánh cho Đức Gioan XXIII và Đức Gioan Phaolô II cùng một lúc, Đức Phanxicô đã không ngần ngại bỏ qua thủ tục phong hiển thánh bằng cách không chờ đợi việc xác nhận phép lạ thứ hai nhờ lời cầu bầu của Đức Gioan XXIII. Và chắc chắn đây là hành động đúng. Dĩ nhiên, Đức Gioan XXIII và Đức Gioan Phaolô II có nhiều điều khác nhau, nhưng các ngài cũng có nhiều điểm chung với nhau. Không có Đức Gioan XXIII, có lẽ sẽ không có Đức Gioan Phaolô II. Việc cùng một lúc phong hiển thánh cho hai ngài làm chứng cho sự kiện này: Giáo Hội là một định chế luôn cần được cải tổ (campagna semper reformanda) như Đức Bênêđíctô XVI quen nhấn mạnh. Đồng thời việc này cũng cho thấy mọi mảng lịch sử của định chế này đều được liên kết với các mảng khác, như các mảnh ăn khớp với nhau trong trò chơi đố ghép (puzzle).

Hai vị cùng sẽ được phong hiển thánh vào ngày 27 sắp tới có gì chung với nhau? Trước hết, hai vị đều là giáo hoàng, các giáo hoàng thánh thiện. Các ngài sống thực một cách sâu sắc nền linh đạo linh mục của mình, như khẩu hiệu giám mục của các ngài cho thấy. Đức Gioan XXIII chọn khẩu hiệu «Oboedientia et Pax» (Vâng Lời Và Bình An); Đức Gioan Phaolô II thì chọn khẩu hiệu «Totus tuus» (Tất Cả là Của Mẹ), đặt trọn niềm tin nơi Thánh Nữ Đồng Trinh Maria.

Nhưng cuộc sống của các ngài có khác nhau. Đức Gioan Phaolô II mất mẹ trước khi rước lễ lần đầu và mất cha lúc 21 tuổi, sống ơn gọi linh mục trong tư cách một cha xứ và sau đó là giám mục tại Ba Lan. Đức Gioan XXIII được dưỡng dục trong một gia đình đông người, được Tòa Thánh phái tới Thổ Nhĩ Kỳ, Bảo Gia Lợi và Pháp làm khâm sứ rồi sứ thần. Công việc ngoại giao đã rèn nên đức tin và viễn ảnh của ngài về Giáo Hội. Một Giáo Hội có tính bao gồm, đại kết và đối thoại với thế giới. Bài giảng Lễ Chúa Thánh Thần tại Thổ Nhĩ Kỳ năm 1944, tức thánh lễ cuối cùng của ngài tại đó trước khi qua Bảo Gia Lợi, là một điền hình sống động cho thấy tư tưởng của Đức TGM Angelo Giuseppe Roncalli. Ngài nói rằng các Kitô hữu thuộc mọi nhóm tuyên tín rất thích phân biệt họ với những nhóm không tuyên xưng cùng một đức tin như họ, bất kể đó là “người Chính Thống, người Thệ Phản, người Do Thái, người Hồi Giáo, người tin hay người không tin”. Nhưng theo ngài, cho dù “sự đa dạng về sắc tộc, ngôn ngữ, giáo dục, hay các dị biệt đau thương của một quá khứ buồn thảm có giữ chúng ta xa cách nhau đi chăng nữa, dưới ánh sáng Tin Mừng, ta nhận thấy Chúa Kitô đã đến phá sập các bức tường; Người chết để công bố tình huynh đệ phổ quát của chúng ta; tâm điểm giáo huấn này chính là tình yêu nối kết mọi người với Người như là anh cả của các em, và nối kết Người và chúng ta với Chúa Cha”.

