Click here to go to PhotoArt Meditation Room - Phòng Ảnh Nghệ Thuật và Chiêm/Niệm/Thiền
BỐ CƯỜI BẰNG MẮT: ĐỐ AI QUÉT SẠCH LÁ RỪNG
Ảnh của Lm. Trần Cao Tường, thác nước Multnomah trong lá rụng mưa mù.

Đố ai biết lúa mấy cây
Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng.
Đố ai quét sạch lá rừng
Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây.
TIẾNG HÁT RUNG TIM BA MÙA
Lm. Trần Cao Tường
Một năm thì phải có bốn mùa chứ. Vậy mà ở Miền Nam nước Việt mình thì một năm chỉ có hai mùa: mùa nóng cháy khô và mùa mưa sũng nước. Người mình sống riết rồi quen, chứ Việt kiều về nước trong mấy ngày đầu thấy ngột ngạt khó chịu lắm.
Nhưng vào mùa hè năm 1999 thiên hạ mới vỡ lẽ ra rằng người Việt còn có thêm một mùa nữa, thành ra ba mùa. Đó là cái nhìn và cái thấy trong phim Ba Mùa (Three Seasons) do một người Việt quốc tịch Mỹ là Tony Bùi đạo diễn.
Đây là phim đầu tiên của Mỹ quay tại Việt Nam và là phim hay nhất về Việt Nam từ sau năm 1975, đoạt ba giải thưởng của đại hội điện ảnh Sundance. Đạo diễn Tony Bùi mới 26 tuổi thuộc thế hệ trẻ, tức là khi rời đất Việt vào năm 1975 anh mới lên hai. Lúc 22 tuổi, anh đã từng đạo diễn phim Hoa Sen Vàng (Yellow Lotus) được giải thưởng điện ảnh Telluride 1995. Phim Ba Mùa được nhiều người ca tụng, từ tờ Newsweek đến Washington Post. tờ Người Việt ở Nam Cali đã gọi "đây là cuốn phim được hoan nghênh nhất trong lịch sử điện ảnh Sundance." Vũ Huy Quang trên Thời Báo San Jose nhận xét rằng phim này "có thể thưởng thức như một bài thơ." Tờ New York Times cho là "một bài thơ bằng điện ảnh, đượm chất tình làm ấm áp con tim." Theo Jeffrey Lyons của WNBC-TV thì phim Ba Mùa quả là "mang chất mê thu hút."
THỜI ĐIỂM PHIM BA MÙA
Đầu tháng sáu tôi có dịp đi xem phim Ba Mùa ở New Orleans tại rạp Canal Place. Đúng là cuốn phim đẹp như một bài thơ, đầy ắp chất tình làm tươi mát con tim. Lâu lắm mới được xem một cuốn phim giá trị như vậy giữa một rừng phim xô bồ lãng nhách hiện tại. Đẹp từ hình ảnh, nội dung đến diễn xuất, hấp dẫn từ đầu đến cuối.
Bốn câu truyện trong phim đan dệt với nhau thật tài tình, được gắn lại bằng một chất keo mầu nhiệm qua bài hát ca dao như cái hồn ẩn mật của dân tộc làm nền:
Đố ai biết lúa mấy cây
Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng.
Đố ai quét sạch lá rừng
Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây.
Bốn câu truyện với sáu bảy nhân vật đều là những cảnh rung cây, như bốn truyện điển hình của cuộc đời Việt nam trong suốt một thế kỷ qua, trong suốt dọc dài lịch sử bi đát của dân mình. Cây cứ bị gió rung hoài, lá cứ rụng mà chẳng ai còn đủ sức quét sạch được lá rừng!
Ông Đào vốn là một nhà thơ có hồn, đẹp trai, nhà giầu. Vậy mà lại bị bệnh phong cùi phải ẩn tránh mọi người, sống đóng kín thầm lặng trong ngôi nhà ngói giữa một hồ sen lớn. Ông cho thuê nhiều nhân công hái hoa sen đưa lên Sài Gòn bán, trong đó có một cô gái nhà quê rất chơn chất mộc mạc tên là Kiến An. Cô gái quê này có nước da ngăm ngăm, thường mặc áo bà ba với dáng vẻ nghèo túng. Cô lam lũ vất vả như những người đàn bà khác cùng hái sen trong hồ để kiếm sống. Nhưng nét hồn nhiên qua đôi mắt trong sáng diễn tả một tâm hồn thật dễ thương như một đóa sen, cũng là nét đẹp và giầu có của trái tim Việt Nam nhẫn nhục giữa bùn lầy qua bao thời đại. Trong những cần cù mồ hôi nhễ nhãi, bài hát ca dao khác lại vang lên:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng.
