Như chúng tôi đã đưa tin, lúc 7:50 sáng Thứ Sáu, 25 Tháng Chín, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã khởi hành bằng máy bay từ phi trường quốc tế Fiumicino của Rôma để bay đến phi trường Orly của Paris. Sau 2 giờ 10 phút, máy bay đã đáp xuống phi trường Orly lúc 10 giờ sáng.

Tại đây đã có các nghi thức chào mừng Đức Thánh Cha. Sau đó, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã dùng xe hơi để đến thăm xã giao Tổng thống Pháp tại Cung Điện Élysée vào lúc 11 giờ sáng.

Sau khi đàm đạo với Tổng thống trong 45 phút, lúc 11 giờ 45, Đức Thánh Cha đã có cuộc gặp gỡ với chính quyền dân sự và ngoại giao đoàn.

Trong diễn từ tại đây, Đức Thánh Cha nói:

Thưa ngài Tổng thống,

Kính thưa các vị lãnh đạo và thành viên của ngoại giao đoàn,

Kính thưa quý vị,

Tôi rất vui mừng được có mặt cùng quý vị hôm nay. Thưa ngài Tổng thống, tôi đặc biệt biết ơn lời mời trân trọng đến thăm nước Pháp, và tôi cảm ơn những lời chào đón nồng nhiệt của ngài. Thông qua ngài, tôi gửi lời chào đến tất cả những người đang sinh sống tại đất nước này, nơi có di sản văn hóa và tôn giáo vô cùng phong phú. Cùng nhau, họ tạo nên một dân tộc với nguồn gốc đa dạng đã làm sống động và phong phú hóa cho quốc gia và nền dân chủ của nước Pháp. Tôi xin bảo đảm với ngài Tổng thống, quý vị và anh chị em rằng nước Pháp thường xuyên được Đức Giáo Hoàng cầu nguyện, vì ngài không quên nguồn gốc gia đình mình ở Normandy và Béarn.

Chuyến thăm Pháp của tôi bắt đầu ở Paris, thủ đô của đất nước, thường được biết đến với tên gọi Kinh thành Ánh sáng. Trong nhiều thế kỷ, Pháp đã đóng vai trò là ngọn hải đăng văn hóa, nghệ thuật và tâm linh, không chỉ cho Âu Châu mà còn cho toàn thế giới. Với các trường học, đại học và học viện do Giáo Hội điều hành, dành riêng cho việc theo đuổi chân lý, Pháp đã góp phần định hình quan điểm của các dân tộc ở khắp nơi trên thế giới. Nhiều học giả Pháp lỗi lạc, đồng thời là những người Công Giáo trung thành, đã chứng minh rõ ràng phương thế khoa học và nghệ thuật, văn học và triết học, có thể đóng góp cho lợi ích của nhân loại khi chúng được hướng đến việc theo đuổi chân, thiện, mỹ để thế giới có thể có sự sống.

Chuyên môn của Pháp đồng nghĩa với sự xuất sắc trong nhiều lĩnh vực. Điều này đặc biệt rõ ràng trong dự án lớn phục dựng nhà thờ Đức Bà Paris, trong đó nhiều tổ chức tư nhân và nhà nước đã tham gia ngay từ đầu, và ngài Tổng thống, đặc biệt là người đã hết lòng ủng hộ. Vì điều này, tôi xin cảm ơn ngài. Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến nhiều nghệ sĩ, thợ xây dựng, kỹ thuật viên và công nhân lành nghề đã tham gia vào công cuộc phục dựng. Việc mở cửa lại nhà thờ để cử hành các nghi lễ tôn giáo, và đón tiếp du khách từ khắp nơi trên thế giới, không chỉ là một thành tựu kỹ thuật gây ấn tượng mà còn là biểu tượng của niềm hy vọng mới. Nó cho thấy rằng một thứ được coi là đã bị phá hủy không thể sửa chữa có thể được tái sinh thông qua sự hợp tác lẫn nhau, và nó là minh chứng hùng hồn cho sự đoàn kết được sinh ra từ cam kết vì một mục tiêu chung. Mong rằng thành tựu đáng kể này sẽ khuyến khích tất cả những người chịu trách nhiệm về đời sống chính trị, xã hội và tôn giáo của đất nước làm việc không mệt mỏi và đồng tâm nhất trí, được truyền cảm hứng bởi một niềm hy vọng vững chắc và sống động.

