Chương 13: CUỘC LY GIÁO PHƯƠNG ĐÔNG
Từ thời Công đồng Can-xê-đoan (451) khi Rô-ma bác bỏ Điều khoản 28, điều khoản trao quyền tài phán rộng lớn cho Cons-tan-ti-nốp, mối quan hệ giữa hai tòa đã trải qua những giai đoạn căng thẳng cao độ. Nhiều thế lực khác nhau—chính trị, xã hội, văn hóa và tôn giáo—đã kéo hai tòa ra xa nhau. Thậm chí, một sự rạn nứt hoàn toàn đã xảy ra khi Thượng phụ chấp nhận Sắc chỉ của Hoàng đế Zeno (Henoticon, năm 482), điều khoản dường như phủ nhận định nghĩa của Can-xê-đoan về Chúa Kitô; mối quan hệ chỉ được khôi phục khi Cons-tan-ti-nốp từ bỏ lập trường của mình. Cuộc tranh luận Nhất chí (Monothelete) sau đó—về vấn đề sự thống nhất ý chí của Chúa Kitô—đã kết thúc với quan điểm của Rô-ma thắng thế Cons-tan-ti-nốp, nhưng Giáo hoàng không hoàn toàn thoát khỏi vụ việc mà không bị tổn hại: Đức Giáo Hoàng Hô-nô-ri-ô đã bị vạ tuyệt thông tại Công đồng Cons-tan-ti-nốp lần thứ ba (680) với tư cách là kẻ dị giáo cùng với bốn thượng phụ Byzantine. Sau đó, việc người Hồi giáo chiếm giữ ba giáo khu A-léc-xan-ri-a, An-ti-ô-ki-a và Giê-ru-sa-lem và sự cô lập của chúng đã khiến thượng phụ Cons-tan-ti-nốp trở thành người đứng đầu không thể tranh cãi của Kitô giáo phương Đông.
Nỗ lực của các Hoàng đế phương Đông nhằm thực thi chính sách bài trừ hình tượng (bãi bỏ tất cả các hình ảnh tôn giáo) vào thế kỷ thứ tám lại gây ra xung đột với các Giáo hoàng. Hơn nữa, việc Hoàng đế từ chối gửi viện trợ quân sự vào năm 753 sau một lời kêu gọi khẩn cấp đã khiến Đức Giáo Hoàng Stê-pha-nô chuyển sang cầu viện người Frank, mở ra chính sách dẫn đến việc Charlemagne lên ngôi hoàng đế. Tuy nhiên, một cuộc ly giáo khác không xảy ra cho đến khi Thượng phụ Phô-si-ô (Photius) (mất năm 895) xuất hiện. Nó chỉ là tạm thời. Nhưng rắc rối lại bùng phát vào thời của Thượng phụ Xê-ru-la-ri-ô (Cerularius) (mất năm 1058), và lần này cuộc ly giáo đã vĩnh viễn chia cắt Đông và Tây.
Cuộc ly giáo Phô-si-ô có thể bắt nguồn từ năm 858, khi Thượng phụ Cons-tan-ti-nốp, I-nha-xi-ô (Ignatius), bị Hoàng đế Michael III phế truất và thay thế bởi Phô-si-ô, điều này khiến Đức Giáo Hoàng Ni-cô-la I (mất năm 867) vô cùng bất bình. Mặc dù gặp khó khăn với I-nha-xi-ô, Đức Ni-cô-la vẫn kinh hoàng trước những bất thường rõ ràng trong việc phế truất ngài. Đức Ni-cô-la đã cử sứ giả đến Cons-tan-ti-nốp, những vị này đã quyết định ủng hộ Phô-si-ô. Nhưng khi Phô-si-ô tuyên bố không chấp nhận quyền tối cao của Giáo hoàng, Giáo hoàng lại từ chối công nhận ông là Thượng phụ. Vấn đề càng trở nên trầm trọng hơn bởi tình hình ở vùng Balkan, nơi Giám mục For-mô-sô (Formosus), một nhà truyền giáo Rô-ma, xung đột với các sứ giả Byzantine vì những lời chỉ trích của ngài đối với các truyền thống Byzantine liên quan đến hôn nhân của giáo sĩ, việc ăn chay Mùa Chay và việc phương Tây thêm công thức Filioque vào Kinh Tin Kính. Phô-si-ô đã cầm bút tố cáo những hành vi sai trái của người Rô-ma với các Thượng phụ phương Đông khác.
