Một người tham gia giơ tràng hạt trong một cuộc rước kiệu Thánh Thể do Giáo phận Parramatta và Giáo phận Maronite tổ chức vào ngày 4 tháng 6. (Ảnh: Facebook/Giáo phận Parramatta)


Tạp chí Global Catholic, ngày 17 tháng 6 năm 2026, cho đăng tải bài viết của Tom Hyland, với tiêu đề như trên. Ông viết:

Thống kê cho thấy một Giáo Hội đang suy giảm. Ít người Úc nói rằng họ là người Công Giáo, và thậm chí ít người hơn nữa tham dự Thánh Lễ — và những người tham dự ngày càng già đi. Tuy nhiên, đồng thời, một số giáo đoàn đang phát triển mạnh, với các giáo dân trẻ hơn, được giáo dục tốt hơn, những người vẫn giữ mối liên hệ chặt chẽ với Giáo Hội.

Các số liệu thống kê đang kể hai câu chuyện: Công Giáo Úc đồng thời đang thu hẹp theo một nghĩa trong khi được hồi sinh theo một nghĩa khác, phần lớn là do sự di cư, điều đang làm thay đổi diện mạo của quốc gia — và của Giáo Hội.

Tại các thành phố lớn, nơi phần lớn người Úc sinh sống, các giáo đoàn nhà thờ ngày càng bao gồm những người đến từ nhiều nền văn hóa, sắc tộc và quốc tịch khác nhau. Nhiều người sinh ra ở nước ngoài. Họ thờ phượng theo nhiều cách khác nhau, bằng hàng chục ngôn ngữ khác nhau.

Giáo hội Úc ngày càng trở nên đa dạng hơn về tôn giáo.

Điều này đang diễn ra cùng lúc nhiều người Công Giáo lớn tuổi sinh ra ở Úc đã dần xa rời các hoạt động tôn giáo thường xuyên — một sự dịch chuyển thế tục không chỉ giới hạn ở Công Giáo. Ngày càng nhiều người Úc tuyên bố không theo tôn giáo nào, trong khi những người chọn một tôn giáo cho thấy một xã hội đa dạng hơn về tôn giáo.

Cuộc điều tra dân số quốc gia gần nhất, vào năm 2021, cho thấy số lượng người Úc tự nhận mình là Kitô hữu đã giảm hơn một triệu người, mặc dù Kitô giáo vẫn là tôn giáo phổ biến nhất. Và trong khi người Công Giáo vẫn là nhóm tôn giáo lớn nhất, họ đã giảm từ 22.6% tổng dân số năm 2016 xuống còn 20% năm năm sau đó. Sự sụt giảm số lượng đã được làm chậm lại nhờ nhập cư từ các khu vực có số lượng người Công Giáo cao, đặc biệt là Đông Nam Á. Trong số tất cả những người nhập cư đến Úc từ năm 2016 đến năm 2021, gần 200,000 người cho biết họ là người Công Giáo, hơn một phần tư trong số đó sinh ra ở Philippines.

Các nghi lễ đa dạng

Dựa trên dữ liệu điều tra dân số, Trung tâm Nghiên cứu Mục vụ Quốc gia, một cơ quan của Hội đồng Giám mục Công Giáo Úc, đã lập ra một hồ sơ xã hội chi tiết về Giáo hội Úc.

Trong số khoảng năm triệu người Úc tự nhận mình là người Công Giáo vào năm 2021, 1.4 triệu người - 21% - sinh ra ở nước ngoài, và gần một phần năm đến từ các quốc gia không nói tiếng Anh (các quốc gia nói tiếng Anh được định nghĩa là New Zealand, Vương quốc Anh, Ireland, Hoa Kỳ, Canada và Nam Phi).

Nhóm người Công Giáo “mới” lớn nhất là người Philippines, hiện chiếm 4.3% tổng số người Công Giáo Úc. Những người khác đến từ Ấn Độ, Việt Nam, Iraq, Lebanon, Sri Lanka và Nam Mỹ. Nhiều người theo các nghi lễ đa dạng. Trong khi phần lớn người Công Giáo Úc được xếp vào nhóm “Công Giáo phương Tây” và theo nghi lễ La-tinh, thì số lượng người Công Giáo Maronite, Melkite, Chaldean và Syro-Malabar đang ngày càng tăng.

Đây không phải là lần đầu tiên có sự thay đổi trong thành phần các giáo đoàn ở Úc.

Trong phần lớn thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20, Giáo hội Úc phản ánh mạnh mẽ nguồn gốc Ái Nhĩ Lan của mình — những người Công Giáo đầu tiên chủ yếu là tù nhân người Ireland, bị đưa đến khi Anh lần đầu tiên xâm chiếm lục địa Úc vào năm 1788. Những người Ái Nhĩ Lan khác, cả tù nhân và người tự do, được các giáo sĩ người Ái Nhĩ Lan hỗ trợ, đến sau đó.

Sự thống trị của văn hóa Ái Nhĩ Lan này bắt đầu thay đổi sau Thế chiến thứ hai, khi Úc bắt đầu một chương trình nhập cư lớn, chuyển từ việc dựa vào người di cư Anh và Ái Nhĩ Lan sang một lượng lớn người từ lục địa châu Âu.

Theo một cuốn lịch sử chính thức của Giáo hội, hơn một triệu người Công Giáo đã đến Úc từ Ý, Malta, Hà Lan, Đức, Croatia, Hungary và các nơi khác trong ba thập niên sau chiến tranh. Họ mang theo “những khát vọng, kỳ vọng, nhu cầu và mô hình tham gia khác biệt so với những người Công Giáo gốc Ái Nhĩ Lan”.

Giáo hội đã chào đón họ. Năm 1950, các giám mục Úc đã ban hành một Thư Mục vụ kêu gọi người Công Giáo đón nhận những người định cư mới như một cơ hội để “truyền bá Vương quốc của Chúa Kitô trên lục địa này”.

“Đối với hàng ngàn người Công Giáo mới, đang tìm kiếm nhà cửa và nơi nương náu trên đất nước chúng ta, bàn tay chào đón của những người Công Giáo đồng đạo và anh em trong Chúa Kitô phải được sẵn sàng dang rộng”, các giám mục nói. “Sự kiên nhẫn, lòng tốt, sự cảm thông và sự giúp đỡ thiết thực phải được dành cho tất cả mọi người không ngừng nghỉ và nhân danh Chúa”.

Sự hóa già tiếp diễn

Úc sẽ tổ chức một cuộc điều tra dân số khác vào tháng 8 năm nay, nhưng Tiến sĩ Trudy Dantis, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Mục vụ Quốc gia của Giáo hội, không kỳ vọng nó sẽ cho thấy sự thay đổi đáng kể về tỷ lệ người Công Giáo trong dân số.

“Về lâu dài, các xu hướng cho thấy sự già hóa tiếp diễn của dân số Công Giáo”, bà nói, “cùng với sự tăng trưởng trong số lượng người Công Giáo sinh ra ở các quốc gia không nói tiếng Anh.”

Cuộc điều tra dân số chỉ ghi lại tôn giáo của những người tự nguyện khai báo. Nó không ghi lại việc mọi người có thực hành tôn giáo của họ hay không.

Nhiệm vụ tính toán số lượng người Công Giáo thực hành được thực hiện bởi nhóm của Tiến sĩ Dantis, nhóm này đã khảo sát hơn 1,250 giáo xứ trên khắp đất nước vào đầu năm nay, với việc thu thập dữ liệu dự kiến sẽ hoàn tất vào đầu tháng 7.

Cuộc khảo sát gần đây nhất vào năm 2021 đã xác nhận khoảng cách lớn giữa những người Úc nói rằng họ là người Công Giáo và những người đi nhà thờ. Hầu hết không đi.

Cuộc khảo sát cho thấy khoảng 417,000 người tham dự Thánh lễ - chỉ chiếm 8.2% dân số Công Giáo. Điều này chỉ một phần là do các hạn chế của chính phủ đối với các cuộc tụ họp công cộng trong đại dịch COVID-19, và nó theo sau một xu hướng giảm trong những năm trước đó, với số liệu tham dự bị ảnh hưởng bởi những thay đổi về nhân khẩu học, độ tuổi của người đi lễ - và “sự hiện diện hoặc vắng mặt của người nhập cư.”

Tác động của người nhập cư rất rõ rệt.

Trong khi số người tham dự Thánh lễ giảm khoảng 206,000 người từ năm 2016 đến năm 2021, con số này lại tăng lên ở các giáo phận Đông phương.

“Trong số đó, Giáo phận Syro-Malabar có mức tăng lớn nhất: 90% từ 4,390 người năm 2016 lên 8,352 người năm 2021,” cuộc khảo sát cho thấy. Con số này phản ánh sự gia tăng di cư đến Úc từ Ấn Độ. Dữ liệu chính thức được Cục Thống kê Úc công bố gần đây cho thấy, lần đầu tiên, những người sinh ra ở Ấn Độ là nhóm cư dân sinh ra ở nước ngoài lớn nhất.

Năm 2021, tất cả các giáo phận Đông phương, ngoại trừ giáo phận Ukraine, đều cho thấy sự gia tăng, với tỷ lệ tham dự Thánh lễ ở giáo phận Syro-Malabar tăng từ 52.6% năm 2016 lên 81% năm 2021.

Việc người nhập cư tham dự Thánh lễ không chỉ giới hạn ở các nhà thờ nghi lễ Đông phương. Tổng giáo phận Sydney, với một trong những tỷ lệ tham dự cao nhất ở Năm 2021, cũng có tỷ lệ cao nhất trong số các giáo phận có tín hữu Công Giáo sinh ra ở các quốc gia không nói tiếng Anh (33,5%).

Các cộng đoàn đa văn hóa

Sự đa dạng ngày càng tăng của Giáo hội cũng được phản ánh trong các nghi lễ và các cách thức thờ phượng khác của các cộng đoàn. Năm 2021, Thánh lễ được cử hành bằng ít nhất 42 ngôn ngữ khác nhau, tăng từ 35 ngôn ngữ cách đây 20 năm. Ngoài tiếng Anh, các ngôn ngữ phổ biến nhất là tiếng Việt, tiếng Ả Rập, tiếng Chaldean và tiếng Ý. Tiếng Malayalam, được sử dụng trong nhiều Thánh lễ Công Giáo Syro-Malabar, là ngôn ngữ Ấn Độ phổ biến nhất.

Sự chuyển đổi này đặt ra một câu hỏi đáng lưu ý về tương lai của Giáo hội Úc: Liệu sức mạnh của sự tận tâm với Giáo hội từ cha mẹ của những người di cư này có phai nhạt ở con cháu của họ, như đã xảy ra với các nhóm người di cư khác?

Trong khi đó, các nhà lãnh đạo Giáo hội đã đón nhận sự phong phú và đa dạng do các cộng đoàn đa văn hóa mang lại. Trong một thông điệp năm ngoái, nhắc lại sự chào đón những người di cư được nêu trong thư mục vụ năm 1950, các giám mục Úc đã nói về “đóng góp vô cùng to lớn” của những người di cư.

“Sự hiện diện của họ không không những củng cố nền tảng cộng đồng của chúng ta mà còn làm sâu sắc thêm sự hiểu biết của chúng ta về ý nghĩa của việc làm người,” các ngài nói.

Đức Tổng Giám Mục hưu trí Mark Coleridge đã sử dụng ngôn ngữ thân mật hơn khi gần đây suy tư về tác động của những người di cư gần đây đối với Giáo hội: “Nếu loại bỏ người Việt Nam, người Ấn Độ và người Philippines, chúng ta sẽ không được tốt đẹp cho lắm.”