Phá sập các bức tường

Hãy phá sập các bức tường: những lời này chính là lệnh tiến bước, hơn bất cứ điều gì khác, vốn nối kết hai vị giáo hoàng thánh thiện này. Cố gắng đại kết đã được Đức Gioan Phaolô II thúc đẩy mạnh mẽ; ngài đã vượt quá ngoại giao để chủ trương nhiều cử chỉ tiên tri khi đương đầu với nền chính trị tôn giáo. Khi tới Hy Lạp năm 2001 trong tư cách vị giáo hoàng đầu tiên tới đó trong 1281 năm, ngài bình thản lắng nghe một danh sách dài gồm tới 13 lời kết án về 13 thứ tội mà người Chính Thống Hy Lạp không ngần ngại nói lên để chống lại Giáo Hội Công Giáo. Sau đó, ngài ngỏ lời xin lỗi về những sai lầm đã phạm. Sau cùng, trong một cuộc gặp gỡ lịch sử tại Areopagus, ngài khẳng định với TGM Christodoulos sự cam kết chung trong việc bảo vệ nguồn gốc Kitô Giáo của Âu Châu. Sau đó, phá bỏ sự cấm kị không cầu nguyện chung giữa Chính Thống và Công Giáo, ngài đã đọc kinh Lạy Cha với TGM Hy Lạp.

Đức Gioan XXIII cũng đã bắt đầu phá sập bức tường vô hình của Bức Màn Sắt khi Liên Bang Xô Viết cảm nhận những vết nứt đầu tiên của nó. Năm 1961, Tổng Bí Thư lúc đó của Đảng Cộng Sản Nga là Nikita Krushchev đã thực hiện biến chuyển đầu tiên trong việc thiết lập truyền thông với Đức Giáo Hoàng bằng cách gửi thông điệp chúc mừng sinh nhật thứ 80 của Đức Gioan XXIII. Đức Giáo Hoàng đã hồi âm, và thế là một ngả tiếp xúc bán chính thức đã được mở ra. Khi cuộc khủng hoảng hỏa tiễn ở Cuba nổ ra năm 1962, Đức Gioan XXIII là thế giá tinh thần duy nhất được cả đôi bên đối nghịch nhìn nhận. Các nhận định công khai của ngài, được chính ngài viết lại gần như hoàn toàn, đã được nhật báo Pravda, tiếng nói của Cộng Sản, đăng tải. Nhờ thế cuộc khủng hoảng hỏa tiễn đã được vượt qua.

Pacem in terris: dấu chỉ thời đại

Thành quả của sáng kiến trên đã thuyết phục Đức Gioan XXIII viết thông điệp Hòa Bình Trên Trái Đất. Xây dựng trên sự thật, nhân phẩm, tự do và tự do tôn giáo như bốn cột trụ, thông điệp này là mục tiêu viễn tưởng của Đức Gioan XXIII, và hiện nay vẫn còn hợp thời. Đức Gioan XXIII muốn thông điệp này được viết theo lối cách tân. Làm nền tảng cho thông điệp này là dấu chỉ thời đại, niềm khát mong có nhân phẩm của con người, tự do và hòa bình. Từ viễn tượng này, trọn bộ các khát vọng của con người đều được nhìn dưới ánh sáng Tin Mừng, và các cố gắng để thể hiện chúng đã tạo ra việc theo đuổi nền nhân bản toàn diện, một nền nhân bản sẽ trở thành lệnh tiến bước của Đức Phaolô VI.

Lần đầu tiên trong lịch sử, một thông điệp đã không dựa vào mạc khải mà là dựa vào các dấu chỉ của thời đại. Phương pháp qui nạp này sau đó sẽ được áp dụng vào hiến chế mục vụ “Vui Mừng Và Hy Vọng” của Công Đồng Vatican II.

Hào quang của “Hòa Bình Trên Trái Đất” cũng đã làm say mê một giám mục trẻ lúc đó đang tham dự Công Đồng Vatican II, Đức Cha Karol Wojtyla. Vị giám mục này từng kinh qua chủ nghĩa Quốc Xã và chủ nghĩa Cộng Sản, hai hình thức toàn trị lúc ấy đang rúng động Âu Châu. Việc ngài chống lại mọi hình thức toàn trị đã dẫn tới chủ trương triệt để chống mọi chế độ cộng sản của ngài. Ngài chống đối chúng không qua việc trực tiếp phản đối hay tấn công trực diện. Thay vào đó, ngài chăm dưỡng giới trẻ, giáo dục họ về ý nghĩa của tự do và nhân phẩm. Đây là một nền nhân bản cứu thế giới.

Bình thường hóa quan hệ

Đức Cha Wojtyla là một trong các vị tích cực nhất trong việc soạn thảo văn kiện “Dignitatis humanae” của Công Đồng. Văn kiện này là khí cụ cực kỳ có giá trị đối với mọi giám mục đang ở bên kia bức Màn Sắt, là những vị lấy hứng từ nó mà tổ chức ra mặt trận chống đối cách âm thầm. Đức Cha Wojtyla liên kết việc bảo vệ nhân phẩm với ý niệm quốc gia, một ý niệm ngài coi như tương phản với ý niệm nhà nước.

Trong khi ấy, điều gọi là Bình Thường Hóa Quan Hệ (Ostpolitik) của Vatican bắt đầu được khởi động. Đức HY Agostino Casaroli được phái tới các nước ở bên kia bức Màn Sắt, thoạt đầu bởi Đức Gioan XXIII, sau đó bởi Đức Phaolô VI. Ngài đã khởi diễn một cuộc đối thoại đầy khó khăn, bằng một chính sách “hết bước này tới bước khác” mà chính ngài định nghĩa là “tử đạo bằng kiên nhẫn”. Ngài xây dựng được các mối liên hệ dẫn tới việc giảm nhẹ các điều kiện khắt khe vốn được các chế độ cộng sản áp đặt lên Kitô hữu.

Khi được bầu làm giáo hoàng, Đức Gioan Phaolô II đã chọn Đức HY Casaroli làm Quốc Vụ Khanh. Chủ trương mạnh mẽ của Đức Giáo Hoàng về tự do và nhân phẩm đã khơi lên nhiều khát vọng nơi những người đang sống tại các nước thuộc Hiệp Ước Warsaw. Cùng một lúc, nền ngoại giao của Đức HY Casaroli vẫn duy trì liên hệ với các nước Cộng Sản dữ dằn nhất, đem lại cho chủ trương của Đức Giáo Hoàng nhiều hỗ trợ có tính bảo vệ.

Trong khi ấy, Đức HY Paul Poupard, Quốc Vụ Khanh dưới thời Đức Gioan XXIII và Đức Phaolô VI, được Đức Gioan Phaolô II cử đứng đầu Văn Phòng Người Vô Tín Ngưỡng, và trong khả năng này, ngài đã khởi diễn cuộc đối thoại văn hóa với các nhà triết học và trí thức của các nước ở bên kia bức Màn Sắt.

Một bên là chủ trương của Đức Gioan Phaolô II; một bên là nền ngoại giao của Đức HY Casaroli. Ở hậu cảnh, là cuộc đối thoại văn hóa. Chính đó là lý do làm cho một bức tường khác bị phá sập, đó là bức tường Bá Linh. Các hình ảnh bức tường sụp tượng trưng cho sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản Âu Châu và sự chiến thắng của người Công Giáo.

Nếu không có Đức Gioan XXIII, thì không điều gì kể trên có thể diễn ra. Vị “giáo hoàng mục tử” Gioan XXIII quả là một nhà ngoại giao tinh tế. Từ triều giáo hoàng của ngài trở đi, ảnh hưởng của Tòa Thánh trên vũ đài quốc tế đã gia tăng đáng kể.

Đức Gioan Phaolô II tiếp nối di sản trên. Ngài thường hay thách thức Liên Hiệp Quốc, khi nói tới tự do tôn giáo tại Trụ Sở LHQ ở New York. Ngài cũng phê phán ý thức hệ phái tính và ý niệm y tế sinh sản (reproductive health) của các hội nghị Cairo và Bắc Kinh thập niên 1990. Trong khi đó, các nhà ngoại giao của Vatican, những người đầy kỹ năng và tinh tế, đã khôn khéo lồng ý niệm phát triển nhân bản toàn diện, như một thứ “vi khuẩn tích cực”, vào các văn kiện quốc tế.
Thí dụ, trong văn kiện của LHQ công bố năm 1985.