Vào thời điểm này, Basil người Macedonia đã tiếm quyền vào năm 867, phế truất Phô-si-ô và phục chức cho I-nha-xi-ô. Một vị Giáo hoàng mới, Đức Ha-dri-a-nô (Hadrian), đã tìm cách hòa giải, cử các đại biểu tham dự một công đồng tại Cons-tan-ti-nốp vào năm 869. Nhưng bầu không khí tại công đồng không thuận lợi cho việc khôi phục mối quan hệ tốt đẹp. Các thành viên đã từ chối tán thành tuyên bố do các sứ thần đưa ra, tuyên bố rằng đức tin được Tòa Thánh giữ gìn bất khả xâm phạm, và họ đã giao Giáo hội Bulgaria cho Cons-tan-ti-nốp bất chấp yêu sách của Rô-ma đối với vùng đất này.
Rồi, I-nha-xi-ô qua đời và Basil đã bổ nhiệm lại Phô-si-ô, người lúc này tỏ ra rất muốn hàn gắn mối quan hệ với Rô-ma. Một công đồng khác được tổ chức tại Cons-tan-ti-nốp vào năm 879, đã hủy bỏ các đạo luật năm 869 và công nhận tính chính thống tuyệt đối của Rô-ma. Ngay cả Bulgaria cũng được trả lại cho Rô-ma, mặc dù nhà vua Boris của nước này đã từ chối chấp nhận điều đó. Vì vậy, sự kiện kết thúc bằng một sự hòa giải hoàn toàn giữa tòa thượng phụ và giáo hoàng. Tuy nhiên, những người bạn của I-nha-xi-ô đã vội vã đến Rô-ma và lan truyền những tin đồn thất thiệt, dẫn đến một truyền thuyết về việc Phô-si-ô bị vạ tuyệt thông lần nữa.
Thế kỷ thứ mười là thời kỳ tương đối hòa bình giữa hai tòa—một nền hòa bình được thúc đẩy bởi mối quan hệ chính trị thân thiện giữa các Giáo hoàng cai trị Rô-ma từ năm 904 đến năm 962 với người Byzantine, những người một lần nữa đã thiết lập quyền kiểm soát của họ đối với miền nam nước Ý. Nhưng những vấn đề cũ vẫn chưa được giải quyết; chúng chỉ đơn giản là ngủ yên. Sự phục hưng của Đế quốc Tây Rô-ma một lần nữa đã khuấy động chúng lên. Khi Otto người Saxon vào năm 962 khôi phục Đế quốc, ông đã đảm bảo vị thế ưu việt của ảnh hưởng Đức đối với Rô-ma trong thế kỷ tiếp theo và do đó, các nguyên tắc cải cách bắt nguồn từ phương Bắc. Điều này cũng có nghĩa là việc bổ sung vĩnh viễn công thức Filioque vào Kinh Tin Kính. Thuật ngữ La-tinh này, được thêm vào Kinh Tin Kính ban đầu, thể hiện ý tưởng cho rằng Chúa Thánh Thần xuất phát từ cả Chúa Cha lẫn Chúa Con. Cách dùng này lần đầu tiên xuất hiện ở Tây Ban Nha, có lẽ tại Công đồng Toledo lần thứ ba (589), và lan truyền đến triều đình Carolingian, từ đó được các giáo sĩ người Đức mang đến Rô-ma. Sau một thời gian do dự, cuối cùng nó được hát ở Rô-ma vào khoảng năm 1000 và được chấp nhận như một phần của giáo lý chính thức.
