Bài Phát biểu của Cha Michael Hull trong Hội Thoại Thần Học

NEW YORK (Zenit.org).- Bài phát biểu của Linh Mục Michael Hull tại Nữu Ước trình bày vào ngày 27/5 trong buổi hội thoại các thần học gia về "Giáo Luật và Việc Phục Vụ của các Linh Mục," được Bộ Giáo Sĩ tổ chức.

* * *

Nghĩa Vụ và Quyền lợi các Linh mục

Giáo sư Michael F.Hull

New York

Quyển II của bộ Giáo Luật 1983 có tiêu đề "Dân Chúa" Trong quyển này gồm có ba thiên: "Nghĩa Vụ và Quyền Lợi của các tín hữu" (cc. 208-223), "Nghĩa vụ và Quyền Lợi của các giáo Dân" (cc.224-231), và "Các Thừa Tác Viên có chức Thánh hay là các Giáo Sĩ" (cc. 232-293)

Trong thiên thứ ba chúng ta gặp một chương với nhan đề "Nghĩa Vụ và Quyền Lợi Của Giáo Sĩ" (cc. 273-289). Cách cấu trúc của Quyển thứ II không những chỉ sự phức tạp, nhưng còn sự liên kết với nhau của Dân Chúa và tầm quan trọng của chức linh mục.

Giáo Luật giúp ích rất nhiều cho các linh mục trong những điều khoảng 273-289 trong mức độ Giáo Luật nhấn mạnh về những nghĩa vụ các linh mục. Các linh mục phải cung kính và vâng phục đức giáo hoàng, chấp nhận những nhiệm vụ ủy thác cho họ, hợp tác với nhau, nâng đỡ giáo dân, theo đuổi sự thánh thiện, tuân giữ đức khiết tịnh, và dấn thân nghiên cứu suốt đời Truyền Thống thánh và Kinh Thánh.

Các linh mục phải tránh tính trần tục, những sự vắng mặt không đúng đắn khỏi những nhiệm sở của mình, ăn mặc theo đời, công vụ dân sự, và kinh doanh buôn bán. Ngoài ra, các linh mục có quyền quản trị theo những công vụ của mình, quyền lập hội nếu thích hợp với địa vị giáo sĩ, và quyền được thưởng và nghỉ phép.

Mới xem qua, những điều luật coi như đơn giản, nhưng đọc kỹ hơn sẽ thấy rằng các điều luật tìm đặt ra những giới hạn luật pháp để giúp các linh mục thi hành ba "nhiệm vụ" : thánh hóa ("munus sanctificandi"), giảng day ("munus docendi") và quản trị ("munus regendi") "nhân danh Chúa Kitô là đầu."

Những điều luật này ăn rễ sâu trong sự hiểu biết về chức inh mục và khoa giáo hội học của Giáo Hội, cách riêng như được diễn tả trong hiến chế tín lý :Lumen Gentium" (Số 28) và trong những Sắc Lệnh "Christus Dominus" (Số 8) và "Optatam Totius" (Số 7).

Các linh mục "được cung hiến để rao giảng Phúc Âm, chăn dắt tín hữu và cử hành việc thờ phương Thiên Chúa với tư cách tư tế đích thực của Tân Ước" ("Lumen Gentium, Số 28). Việc phong chức và sự đồng dạng đồng thời vối Chúa Kitô mang theo uy quyền lạ lùng và do đó mang lấy trách nhiệm nặng nề.

Suốt dòng lịch sử của mình, Giáo Hôi đã chú trọng dạy rõ ràng và cách thuyết phục bản tính của chức linh mục và của Giáo Hội. Vì lẽ này, luật pháp giáo luật được đề ra để giúp các linh mục trong cuộc sống của họ từ trong luật Thiên Chúa đối với sự phong chức của họ

Trong những thời gian mới đây, có nổi lên một số lầm lẫn về những nghĩa vụ và quyền lợi của các giáo sĩ như là khác biệt với những nghĩa vụ và quyền lợi của tín hữu giáo dân. Giáo Hội đã tỉnh thức xử lý sự lầm lẫn này bằng những văn kiện làm chìa khóa như huấn thị liên bộ "về Một Số vấn Đề Liên Quan tới sự Cộng tác của những Người Tín Hữu Không Được Phong trong Thừa tác vụ Linh Mục" (15/8/1997) và huấn thị của Bộ Giáo Sĩ "Linh Muc: người Mục Tử và Hướng Dẫn của Cộng Đồng Giáo Xứ" ( 4/8/ 2002).

Việc phục vụ lớn nhất của Giáo luật đối với linh mục không phải là nói về "những quyền lợi" của linh mục, vì từ ngữ được sử dụng cách rất lỏng lẻo trong cách nói hiện đại, nhưng trong sự nói về những nghĩa vụ linh mục. Những nghĩa vụ linh mục chắc chắn là trung tâm vấn đề.

Trên thực tế, các điều luật chỉ rõ những nghĩa vụ phục vụ bản tính chức linh mục, những nghĩa vụ nhằm giữ những phương diện có ý nghĩa của cách ừng xử linh mục hoà hợp với chức thánh và địa vị trong sự sống.

Kinh Thánh dạy rằng "những ký mục thi hành chức vụ chủ tọa cách tốt đẹp, thì đáng được đãi ngộ gấp đôi, nhất là những người vất vả phục vụ lời Chúa và giảng dạy" (1Tim 5:17).

Do đó các linh mục cần sự nâng đỡ liên tục của Giáo Hội, cách riêng qua giáo luật của mình, hầu được hướng dẫn theo những con đường chính trực để họ có thể tham gia trong phụng vụ thiên đàng với Chúa Kitô, Linh Mục Thượng Phẩm, mà họ chia sẻ chức linh mục :theo phẩm hàm Melchisedek" (Tv 110: 4; x. St 14: 18).