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Cây đời ông Đào bị rung quá mạnh phải quị xuống, ngón tay ông bị rụng dần không còn viết thơ được nữa. Vậy mà bỗng một ngày ông thấy yêu đời, cánh thơ mọc lại cho ông vượt ra khỏi bốn bức tường giam hãm mà thênh thang bay lên cõi trời cao, nhờ nghe được giọng hát ca dao của Kiến An từ hồ sen vẳng vào. Thì ra độ rung cây đã bắt gặp được độ rung tim, một thứ tình thương tinh ròng mở cánh sen tỏa hương nhè nhẹ ít gặp được trong xã hội này, với một niềm cảm thông sâu thẳm vượt qua ngôn ngữ. Chất ca dao qua giọng hát Kiến An được mẹ thổi vào hồn, chuyển vào mạch máu qua tiếng ru ngọt mềm từ lúc còn trong nôi, nay bỗng chạm tới độ rung mầu nhiệm cho chất thơ sống lại: mùa rung cây đã trở thành mùa rung tim, khiến cho nhà thơ mong ước được thả hoa sen xuống dòng sông làm đẹp dòng sông cuộc đời.
Cũng một thứ hoa sen và giọng hát ca dao đó, anh chàng Hải đạp xích lô đã mang được trong tim mình. Anh có thể là một nhà giáo lỡ thời phải làm cái nghề kỳ dị này trong một thành phố ngột ngạt chen sống. Lúc ngồi chờ khách thì anh đọc sách. Suốt ngày phải dầm mưa giãi nắng, anh đúng là hiện thân của hai mùa nóng cháy khô và mùa mưa sũng nước. Cây đời anh cũng bị rung mạnh lắm. Vậy mà tim anh có chất hương sen, đi đeo đuổi một bông hoa dại mọc ven đường là cô gái ăn sương vấy bùn tên Lan với loại tình yêu cũng rất khác lạ: loại tình yêu hoa sen với bông trắng nhị vàng. Thứ tình này đã khiến cho cây Lan đang độ rung bật gốc tìm lại dáng nét tình hoa phượng nở hồi còn làm nữ sinh áo trắng thơ ngây.
Trong lúc lam lũ đạp xích lô, Hải thường bắt gặp một anh chàng người Mỹ ngồi thơ thẩn trước khách sạn như tìm kiếm một điều gì. Thì ra anh ta trước đây đã từng là lính GI ở Việt Nam, nay trở lại tìm đứa con gái lai bị bỏ rơi lại. Mãi rồi anh ta cũng tìm thấy. Anh ta mua một bó hoa sen của Kiến An đưa tặng cho đứa con gái với lời tạ tội. Tim anh ta cũng mang được chất tình hoa sen còn biết rung động.
Chen giữa những câu truyện gắn bó với nhau là hình ảnh một đứa bé thường lầm lũi lội dưới mưa. Nó có tên trong phim là Woody, có thể vì tên nó là Mộc, cũng là một loại cây dại mọc bên đường, là đứa con tượng trưng của cả một dân tộc. Nó tội tình gì mà bị xã hội vất ra ngoài đường, sống nghèo khổ với cái thùng đồ bán diêm quẹt và xâu móc chìa khóa? Vậy mà nó vẫn sống hồn nhiên với cặp mắt thật sáng, vẫn ham mê giấc mộng bình thường thả con thuyền giấy trên dòng nước mưa.
TIN VUI TIẾNG HÁT TỰ LÒNG ĐẤT
Truyện "Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến" của Doãn Quốc Sỹ ở chương bảy đã diễn tả được cái nét ẩn mật của tộc Việt, vẫn lầm lũi sống còn một cách an nhiên dù biết bao đọa đầy bầm dập.
Kha từ Hà Nội về quê giỗ mẹ, ngủ lại nhà chú thím, ban đêm chợt thức giấc nghe được tiếng sáo diều kêu u u như chung kết lại tất cả những mối sầu của tình quê kẻ còn cũng như người khuất, nghe được tiếng chày mau và đều giã gạo ban đêm của người nhà nghèo lối xóm; và nhịp theo tiếng chày đó, một giọng hát cất lên, giọng hát êm tưởng như theo gió từ xa... xa lắm vẳng lại.