Cùng một phương pháp: đối thoại

Sau cùng, cả Đức Gioan XXIII lẫn Đức Gioan Phaolô II đều theo cùng một phương pháp, bao gồm việc đối thoại với thế giới và hành động. Trong một nhận định ngoài bản văn soạn sẵn đề cập tới việc do đâu ý niệm Ngày Giới Trẻ Thế Giới đã phát sinh, Đức Gioan Phaolô II cho thấy phương pháp này đã được thi hành ra sao: “Đó là năm 1984, người bạn lớn của chúng ta là Liên Hiệp Quốc đã thiết lập ra Năm Giới Trẻ. Họ công bố, họ đưa ra kế hoạch. Chúng tôi thực hiện kế hoạch ấy!”.

Tính tự phát này đã phá sập các bức tường. Đức Gioan XXIII mở cánh cửa đưa vào Công Đồng Vatican II bằng cách mở chiếc cửa sổ tại Tông Dinh vào ngày 11 tháng 10, năm 1963, để giảng bài giảng nổi tiếng của ngài về mặt trăng, yêu cầu người ta “vuốt ve con cái họ”. Đức Gioan Phaolô II cũng mở một chiếc cửa sổ cho người ta thấy họ có thể chờ mong chi ở triều giáo hoàng của ngài trong Thánh Lễ khai mạc thừa tác vụ Phêrô: “Hãy mở rộng các cửa ra vào cho Chúa Kitô. Hãy mở rộng các biên giới Nhà Nước, các hệ thống kinh tế và chính trị, những lãnh vực mênh mông của văn hóa, văn minh và phát triển cho sức mạnh cứu rỗi của Người. Đừng sợ hãi. Chúa Kitô biết rõ “trong con người có gì”. Chỉ một mình Người biết điều ấy”.
Đức Bênêđictô XVI tuyên bố : Ngay lúc sinh thời, tôi đã biết chắc rằng Đức Gioan Phaolô II là một vị thánh.
Trần Mạnh Trác24/04/2014


Rome, Ý, ngày 23 tháng tư 2014 (CNA) -. Trong một cuộc phỏng vấn hiếm hoi, Đức Thánh Cha Benedict XVI nhắc lại tình bạn thân thiết của mình với Chân Phước Gioan Phaolô II, và nói rằng cuộc sống của Ngài nói lên sự thánh thiện và một nền tâm linh sâu đậm.

" Trong những năm mà tôi được cộng tác với Ngài, đối với tôi thì thật là rõ ràng hơn bao giờ hết rằng Đức Gioan Phaolô II là một vị thánh, " Đức Thánh Cha Benedict XVI nói với nhà báo Ba Lan Wlodzimierz Redzioch trong một cuộc phỏng vấn, được công bố ngày 20 tháng 4 trên tờ báo " La Razon " ở Tây Ban Nha

"Dĩ nhiên, mối quan hệ nồng nhiệt cuả Ngài với Thiên Chúa, sự đắm chìm trong sự hiệp thông với Thiên Chúa, phải được kể là việc cao trọng hơn hết, " vị cựu Giáo Hoàng nói.

Đức Thánh Cha Benedict XVI, từng phục vụ là tổng trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin dưới triều Giáo hoàng Gioan Phaolô II, cho biết vị Giáo hoàng người Ba Lan đã can đảm " chấp nhận nhiệm vụ của mình trong một thời buổi thực sự khó khăn. "

"Đức Gioan Phaolô II đã không đòi hỏi người ta tán thưởng và cũng không lo lắng nhìn xung quanh để xem quyết định của Ngài được chấp nhận ra sao. Ngài hành động dựa trên đức tin và niềm xác tín của Ngài, và Ngài cũng sẵn sàng để bị phê bình, " Đức Thánh Cha Benedict kể lại. " Sự dũng cảm cho sự thật, theo quan điểm của tôi, là thước đo chính của sự thánh thiện. Chỉ cần nhìn vào mối quan hệ của Ngài đối với Thiên Chúa là có thể hiểu được sự quyết tâm không bao giờ sờn cho việc mục vụ của Ngài. "

Trong ý nghĩa ấy, Đức Benedict nhắc lại quyết định của vị thánh tương lai khi phải đối đầu với sự lây lan của nền thần học giải phóng ở châu Mỹ Latinh.