Nước Pháp là một vùng đất có nguồn gốc Kitô giáo sâu xa. Từ thời Thánh Irênê và lễ rửa tội của Clovis, tâm hồn dân tộc đã được Kitô giáo hun đúc nên một sức sống mãnh liệt về tinh thần, văn hóa, trí tuệ, nghệ thuật và truyền giáo, là điều mà chúng ta vẫn cảm nhận được trong thế giới ngày nay. Chính vì vậy, chủ nghĩa nhân văn đã nở rộ ở Pháp thế kỷ 16, như một phương tiện để kết hợp di sản của Hy Lạp và Rôma cổ điển với đức tin Kitô giáo. Với các nhà tư tưởng vĩ đại của thời Phục hưng, và sau đó là thời Đại Siècle, tiếp theo là thời Khai sáng, nước Pháp đã đóng góp vào những tiến bộ đáng kể trên thế giới, bao gồm việc công nhận nhân quyền dựa trên bản chất của con người, đặc biệt là tự do tôn giáo. Sự tập trung liên tục vào phẩm giá vốn có của mỗi người được thể hiện trong khẩu hiệu quốc gia của anh chị em. Tự do, bình đẳng và bác ái không chỉ đơn thuần là những từ ngữ được khắc trên mặt tiền các tòa nhà công cộng; chúng đề cập đến những mệnh lệnh đạo đức phổ quát, cũng tìm thấy trong thông điệp Phúc Âm một nguồn cảm hứng và sự viên mãn vô tận.

Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, được công bố tại Paris — và trong quá trình soạn thảo, luật gia người Pháp và người đoạt giải Nobel Hòa bình René Cassin đã đóng vai trò hàng đầu — nhằm mục đích thúc đẩy nhận thức rộng rãi hơn về phẩm giá bất khả xâm phạm của con người. Thánh Gioan Phaolô II, người coi Tuyên ngôn này là "một cột mốc thực sự trên con đường tiến bộ đạo đức của nhân loại," nhận thức rõ rằng "bất kỳ mối đe dọa nào đối với nhân quyền, dù trong lĩnh vực thực tế vật chất hay thực tế tinh thần, đều nguy hiểm như nhau đối với hòa bình, vì trong mọi trường hợp nó đều liên quan đến con người một cách toàn diện." [1]

Vấn đề tôn trọng phẩm giá con người và các quyền và tự do cơ bản bắt nguồn từ bản chất con người là một vấn đề nảy sinh trong mọi thời đại và nhất thiết phải theo kịp sự thay đổi của xã hội và tiến bộ công nghệ. Chắc chắn rằng, "qua nhiều thế kỷ, sự phát triển công nghệ đã cải thiện đáng kể điều kiện sống của nhân loại. Đồng thời, mỗi giai đoạn tiến bộ cũng đã bộc lộ sự mơ hồ của các công cụ có thể gây hại khi không hướng tới thiện ích" (Thông điệp Magnifica Humanitas, 4). Vào thời của mình, Georges Bernanos đã nhìn thấy mối đe dọa rằng sự vâng lời mù quáng và vô trách nhiệm có thể dẫn đến một "Thiên đường của máy móc", và chỉ ra rằng nền văn minh Pháp thay vào đó đã tìm cách trong nhiều thế kỷ để hình thành những người đàn ông và phụ nữ tự do, hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành động của họ. [2]

Vì lý do này, tôi cho rằng việc đề cập đến chủ đề Trí tuệ Nhân tạo trong Thông điệp đầu tiên của mình là điều thiết yếu, với mục đích một lần nữa đưa con người trở thành trọng tâm của sự suy ngẫm. Nếu chúng ta muốn tránh đánh mất nhân tính của mình giữa một "thiên đường máy móc" đang xâm chiếm và chi phối cuộc sống hàng ngày, thì cần phải có một nền giáo dục cấp thiết về khả năng phân định đạo đức và nhận thức về điều thiện. Điều này là không thể thiếu nếu chúng ta muốn nhận ra điều thiện đích thực cho phép con người phát triển theo ơn gọi nguyên thủy của họ, với sự tôn trọng vô điều kiện đối với tự do nội tâm và phẩm giá thiêng liêng của họ. Ở đây, tôi muốn một lần nữa nhấn mạnh rằng "một xã hội thực sự tự do không áp đặt sự đồng nhất mà bảo vệ sự đa dạng của lương tâm, ngăn chặn các khuynh hướng độc đoán và thúc đẩy một cuộc đối thoại đạo đức làm phong phú thêm cấu trúc xã hội" (Bài phát biểu trước các thành viên của ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh, ngày 9 Tháng Giêng năm 2026). Cuộc đối thoại này càng trở nên cấp thiết hơn trong bối cảnh nước Pháp hiện nay, nơi những người có nền tảng văn hóa và tôn giáo khác nhau được kêu gọi sống chung và đóng góp vào sự tiến bộ của xã hội.

Chính vì cấu trúc xã hội phong phú và đa dạng mà nước Pháp trong nhiều thế kỷ qua đã nổi bật bởi sự nhạy cảm với sự khác biệt và cam kết mạnh mẽ với tình đoàn kết. Thông qua những nỗ lực đáng kể của những người nam nữ luôn trung thành với nhân tính và các giá trị của Tin Mừng, Giáo Hội Công Giáo tại Pháp đã thể hiện sự quan tâm thường trực đến phúc lợi của người nghèo và những người thiệt thòi, và đã tìm cách trở thành hiện thân sống động của lòng thương xót và sự cảm thông của Thiên Chúa. Chúng ta có thể nghĩ đến các công việc tông đồ của Thánh Vinh Sơn Phaolô, sự phục hưng lòng bác ái trong thế kỷ 17, và, trong thời đại của chúng ta, nhiều cơ sở Công Giáo nơi những người chăm sóc đồng hành cùng anh chị em chúng ta trong những đau khổ của họ. Những tấm gương về sự chăm sóc và quan tâm này là một bài học đích thực về lòng nhân ái; chúng cho thấy sự cao cả của lòng thương xót và là lời nhắc nhở mạnh mẽ về giá trị độc nhất vô nhị và không thể thay thế của mỗi con người. Chúng cũng là lời kêu gọi đến một ý thức huynh đệ mới, dạy chúng ta đón nhận cuộc sống vô điều kiện, nâng đỡ sự yếu đuối bằng tình yêu thương, đồng hành cùng mọi giai đoạn của cuộc sống với sự tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau, và bảo vệ bằng lòng can đảm và lòng thương xót những người không thể lên tiếng và những người cảm thấy bị bỏ rơi hoặc bị lãng quên. Đó là lý do tại sao tôi "kiên quyết khẳng định lại rằng việc bảo vệ quyền sống là nền tảng không thể thiếu của mọi nhân quyền khác" (ibid.).

Ngày nay, người ta dễ có xu hướng kỳ vọng khoa học sẽ loại bỏ hoặc làm giảm bớt mọi hình thức đau khổ. Điều này thường dẫn đến nguy cơ tự lừa dối bản thân. Bởi vì khi khoa học và công nghệ không được dẫn dắt bởi một trí tuệ sâu sắc hơn, chúng có thể đưa ra những giải pháp tức thời, dường như đáp ứng được mong muốn và nỗi đau của con người, nhưng lại có thể làm họ chệch hướng khỏi mục tiêu tốt đẹp hơn mà họ hướng tới. Đôi khi tôi lo ngại về những xu hướng trong xã hội có nguy cơ biến khoa học và công nghệ thành những hoạt động kinh doanh vì lợi nhuận, thúc đẩy thao túng gen, mang thai hộ, buôn bán nội tạng người hoặc khả năng tự sắp xếp cái chết của chính mình. Chúng ta đừng quên rằng tôn trọng lẫn nhau và bảo vệ mọi sinh mạng con người là bổn phận của mỗi người trong chúng ta. Đó là một bổn phận bắt đầu từ sự chuyển đổi trong tâm trí và trái tim chúng ta, và đòi hỏi một sự cam kết chân thành và vị tha vì lợi ích của anh chị em mình.

Làm sao chúng ta có thể không nhận thấy sự cam kết như vậy là biểu hiện của tính "thế tục" đích thực (laïcité) của xã hội trần thế? Một Kitô hữu tham gia phục vụ cộng đồng và được hướng dẫn bởi ánh sáng lương tâm được soi rọi bởi đức tin, không thể bị coi là người chiêu dụ tín đồ hay mối đe dọa đến sự thống nhất của quốc gia. Thật vậy, tính thế tục đích thực không loại trừ tôn giáo mà còn có khả năng coi trọng nó như một nguồn lực giáo dục (xem Bài phát biểu trước các đại biểu tham dự Hội nghị toàn quốc của các giáo viên tôn giáo Công Giáo, ngày 25 tháng 4 năm 2026).

Đó chính là lý do tại sao các trường Công Giáo có một vị trí xứng đáng trong hệ thống giáo dục của một quốc gia như Pháp. Điều này là một phần của vấn đề rộng lớn hơn, thiết yếu đối với bất kỳ cuộc đối thoại nào, trong trường học và trong xã hội nói chung: đó là học cách hiểu biết và yêu thương bản thân, để có thể tiếp cận người khác với sự tôn trọng và cởi mở (ibid.).

Do đó, chủ nghĩa thế tục đích thực không nằm ở việc loại trừ tôn giáo khỏi lĩnh vực công cộng hay giáo dục, mà là ở việc nỗ lực bảo đảm rằng Nhà nước và các thể chế tôn giáo duy trì đối thoại và hợp lực phục vụ thiện ích chung, để thế giới có thể sống còn. Về vấn đề này, tôi bày tỏ sự đánh giá cao đối với công việc đang được thực hiện trong khuôn khổ Diễn đàn Đối thoại giữa Tòa Thánh, Giáo Hội Công Giáo tại Pháp và Chính phủ Pháp. Sự đóng góp của Giáo Hội Công Giáo, thông qua mạng lưới các hoạt động và thể chế của mình, chắc chắn đáng khen ngợi và có lợi cho toàn xã hội. Những hình thức hợp tác như vậy là một minh họa tốt cho sự bổ sung lành mạnh được mô tả bởi Công đồng Vatican II, bởi vì cộng đồng chính trị và Giáo hội "đều phục vụ ơn gọi cá nhân và xã hội của cùng một cá nhân, mặc dù dưới những danh xưng khác nhau. Sự phục vụ của họ sẽ hiệu quả và có lợi hơn cho tất cả mọi người nếu cả hai thể chế phát triển sự hợp tác tốt hơn" (Công Đồng Chung Vatican Hai, Hiến chế Mục vụ Vui Mừng và Hy Vọng, 76).

Tôi cũng rất vui mừng nhận thấy rằng, chính mong muốn giúp đỡ tất cả mọi người, bất kể nguồn gốc của họ, đã truyền cảm hứng cho sự hợp tác giữa Pháp và Giáo Hội Công Giáo trong việc hỗ trợ các Kitô hữu ở Trung Đông suốt nhiều thế kỷ qua. Công tác giáo dục, xã hội, văn hóa và nhân đạo được thực hiện tại các quốc gia đó, với sự hợp tác của nhiều tổ chức khác nhau như tổ chức Trợ Giúp Các Giáo Hội Đau Khổ và Phúc lợi Cận Đông, là một đóng góp quý giá cho đối thoại giữa các dân tộc và cho việc thúc đẩy quyền của mỗi người.

Qua đây, chúng ta thấy một minh chứng hùng hồn về cách thức văn hóa và tín ngưỡng đóng vai trò là trụ cột hỗ trợ các nỗ lực thúc đẩy sự hòa hợp giữa các dân tộc và tôn giáo khác nhau nhằm phục vụ hòa bình và làm trung gian hòa giải giữa các cá nhân và cộng đồng. Giáo dục đặc biệt quan trọng trong vấn đề này và là một trong những lĩnh vực hợp tác chính, thể hiện rõ nét và hiệu quả, đặc biệt là thông qua Quỹ hỗ trợ các trường học ở Trung Đông (Fonds pour les écoles d’Orient). Tại đây, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả những người tham gia vào dự án này, dự án mà kể từ khi thành lập vào năm 2021 đã giúp hỗ trợ hơn hai trăm sáu mươi cơ sở giáo dục ở Trung Đông, bao gồm bảy trường đại học ở Li Băng và Đại học Bethlehem.

Làm sao chúng ta có thể nói về phần thế giới này — nơi mà Hoàng tử Hòa bình được sinh ra cách đây hai ngàn năm — mà không nghĩ đến tất cả những người đàn ông, phụ nữ và trẻ em đang phải chịu đựng hậu quả của xung đột và tai họa chiến tranh? Chúng ta không thể thờ ơ trước nỗi đau của họ, nỗi đau xúc phạm đến phẩm giá con người và kêu thấu đến trời cao để đòi công lý. Sự nghiêm trọng của những tình huống này phải thách thức chúng ta và phải thôi thúc mỗi người chúng ta, dù ở bất cứ đâu, đến một sự hoán cải chân thành trong tâm hồn và thay đổi thái độ. Bằng cách khiêm tốn thừa nhận nhu cầu cần thiết của nhau, chúng ta sẽ có thể cùng nhau làm việc hiệu quả hơn để xây dựng một nền văn minh tình yêu thương trong lòng thế giới của chúng ta, một thế giới ngày càng trở nên phức tạp và phụ thuộc lẫn nhau hơn (xem Thông điệp Magnifica Humanitas, 182). Đồng thời, như vị tiền nhiệm của tôi, Thánh Gioan 23 đã chỉ ra trong thời của ngài, "công lý, lý trí đúng đắn và sự thừa nhận phẩm giá con người đang kêu gọi mạnh mẽ chấm dứt cuộc chạy đua vũ trang. Kho vũ khí tích lũy ở các quốc gia khác nhau phải được giảm bớt trên quy mô lớn và đồng thời bởi các bên liên quan. Vũ khí hạt nhân phải bị cấm. Phải đạt được một thỏa thuận chung về một chương trình giải trừ quân bị phù hợp, với một hệ thống kiểm soát lẫn nhau hiệu quả" (Thông điệp Pacem in Terris – Hòa Bình Tại Thế, 112). Thật vậy, niềm tin sai lầm rằng việc sở hữu vũ khí hạt nhân là một sự bảo đảm an ninh đang lan rộng và thúc đẩy một cuộc chạy đua vũ trang mới khó kiểm soát (xem Magnifica Humanitas, 194). Hòa bình không phải là sự cân bằng quyền lực; trái lại, nó được xây dựng từng ngày thông qua đối thoại và công lý.

Tôi kêu gọi anh chị em, đừng bao giờ cam chịu viễn cảnh chiến tranh hay coi nó là "không thể tránh khỏi", mà hãy kiên trì thúc đẩy đối thoại và ngoại giao, để gìn giữ những xã hội hòa bình, tôn trọng phẩm giá và quyền của cá nhân và các dân tộc. Trước những tin đồn về chiến tranh và các cuộc khủng hoảng khác nhau đang làm xáo trộn thế giới, nước Pháp được kêu gọi tiếp tục là người bảo vệ không mệt mỏi cho hòa bình và chủ nghĩa đa phương, đặc biệt là trong Âu Châu thân yêu của chúng ta. Mong rằng nước Pháp, trung thành với các giá trị truyền thống của mình, sẽ nỗ lực vì một nền hòa bình không vũ trang và không gây hấn, và đóng góp một cách có trách nhiệm vào mục tiêu đó. Mong rằng tự do của anh chị em sẽ phát triển trong sự quan tâm không ngừng đối với lợi ích chung. Mong rằng tình huynh đệ của anh chị em sẽ bao trùm toàn thể gia đình nhân loại. Và mong rằng sự bình đẳng mà anh chị em hướng tới sẽ luôn được xây dựng trên nền tảng của công lý và lòng bác ái - không phải bằng cách xóa bỏ sự khác biệt giữa con người, mà bằng cách cho phép chúng phát triển hài hòa vì lợi ích của toàn xã hội.

Thưa ngài Tổng thống, thưa quý vị, tôi xin một lần nữa cảm ơn quý vị về cuộc gặp gỡ này. Tôi muốn nhắc lại những lời mà ngài Tổng thống đã nói với các Giám mục nước Pháp vào năm 2018, rằng "một Giáo hội tuyên bố không quan tâm đến các vấn đề thế tục sẽ không hoàn thành sứ mệnh của mình; và một Tổng thống Cộng hòa tuyên bố không quan tâm đến Giáo hội và người Công Giáo sẽ không làm tròn bổn phận của mình." [3] Hãy tin tưởng rằng tôi sẽ cầu nguyện tha thiết cho quốc gia vĩ đại của quý vị.

Nguyện xin Chúa ban cho đất nước này sự bình an, hiệp nhất và thịnh vượng, để thế giới sống còn. Tôi phó thác những hy vọng này cho sự cầu bầu từ mẫu của Đức Trinh Nữ Maria, vị thánh bảo trợ chính của nước Pháp.

Nguyện Chúa ban phước lành cho nước Pháp và toàn thể người dân Pháp!

[1] Bài phát biểu trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc lần thứ 34, 7, 14; ngày 2 tháng 10 năm 1979.
[2] Xem. La France contre les robots, Rio de Janeiro 1946, 114.
[3] E. MACRON, Bài phát biểu của Tổng thống Cộng hòa tới các Giám mục nước Pháp, Collège des Bernardins, ngày 9 tháng 4 năm 2018.

Source:Dicastère pour la Communication - Libreria Editrice Vaticana