"Bước xuống sân ngẩng nhìn trăng hạ tuần giữa cảnh vắng lặng của cảnh vật, Kha đứng lặng như bị chôn chân xuống đất vì chàng chợt nhớ rằng tiếng hát đó, cũng như tiếng sáo diều kia chàng đã được nghe từ lâu lắm, từ ngày chàng còn nhỏ xíu luôn luôn đòi mẹ ẵm lên lòng. Rồi từ đấy vì được nghe luôn nên chàng không hề lưu ý tới những âm thanh và âm điệu đó, cho đến nay bặt một thời gian sáu bảy năm xa cách, tiếng hát đột nhiên xuất hiện vào giờ này để tự tô đậm nét trường cửu của nó. Tiếng hát giọng đò đưa buồn buồn, chơi vơi, xa vắng. Lời không rõ nhưng cảm giác thì như vậy. Tự như thuở nào đến giờ cứ vào giờ thanh vắng đó là tiếng hát nổi lên, tiếng hát như thoát lên tự lòng đất, kể lể nỗi niềm để vừa xoa dịu vừa làm cho thấm thía thêm những sầu hận của những kẻ chợt thức giấc đón nghe nó... Hình như chàng mỉm cười vì trong cái vô cùng cô đơn ấy chàng thấy rõ chiến tranh tàn phá gây biết bao cảnh đổi đời, nhưng có một cái gì đó mà không gì tàn phá nổi là tiếng sáo diều và nhất la tiếng hát kia, Tiếng Hát Tự Lòng Đất, tiếng hát sầu dằng dặc, nhưng là tiếng hát của bất tuyệt vỗ về an ủi sự sống làm cho sự sống càng phì nhiêu và bất tuyệt như nó."
Đúng vậy. Tiếng hát tự lòng đất cũng chính là giọng hát ca dao của Kiến An trên đầm sen. Nó quyện vào tim ông Đào mang theo linh dược chữa lành. Nó chợt lay động hồn người xa xứ như tôi trong một buổi chiều chơi vơi. Cùng diễn tả một niềm tin, vọng lên từ linh hồn tộc Việt vẫn sinh tồn dai dẳng, vẫn lầm lì gan bướng. Nó có sức bật lên tia sáng trong những chao đảo mịt mù. Đó cũng chính là tiếng hát từ trời cao, khi người mình cứ nhất định tin vào một an bài mầu nhiệm từ Trời vượt qua mọi tính toán và nỗ lực thế nhân, như ca dao vẫn thường tuyên dương:
Non kia ai đắp nên cao
Sông kia ai bới ai đào mà sâu.
Vì thế mà người mình chẳng hơi đâu đi chất vấn cuộc đời hay đòi giải quyết tận gốc như quét sạch lá rừng kiểu hiện sinh phi lí hay đấu tranh giai cấp. Gió rung cây thì lá rụng. Gió thổi rì rào và lá rụng mùa thu đẹp lắm chứ. Nhiều bài thơ đã bật lên từ cảnh thơ mộng này. Nét ẩn mật của tinh thần Việt vẫn là cái nhìn và cái thấy về cuộc đời, gọi là niềm tin, phát khởi từ niềm tin gốc trong truyện thiêng vẽ hình hoa văn giao long trên mình để làm bạn được với giao long dưới nước và hóa giải được đối nghịch. Chữ văn hóa có thể bởi đó mà ra, là phương cách hóa giải, sống an nhiên giữa mọi nghịch cảnh cuộc đời. Công thức văn hóa này đã được tích tụ lại trong những câu ca dao và những truyện thiêng. Từ con mắt nhìn và thấy này, cô Kiến An, ông Đào, cô Lan, bé Woody hay anh Hải đều có thể thả hoa xuống dòng đời, chuyển chất thơ, phả chất tình, bật chất lửa làm thay đổi cả một đời người.
Niềm tin của tộc Việt rất gần với niềm tin Đạo Chúa, khi khơi lực làm văn hóa từ Trời, có sức vượt qua tất cả, hóa giải tất cả. Mỗi người đều có thể nhận được lực ấy mà thả hoa sen xuống dòng sông cuộc đời như Kinh Thánh xác định: "Đức Giêsu gọi mười hai môn đệ lại, ban cho các ông được quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền... Ngài sai các ông đi và chỉ thị: "Dọc đường hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần. Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong cùi được sạch bệnh, và khử trừ ma quỉ." (Mt 10:1, 8)
PHÚT HOA SEN NỞ
Cảm nhận được sức thiêng từ Trời là khai mở mùa thứ ba, mùa bật lên mầm sống từ những thối rữa, từ hai mùa nắng mưa bất kham, từ những bệnh tật nan y như phong cùi, từ những chết chóc tan hoang, từ những ám ảnh dầy vò trong cuộc sống. Chất mầu hóa giải này một người phong cùi khác là nhà thơ Hàn Mặc Tử đã chứng nghiệm được mà vút cánh bay cao:
Phượng hoàng bay trong một tối trăng sao
Mà ánh sáng không còn khiêm nhượng nữa.
Và bốn mùa rung cây tàn khốc của Hàn Mặc Tử đã trở thành "tứ thời xuân", bốn mùa ơn phúc "phút thiêng liêng nhuần gội áng thiều quang." Truyện Ba Mùa trong phim cũng chính là câu truyện đời sống mỗi người mà những nhân vật chỉ là điển hình, với những rung cây, những vật vã, và cách hóa giải theo tâm thức Việt. Lời hát ca dao đang vang vọng trong tôi như nhịp tim đập rộn rã của cả một thân mệnh Việt Nam qua bao đời như tiếng hát từ lòng đất, từ trời cao:
Đố ai quét sạch lá rừng
Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây.