Phát biểu của Giám mục Phụ tá Porteous tại Tổng Giáo Phận Sydney- Australia
SYDNEY, Australia (Zenit.org).-Bài phát biểu của Giám mục Phụ Tá Julian Porteus, tổng giáo phận Sydney, hôm 27/5, trong một buổi hội thoại thần học về "Giáo luật Phục vụ các Linh Mục," được Bộ Giáo Sĩ tổ chức
.
* * *
Giải Nhiệm và Thuyên Chuyển một Linh Mục Chính Xứ
Do Giám Mục Phụ Tá Julian Porteous
Sydney
Nhưng suy xét thần học và mục vụ.
Mới xem qua, chủ đề giải nhiệm và thuyên chuyển một linh mục chính xứ không có vẻ thuộc về sự phục vụ một linh mục chính xứ. Giải nhiệm linh mục khỏi nhiệm vụ mục vụ của ngài mà sao gọi là phục vụ ngài?
Nhưng, những giáo luật (Giáo Luậts) liên quan (1740-1752) phải được hiểu vá áp dụng chống lại thực tại thần học và mục vụ rộng rãi hơn của tương quan thích hợp giữa giám mục giáo phận và linh mục chính xứ. Bây giờ tôi sẽ đưa ra một số phương diện quan trọng của mối tương quan này, bằng cách dựa trên những văn kiện Công Đồng Vatican Hai và Tông Huấn hậu thượng hội đồng 2003 của Đức Gioan Phaolô II, "Pastores Gregis."
Theo huấn giáo Công đồng Vatican II, một giáo phận được diễn tả trong các thuật ngữ của những tương quan. Những tương quan liên hệ với chúng ta ở đây là những tương quan giữa giám mục giáo phận, các linh mục chính xứ và dân chúng được ủy thác cho sự chăm sóc mục vụ của các ngài.
Một giáo phận là " một cộng đồng tín hữu được giao phó cho việc châm sóc mục vụ của giám mục giáo phận, với sự trợ giúp của các linh mục" ("Christus Dominus," 11; cũng x. "Pastoes Gregis," 47, và Giáo Luật 369). Tương quan giữa giám mục giáo phận và các linh mục của ngài là để phục vụ các tín hữu. Các Giám mục và linh mục cùng chung chia sẻ trong việc chăm sóc mục vụ của các tín hữu Chúa Kitô và phải cộng tác lo cho lợi ích các linh hồn.
"Với lý do chính đáng Sắc Lệnh công đồng 'Christus Dominus,' khi diển tả Giáo Hội đía phương, định nghĩa nó như là một cộng đồng các tín hữu được giáo phó cho việc chăm sóc mục vụ của một Giám mục 'với sự cộng tác của hàng linh mục.' Trên thực tế, giữa Giám mục và các linh mục của ngài có một 'sự hiệp thông bí tích' do chức linh mục thừa tác hay phẩm trật, chức linh mục này là một sự tham gia trong chức linh mục duy nhất của Chúa Kitô, và bởi đó, mặc dầu trong một cấp bậc khác nhau, do một thừa tác vụ được phong và một sứ vụ tông đồ." (Pastores Gregis," 47)..
Tương tự, giáo xứ được diễn tả như một cộng đồng các tín hữu được giao phó cho việc chăm sóc mục vụ của một linh mục chính xứ, dưới quyền giám mục ("Christus Dominus," 28; Giáo Luật 515). Các nghị phụ Vatican Hai nhấn mạnh rằng linh mục chính xứ không phải là một người đại diện của giám mục giáo phận, nhưng là mục tử đích thực của cộng đồng giáo xứ ("Christus Dominus,28; Giáo Luật 519).
Theo truyền thống, trạng thái lâu bền là một yếu tố quan trọng của nhiệm vụ linh mục chính xứ (Giáo Luật 522). Giáo Luật sử dụng tiếng "cần" ở đây; không hẳn là quan trọng, nhưng là cần thiết, để linh mục chính xứ có được tình trạng lâu bền trong nhiệm vụ của ngài hầu ngài có thể thi hành thừa tác vụ mục vụ của ngài.
Như vậy, tương quan không chủ yếu là một tương quan pháp lý nhưng là một tương quan mục vụ phản ảnh "sự hiệp thông bí tích." Các giám mục và linh mục là "những người phụ tá" và Giáo Luật 384 nói về sự "lo lắng đặc biệt" của giám mục đối với các linh mục của mình, và ngài phải nghe họ như là "những người phụ tá" và "cố vấn."
Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II "thêm nhiều chi tiết cho tương quan này trong những lời này: " Giám Mục sẽ luôn luôn ra sức đối xử với các linh mục mình như là một người cha và một nguời anh em biết thương yêu họ, nghe họ, đón tiếp họ, sửa trị họ, nâng đỡ họ, tìm kiếm sự cộng tác của họ và, theo sự có thể, quan tâm tới hạnh phúc nhân bản, thiêng liêng, thừa tác vụ và tài chánh của họ. " ("Pastores Gregis." 47).
Trong "Pastores Gregis," Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II nói về hai lúc đặc biệt trong tương quan giữa giám mục và linh mục. "Lúc thứ nhất là khi Giám Mục giao phó cho linh mục một sứ vụ mục vụ.. . Đối với chính Giám mục, việc giao phó một sứ vụ mục vụ là một lúc có ý nghĩa về trách nhiệm phụ tử đối với một trong các linh mục mình."
Lúc đặc biệt thứ hai "là khi một linh mục, vì tuổi già, từ chức lãnh đạo mục vụ hiện hành của một cộng đồng hay những vị trí khác có trách nhiệm trực tiếp." Ở đây, Đức Giáo hàng nhấn mạnh tầm quan trọng của giám mục, bằng cách khẳng định rằng linh mục còn có một vai trò quan trọng nhưng khác biệt trong việc chăm sóc mục vụ cho các tín hữu.
Sau đó Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II tiếp tục nói về một hoàn cảnh khó khăn hơn cho cả linh mục và giám mục, hoàn cảnh dẫn trực tiếp tới chỗ xem xét những giáo luật về sự giải nhiệm và thuyên chuyển linh mục chính xứ: " Giám mục cũng sẽ chứng tỏ sự gần gũi huynh đệ của mình với các linh mục trong một hoàn cảnh tuơng tự vì bịnh nặng hay là những hình thức khác của sự tàn tật dai dẳng, bằng cách giúp họ luôn xác tín rằng "họ tiếp tục là những thành phần tích cực cho việc xây dựng Giáo Hội, cách riêng bởi sự kết hiệp của họ với sự đau khổ Chúa Kitô và với rất nhiều anh em chị em khác trong Giáo Hội đang chia sẻ trong sự Thương Khó của Chúa.
Có thể xảy ra những dịp khi giám mục, vì lưu tâm tới các nhu cầu của linh mục, nhưng cũng lưu tâm tới những nhu cầu của đàn chiên giao phó cho linh mục ấy, phải xét tới một thủ tục giáo luật cần giải nhiệm linh mục chính xứ khỏi chức vụ của ngài. Tôi sẽ đề cập chi tiết hơn tới những giáo luật đó trong phiên hợp hai dành cho tôi.
Những Giáo Luật về sự giải nhiệm và thuyên chuyển
Tôi không có ý phân tích những giáo luật này, nhưng nhìn vào chúng từ viễn ảnh của linh mục mà giám mục đề nghị giải nhiệm hay thuyên chuyển. Bằng nhiều cách những giáo luật phản ảnh lên sự quan tâm của Giáo Hội đối với hạnh phúc của linh mục.
Giám mục phải tiến hành trong tinh thần tương quan thích hợp phác họa ở trên, như người cha và người anh em. Nếu có thể, ngài phải bảo đảm với linh mục rằng quá trình đó sẽ mang đến những ích lợi tốt nhất cho linh mục và những ích lợi tốt nhất cho các người giáo xứ linh mục đã phục vụ.
Những lý do giải nhiệm hay thuyên chuyển phải nghiêm chỉnh một cách khách quan, và giám mục sẽ dùng những cố vấn mục vụ để phân định sự nghiêm trọng đến các lý do đó. Các giáo luật chỉ rõ rằng có thể không có lỗi gì về phía linh mục.
Sự cộng tác của các thành viên khác trong hàng linh mục là cần thiết. Thủ tục có thể là hậu quả của cơn khủng hoảng nào đó trong sự sống của linh mục đó hay là sự bắt đầu thủ tục có thể gây nên một thời kỳ khủng hoảng cho linh mục. Điều quan trọng là lúc này linh mục cảm nghiệm cách thật sự và cụ thể mình thuộc về một hàng linh mục.
Muốn được vậy giám mục sẽ chọn những linh mục thấm nhuần với cũng một tinh thần mục vụ, để các ngài có thể đồng hành và khích lệ linh mục đó qua thời ký khủng hoảng, cơn khủng hoảng còn xem ra sẽ tiếp tục sau khi thủ tục đã đạt sự kết thúc.
Hy vọng, linh mục sẽ gặp được lời khuyên của người thông giáo luật hầu linh mục ý thức đuợc quyền lợi của mình. Giám mục có thể cần khuyến khích linh mục tìm kiếm lời khuyên thể ấy, có lẽ từ một nhà giáo luật thông hiểu trong những vấn đề này, từ bên ngoài giáo phận. Trong một cử chỉ nâng đỡ huynh đệ, giám mục có thể bảo đảm linh mục đó rằng những phí tổn tài chính trong sự tìm kiếm hợp lý sự trợ giúp và lời khuyên từ bên ngoài giáo phận sẽ do giám mục thanh toán cho.
Phép công bằng, và thủ tục đòi hỏi linh mục chính xứ có mặt trong thủ tục; linh mục phải được nghe. Muốn được vậy một số người độc lập hay nhóm người rất sẵn sàng lo cho toàn thể lợi ích của Giáo Hội có thể cần cho tham dự, họ có thể theo dõi thủ tục và khuyên cả hai bên có được một thủ tục đúng đắn.
Nếu có thể được, một hành động mục vụ khác sẽ được cống hiến. Điều này, do cần thiết, có thể chỉ có bản tính rất hạn chế, nhưng nó rất quan trọng trong hạnh phúc tình cảm và thiêng liêng của linh mục; nó sẽ giúp linh mục thấy rằng mình còn tích cực thi hành chức linh mục vì lợi ích Giáo Hội. Nó cũng giúp duy trì sự quí chuộng của linh mục trong hàng linh mục là linh mục tiếp tục làm việc với các linh mục và giám mục vì lợi ích của giáo phận và của Giáo Hội rộng lớn hơn.
Đang khi những lý do cho việc giải nhiệm phải có tính khách quan, sự so sánh tế nhị giữa sự cần thiết bảo vệ tính riêng tư của linh mục (Giáo Luật 220) và sự thông tin rõ ràng về những lý do giải nhiệm phải được bảo vệ.
Điều này làm nên sự tế nhị sâu sắc trong một số xã hội và quốc gia, như Australia, do sự quan tâm của các phương tiện truyền thông trong những công việc của Giáo Hội, vì sự quan tâm đáng tiếc có xu hướng đề cao bất cứ cái gì tiêu cực, nhất là cái gì có thể bày ra như gương xấu.
Giám mục sẽ dự phòng cho việc chăm lo thích hợp của linh mục, về mặt thiêng liêng, tình cảm và thể lý. Ngài có thể cần sự trợ giúp nghề nghiệp. Muốn được vậy giám mục hay một cách hiệu nghiệm hơn là hội đồng giám mục có thể thấy được là rất hữu ích việc thiết lập một tiện nghi có thể cung cấp sự chăm sóc nghề nghiệp cần thiết cho các linh mục đang cần như thế. Chương Trình Encompass, là một dự án của các giám mục Australian, là một tấm gương của một trụ sở cung cấp thực phẩm cho sự cần thiết này.
SYDNEY, Australia (Zenit.org).-Bài phát biểu của Giám mục Phụ Tá Julian Porteus, tổng giáo phận Sydney, hôm 27/5, trong một buổi hội thoại thần học về "Giáo luật Phục vụ các Linh Mục," được Bộ Giáo Sĩ tổ chức
.
* * *
Giải Nhiệm và Thuyên Chuyển một Linh Mục Chính Xứ
Do Giám Mục Phụ Tá Julian Porteous
Sydney
Nhưng suy xét thần học và mục vụ.
Mới xem qua, chủ đề giải nhiệm và thuyên chuyển một linh mục chính xứ không có vẻ thuộc về sự phục vụ một linh mục chính xứ. Giải nhiệm linh mục khỏi nhiệm vụ mục vụ của ngài mà sao gọi là phục vụ ngài?
Nhưng, những giáo luật (Giáo Luậts) liên quan (1740-1752) phải được hiểu vá áp dụng chống lại thực tại thần học và mục vụ rộng rãi hơn của tương quan thích hợp giữa giám mục giáo phận và linh mục chính xứ. Bây giờ tôi sẽ đưa ra một số phương diện quan trọng của mối tương quan này, bằng cách dựa trên những văn kiện Công Đồng Vatican Hai và Tông Huấn hậu thượng hội đồng 2003 của Đức Gioan Phaolô II, "Pastores Gregis."
Theo huấn giáo Công đồng Vatican II, một giáo phận được diễn tả trong các thuật ngữ của những tương quan. Những tương quan liên hệ với chúng ta ở đây là những tương quan giữa giám mục giáo phận, các linh mục chính xứ và dân chúng được ủy thác cho sự chăm sóc mục vụ của các ngài.
Một giáo phận là " một cộng đồng tín hữu được giao phó cho việc châm sóc mục vụ của giám mục giáo phận, với sự trợ giúp của các linh mục" ("Christus Dominus," 11; cũng x. "Pastoes Gregis," 47, và Giáo Luật 369). Tương quan giữa giám mục giáo phận và các linh mục của ngài là để phục vụ các tín hữu. Các Giám mục và linh mục cùng chung chia sẻ trong việc chăm sóc mục vụ của các tín hữu Chúa Kitô và phải cộng tác lo cho lợi ích các linh hồn.
"Với lý do chính đáng Sắc Lệnh công đồng 'Christus Dominus,' khi diển tả Giáo Hội đía phương, định nghĩa nó như là một cộng đồng các tín hữu được giáo phó cho việc chăm sóc mục vụ của một Giám mục 'với sự cộng tác của hàng linh mục.' Trên thực tế, giữa Giám mục và các linh mục của ngài có một 'sự hiệp thông bí tích' do chức linh mục thừa tác hay phẩm trật, chức linh mục này là một sự tham gia trong chức linh mục duy nhất của Chúa Kitô, và bởi đó, mặc dầu trong một cấp bậc khác nhau, do một thừa tác vụ được phong và một sứ vụ tông đồ." (Pastores Gregis," 47)..
Tương tự, giáo xứ được diễn tả như một cộng đồng các tín hữu được giao phó cho việc chăm sóc mục vụ của một linh mục chính xứ, dưới quyền giám mục ("Christus Dominus," 28; Giáo Luật 515). Các nghị phụ Vatican Hai nhấn mạnh rằng linh mục chính xứ không phải là một người đại diện của giám mục giáo phận, nhưng là mục tử đích thực của cộng đồng giáo xứ ("Christus Dominus,28; Giáo Luật 519).
Theo truyền thống, trạng thái lâu bền là một yếu tố quan trọng của nhiệm vụ linh mục chính xứ (Giáo Luật 522). Giáo Luật sử dụng tiếng "cần" ở đây; không hẳn là quan trọng, nhưng là cần thiết, để linh mục chính xứ có được tình trạng lâu bền trong nhiệm vụ của ngài hầu ngài có thể thi hành thừa tác vụ mục vụ của ngài.
Như vậy, tương quan không chủ yếu là một tương quan pháp lý nhưng là một tương quan mục vụ phản ảnh "sự hiệp thông bí tích." Các giám mục và linh mục là "những người phụ tá" và Giáo Luật 384 nói về sự "lo lắng đặc biệt" của giám mục đối với các linh mục của mình, và ngài phải nghe họ như là "những người phụ tá" và "cố vấn."
Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II "thêm nhiều chi tiết cho tương quan này trong những lời này: " Giám Mục sẽ luôn luôn ra sức đối xử với các linh mục mình như là một người cha và một nguời anh em biết thương yêu họ, nghe họ, đón tiếp họ, sửa trị họ, nâng đỡ họ, tìm kiếm sự cộng tác của họ và, theo sự có thể, quan tâm tới hạnh phúc nhân bản, thiêng liêng, thừa tác vụ và tài chánh của họ. " ("Pastores Gregis." 47).
Trong "Pastores Gregis," Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II nói về hai lúc đặc biệt trong tương quan giữa giám mục và linh mục. "Lúc thứ nhất là khi Giám Mục giao phó cho linh mục một sứ vụ mục vụ.. . Đối với chính Giám mục, việc giao phó một sứ vụ mục vụ là một lúc có ý nghĩa về trách nhiệm phụ tử đối với một trong các linh mục mình."
Lúc đặc biệt thứ hai "là khi một linh mục, vì tuổi già, từ chức lãnh đạo mục vụ hiện hành của một cộng đồng hay những vị trí khác có trách nhiệm trực tiếp." Ở đây, Đức Giáo hàng nhấn mạnh tầm quan trọng của giám mục, bằng cách khẳng định rằng linh mục còn có một vai trò quan trọng nhưng khác biệt trong việc chăm sóc mục vụ cho các tín hữu.
Sau đó Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II tiếp tục nói về một hoàn cảnh khó khăn hơn cho cả linh mục và giám mục, hoàn cảnh dẫn trực tiếp tới chỗ xem xét những giáo luật về sự giải nhiệm và thuyên chuyển linh mục chính xứ: " Giám mục cũng sẽ chứng tỏ sự gần gũi huynh đệ của mình với các linh mục trong một hoàn cảnh tuơng tự vì bịnh nặng hay là những hình thức khác của sự tàn tật dai dẳng, bằng cách giúp họ luôn xác tín rằng "họ tiếp tục là những thành phần tích cực cho việc xây dựng Giáo Hội, cách riêng bởi sự kết hiệp của họ với sự đau khổ Chúa Kitô và với rất nhiều anh em chị em khác trong Giáo Hội đang chia sẻ trong sự Thương Khó của Chúa.
Có thể xảy ra những dịp khi giám mục, vì lưu tâm tới các nhu cầu của linh mục, nhưng cũng lưu tâm tới những nhu cầu của đàn chiên giao phó cho linh mục ấy, phải xét tới một thủ tục giáo luật cần giải nhiệm linh mục chính xứ khỏi chức vụ của ngài. Tôi sẽ đề cập chi tiết hơn tới những giáo luật đó trong phiên hợp hai dành cho tôi.
Những Giáo Luật về sự giải nhiệm và thuyên chuyển
Tôi không có ý phân tích những giáo luật này, nhưng nhìn vào chúng từ viễn ảnh của linh mục mà giám mục đề nghị giải nhiệm hay thuyên chuyển. Bằng nhiều cách những giáo luật phản ảnh lên sự quan tâm của Giáo Hội đối với hạnh phúc của linh mục.
Giám mục phải tiến hành trong tinh thần tương quan thích hợp phác họa ở trên, như người cha và người anh em. Nếu có thể, ngài phải bảo đảm với linh mục rằng quá trình đó sẽ mang đến những ích lợi tốt nhất cho linh mục và những ích lợi tốt nhất cho các người giáo xứ linh mục đã phục vụ.
Những lý do giải nhiệm hay thuyên chuyển phải nghiêm chỉnh một cách khách quan, và giám mục sẽ dùng những cố vấn mục vụ để phân định sự nghiêm trọng đến các lý do đó. Các giáo luật chỉ rõ rằng có thể không có lỗi gì về phía linh mục.
Sự cộng tác của các thành viên khác trong hàng linh mục là cần thiết. Thủ tục có thể là hậu quả của cơn khủng hoảng nào đó trong sự sống của linh mục đó hay là sự bắt đầu thủ tục có thể gây nên một thời kỳ khủng hoảng cho linh mục. Điều quan trọng là lúc này linh mục cảm nghiệm cách thật sự và cụ thể mình thuộc về một hàng linh mục.
Muốn được vậy giám mục sẽ chọn những linh mục thấm nhuần với cũng một tinh thần mục vụ, để các ngài có thể đồng hành và khích lệ linh mục đó qua thời ký khủng hoảng, cơn khủng hoảng còn xem ra sẽ tiếp tục sau khi thủ tục đã đạt sự kết thúc.
Hy vọng, linh mục sẽ gặp được lời khuyên của người thông giáo luật hầu linh mục ý thức đuợc quyền lợi của mình. Giám mục có thể cần khuyến khích linh mục tìm kiếm lời khuyên thể ấy, có lẽ từ một nhà giáo luật thông hiểu trong những vấn đề này, từ bên ngoài giáo phận. Trong một cử chỉ nâng đỡ huynh đệ, giám mục có thể bảo đảm linh mục đó rằng những phí tổn tài chính trong sự tìm kiếm hợp lý sự trợ giúp và lời khuyên từ bên ngoài giáo phận sẽ do giám mục thanh toán cho.
Phép công bằng, và thủ tục đòi hỏi linh mục chính xứ có mặt trong thủ tục; linh mục phải được nghe. Muốn được vậy một số người độc lập hay nhóm người rất sẵn sàng lo cho toàn thể lợi ích của Giáo Hội có thể cần cho tham dự, họ có thể theo dõi thủ tục và khuyên cả hai bên có được một thủ tục đúng đắn.
Nếu có thể được, một hành động mục vụ khác sẽ được cống hiến. Điều này, do cần thiết, có thể chỉ có bản tính rất hạn chế, nhưng nó rất quan trọng trong hạnh phúc tình cảm và thiêng liêng của linh mục; nó sẽ giúp linh mục thấy rằng mình còn tích cực thi hành chức linh mục vì lợi ích Giáo Hội. Nó cũng giúp duy trì sự quí chuộng của linh mục trong hàng linh mục là linh mục tiếp tục làm việc với các linh mục và giám mục vì lợi ích của giáo phận và của Giáo Hội rộng lớn hơn.
Đang khi những lý do cho việc giải nhiệm phải có tính khách quan, sự so sánh tế nhị giữa sự cần thiết bảo vệ tính riêng tư của linh mục (Giáo Luật 220) và sự thông tin rõ ràng về những lý do giải nhiệm phải được bảo vệ.
Điều này làm nên sự tế nhị sâu sắc trong một số xã hội và quốc gia, như Australia, do sự quan tâm của các phương tiện truyền thông trong những công việc của Giáo Hội, vì sự quan tâm đáng tiếc có xu hướng đề cao bất cứ cái gì tiêu cực, nhất là cái gì có thể bày ra như gương xấu.
Giám mục sẽ dự phòng cho việc chăm lo thích hợp của linh mục, về mặt thiêng liêng, tình cảm và thể lý. Ngài có thể cần sự trợ giúp nghề nghiệp. Muốn được vậy giám mục hay một cách hiệu nghiệm hơn là hội đồng giám mục có thể thấy được là rất hữu ích việc thiết lập một tiện nghi có thể cung cấp sự chăm sóc nghề nghiệp cần thiết cho các linh mục đang cần như thế. Chương Trình Encompass, là một dự án của các giám mục Australian, là một tấm gương của một trụ sở cung cấp thực phẩm cho sự cần thiết này.