" Ở cả hai bên Châu Âu và Bắc Mỹ, quan điểm chung là nền thần học giải phóng có mục đích hỗ trợ người nghèo và do đó nó là một nguyên lý cần phải được hoàn toàn chấp nhận. Nhưng đó là một lỗi lầm. Cái nghèo và người nghèo tuy rõ ràng đã được Thần học Giải phóng đề cập tới, nhưng là qua một quan điểm rất cụ thể (khác với Công Giáo), " Đức Thánh Cha Benedict XVI giải thích.

Thần học giải phóng sử dụng và chuyển đổi đức tin Kitô giáo " thành một loại lực lượng chính trị. Truyền thống của đức tin tôn giáo được dùng để phục vụ hoạt động chính trị. Vì thế, đức tin bị tha hoá một cách sâu sắc và tình yêu đích thực cho người nghèo do đó cũng bị suy yếu đi. Do đó thật là cần thiết phải phản đối một loại đức tin giả mạo như thế, (sự phản đối như vậy) chính là vì tình yêu và sự phục vụ cho người nghèo, " Ngài tiếp tục.

Tình hình ở Ba Lan là nơi sinh quán cuả Đức Gioan Phaolô II - lúc đó đang bị chủ nghĩa cộng sản cai trị - " đã cho Ngài (đức Gioan Phaolo) thấy rằng Giáo Hội thực sự nên có hành động cho tự do và sự giải phóng, không phải bằng chính trị nhưng bằng cách làm thức tỉnh con người, thông qua đức tin, để tạo thành những lực lượng giải phóng đích thực, " Đức Thánh Cha Benedict XVI nói.

Trong cuộc phỏng vấn, Đức Benedict nhấn mạnh rằng cái danh dự được cộng tác với Đức Gioan Phaolô II "đã luôn luôn đánh dấu bằng tình bạn và sự thân ái, " trên cả hai lãnh vực công cũng như tư. " Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II rất rành rõi về văn học đương đại của nước Đức và thật là một điều tốt đẹp ( cho cả hai chúng tôi ) đã có một sự tâm đầu ý hiệp về những điều này, " Ngài nói.

Đức Thánh Cha Benedict XVI nhắc lại rằng mỗi thứ Ba, cả hai sẽ thảo luận về giáo lý cho buổi triều kiến chung hôm thứ Tư. " Thông qua việc giảng dạy, Đức Giáo Hoàng đã quyết định sẽ có thể cung cấp một nền giáo lý sau một thời gian. Ngài chọn chủ đề và cho chúng tôi chuẩn bị một bản yếu lược ngắn gọn để có thể phát triển thêm sau này (.. . ). ở Đây Đức Giáo Hoàng đã tỏ ra cách rõ ràng là Ngài có một trình độ và thẩm quyền thần học. Nhưng đồng thời tôi ngưỡng mộ Ngài về việc Ngài sẵn sàng học hỏi thêm. "

Đức Thánh Cha Benedict cũng nhắc tới ba thông điệp đặc biệt quan trọng " cuả Đức Gioan Phaolô II. Đầu tiên là " Redemptor hominis ", trong đó Ngài trình bày một tổng quan cuả Ngài về đức tin Kitô giáo. Thứ hai là " Redemptoris mission", trong đó Ngài đã phác hoạ " các mối quan hệ giữa đối thoại liên tôn và nhiệm vụ truyền giáo. " Thứ ba là " Veritatis splendor, " trong đó Ngài đề cập đến nhiều vấn đề đạo đức mà cho tới ngày hôm nay vẫn tiếp tục còn có ý nghiã.

" Các thông điệp " Fides et ratio" cũng rất đáng kể, trong đó Đức Giáo Hoàng (Gioan Phaolô II ) cố gắng đưa ra một tầm nhìn mới về mối quan hệ giữa đức tin Kitô giáo và lý lẽ triết học. Và cuối cùng, không thể không đề cập đến ' Evangelium vitae, " đã phát triển thành những chủ đề cơ bản nhất của toàn bộ triều đại giáo hoàng của Đức Gioan Phaolô II: phẩm giá (không thể hiểu thấu được) của sự sống con người, kể từ lúc thụ thai, " Đức Thánh Cha Benedict XVI nói thêm.

Đức Thánh Cha Benedict cũng cho biết tâm linh của vị tiền nhiệm có một đặc trưng " là cường độ của sự cầu nguyện, bắt nguồn sâu sắc trong việc cử hành Bí Tích Thánh Thể. "

" Tất cả chúng ta đều nhận thức rằng Ngài có một tình yêu tuyệt vời dành cho Mẹ Thiên Chúa. 'Tất cả là cuả Mẹ' có nghĩa là, cùng với Mẹ, hoàn toàn mọi sự là cho Chúa. Cũng như Đức Maria đã không sống cho chính mình nhưng cho Chuá, vì vậy Ngài cũng đã học từ Mẹ và cùng Mẹ Ngài đạt tới sự hiến thân toàn vẹn và nhanh chóng với Chúa Kitô. "

" Những kỷ niệm của tôi với Đức Gioan Phaolô II là đầy ắp với lòng biết ơn. Tôi không thể và cũng không nên cố gắng bắt chước Ngài, nhưng tôi đã cố gắng hết mình để tiếp tục di sản và công việc của Ngài, " Đức Thánh Cha Benedict XVI nói.
Văn Hóa
Bức tranh Phục Sinh ấn tượng nhất.
Trần Mạnh Trác24/04/2014


Từ trước đến nay, sự kiện Phục Sinh đã từng là nguồn cảm hứng cho nhiều danh hoạ bực thầy như Rembrandt, Rubens, Paolo Verones hay Sebastiano Ricci.

Những bức tranh nổi tiếng cuả họ thường diễn tả cảnh huy hoàng lúc Chuá Sống Lại, sự khải hoàn bên trên ngôi mộ trống, sự sững sờ cuả đám quân canh, hoặc niềm vui tột độ cuả bà Madalena.

Ít được biết đến, vì không có hình Chuá, và vì ít được sao chép cho mục đích thờ phượng, nhưng được đánh giá là một kiệt tác có ý nghiã nhất trong các tác phẩm Phục Sinh, đó là tác phẩm cuả một hoạ sĩ Thuỵ Sĩ không mấy tiếng tăm tên là Eugène Burnand. Bức tranh có một cái tên rất dài: "Các môn đệ Phêrô và Gioan chạy đến Mộ lúc buổi Sáng Phục Sinh ", niên lịch năm 1898, đang được lưu trữ tại viện Bảo Tàng Musée d'Orsay ở Paris.

Những ai bỏ công đi tới bảo tàng d'Orsay để chiêm ngắm bức tranh, đều đồng ý là bức tranh đã đánh động tâm hồn họ một cách đặc biệt.

Bức tranh không vẽ cảnh Chuá hiển vinh, chỉ miêu tả hai nhân chứng, một người là tông đồ già nhất và một người là tông đồ trẻ nhất cuả Chuá Giêsu.

Vị tông đồ trẻ, Gioan, là người duy nhất đã có đủ can đảm đi theo chân Chuá cho đến tận đồi Golgotha, và cũng là vị tông đồ duy nhất không phải chết tử vì đạo. Còn vị tông đồ già kia, Phêrô, là người vừa mới chối Chuá nhiều lần vì sợ hãi, nhưng sau cùng thì ông đã chọn việc bị xử tử bằng cách chịu đóng đinh ngược đầu chứ không phủ nhận sự Phục Sinh cuả Chúa Kitô.

Trong bức tranh, Gioan siết tay cầu nguyện trong khi Phêrô áp chặt bàn tay trên trái tim mình. Tóc và áo của hai người bay ngược về phiá sau diễn tả một cuộc chạy bộ vội vàng, nôn nóng để được chứng kiến một sự kiện đã thay đổi cục diện cuả cả Trời lẫn Đất một cách vĩnh viễn.

Tuy chỉ vẽ có hai người, nhưng bức tranh gợi ý đến ba nhân vật khác, Chuá Giêsu, Mẹ Maria và bà Madalena.

Người ta có cảm tưởng bà Mary Madalena đang ở gần bên, đứng ngay cạnh bức tranh. Và hầu như người ta có thể nghe thấy giọng nói hớn hở của bà, chỉ mới vài giây trước đó, đã xông vào nhà của các môn đệ mà báo tin Người đã sống lại.

Hình ảnh cuả Phêrô diễn tả toàn thể mối quan hệ giữa ông với Chuá Giêsu. Đôi mắt ông mở to ẩn chứa một sự hỗn hợp giữa lo âu và hy vọng. Ông đang bị dằn vặt bởi ba lần chối Chuá nhưng đã không đánh mất niềm hy vọng được cứu rỗi. Người ta có thể liên tưởng tới vài ngày sau đó khi Chuá ngồi bên đống lửa và hỏi Phêrô ba lần, " Con có yêu Thầy không ? ", và ba câu trả lời cuả ông đã rửa đi tất cả những tội lỗi quá khứ.

Hình ảnh Gioan với đôi mắt đăm chiêu và thái độ tuân phục nhắc nhở tới những giây phút đau buồn trên núi Sọ vẫn còn chưa vơi trong lòng ông, lúc đó Chuá Giêsu đã hướng về mẹ mình và nhắn nhủ với Gioan rằng "Đây là mẹ con, " và hướng về Gioan mà nói với Mẹ rằng "Đây là con bà." Toàn thể loài người đã được ủy thác cho Mẹ và Mẹ cũng đã nhận loài người làm con cuả mình từ lúc đó.

Bầu không khí khẩn trương cuả hai nhân vật trong tranh cho thấy rằng tuy một Thế Giới mới với một cuộc sống mới đã xuất hiện, nhưng mọi người vẫn còn sống trong lo âu và nghi ngờ vì đó là một bí ẩn vượt quá tầm hiểu biết và sự kiểm soát cuả con ngườì nhỏ bé.

Xét về mặt nghệ thuật, bức tranh "Các môn đệ" cuả Eugène Burnand đã được vẽ trong bối cảnh một nền nghệ thuật mới (thứ Bảy) đang ló dạng, đó là nghệ thuật điện ảnh.

Do đó bức tranh đã mang ảnh hưởng cuả nền nghệ thuật sống động mới này, nhằm để diễn tả hành động, để kể một câu chuyện. Cảnh Phục Sinh cuả ông không mô tả những tĩnh vật như mồ đá đã mở hoặc những gương mặt 'sững sờ' đầy kịch tính, nhưng là diễn tả một cảnh chuyển động với nắng lên, mây bay và những gương mặt biểu lộ một tâm tư sôi nổi.

Tuy thể loại hiện thực cuả Burnand sẽ bị thay thế nhanh chóng bởi nghệ thuật thứ Bảy và không được tiếp đón nồng hậu ở Âu Châu khi đó đang bị rơi vào một nạn 'đói' tâm linh trước những tấn công cuả nhiều lý thuyết vô thần. Tuy nhiên bức tranh cuả Burnand đã đóng góp rất nhiều vào những phong trào 'tái sinh tôn giáo' ở cuối thế kỷ 19 tại Mỹ Châu, đã trở thành rất bình dân trong giới thợ thuyền ở 'Tân Thế Giới'. Họ nhìn thấy hình ảnh cuả chính họ ở nơi hai người thuyền chài nghèo khó đang vội vã, lo lắng nhưng cũng tràn đầy hy vọng và họ sẽ được hớn hở vui mừng, trong một buổi sáng tinh sương cách đây 2000 năm về trước.