Việc chấp nhận nó đã gây ra sự phẫn nộ tột độ đối với phương Đông. Đối với người phương Tây, nó chỉ đơn thuần là sự tinh chỉnh một ý tưởng đã có trong Kinh Tin Kính. Nhưng đối với người phương Đông, những người có lịch sử khiến họ nhạy cảm hơn với thuật ngữ Ba Ngôi, việc bổ sung thuật ngữ đó đã phá vỡ sự cân bằng tinh tế về các thuộc tính trong Ba Ngôi. Sự hiểu biết của họ về Ba Ngôi nhấn mạnh bản chất hiện diện khắp mọi nơi và bao trùm của Chúa Thánh Thần và chỉ cho phép họ nói rằng Chúa Thánh Thần ngự xuống qua Chúa Con, chứ không phải từ Chúa Con.
Tuy nhiên, liên quan đến cuộc tranh luận còn là một vấn đề cơ bản hơn: bản chất của thẩm quyền giáo hội và giáo hoàng. Thái độ của người phương Đông đối với thẩm quyền và quyền tối cao của giáo hoàng là không rõ ràng và mơ hồ. Đối với họ, các công đồng đại kết là thẩm quyền giáo lý được soi dẫn duy nhất; việc bổ sung vào một tín điều do một công đồng ban hành là đặt câu hỏi về thẩm quyền của công đồng đó. Chỉ có một công đồng đại kết khác mới có thể mở rộng hoặc giải thích định nghĩa của một công đồng trước đó. Một thuật ngữ mà họ có thể chấp nhận trên cơ sở suy đoán thuần túy lại có nghĩa là sa vào lạc giáo nếu nó được các Giáo hội phương Tây đơn phương thêm vào Tín điều. Và tuyên bố của một Giáo hoàng cũng không thể thay đổi điều này.
Nhưng điều này vẫn chưa có nghĩa là một sự ly giáo thực sự. Trên thực tế, các dân tộc thuộc thế giới Ki-tô giáo đã có mối liên hệ mật thiết với nhau hơn vào đầu thế kỷ thứ XI so với bất cứ thời kỳ nào kể từ khi người man rợ đến. Nhiều người hành hương đổ về phía Đông đến Giê-ru-sa-lem, trong khi người Hồi giáo thể hiện thái độ thân thiện. Và khi giao tiếp được cải thiện, đã có một số nỗ lực nhằm xác định rõ hơn mối quan hệ giữa hai tòa. Vào năm 1024, Thượng phụ Eustathius, với sự ủng hộ của Hoàng đế Basil II, đã đề xuất một công thức cho phép Rô-ma giữ quyền tối cao nhưng Cons-tan-ti-nốp vẫn tự cung tự cấp và tự chủ. Ban đầu, dường như Giáo hoàng đã đồng ý, nhưng các đan sĩ dòng Cluny phản đối việc chia nhỏ lãnh địa duy nhất, không thể chia cắt của Thánh Phêrô, và vì vậy Giáo hoàng đã rút lại sự đồng ý của mình. Vì vậy, Giáo hoàng và Thượng phụ vẫn xa cách nhau. Các sự kiện chính trị đã sớm làm trầm trọng thêm vấn đề.
Sự trở lại nắm quyền của người Byzantine ở miền nam nước Ý đã gặp phải sự kháng cự đáng kể và các cuộc nổi dậy định kỳ. Một trong những sự kiện đó diễn ra vào năm 1020 khi một thủ lĩnh người Apulia tên là Melo nổi dậy chống lại những kẻ áp bức người Hy Lạp và tìm kiếm sự giúp đỡ từ một số hiệp sĩ Norman đang hành hương trên đường đi. Cuộc nổi dậy thất bại, nhưng người Norman vẫn ở lại và dưới sự lãnh đạo của gia tộc Hauteville, họ bắt đầu cuộc chinh phạt có hệ thống miền Nam. Ban đầu, các Giáo hoàng không mấy tiếc nuối trước những chiến thắng của người Norman trước người Byzantine, bởi vì mặc dù những kẻ chinh phục này là những kẻ cướp bóc, họ vẫn là những người Công Giáo La-tinh. Nhưng khi người Norman bắt đầu đe dọa biên giới của mình, Đức Giáo Hoàng Leo (mất năm 1054) quyết định đã đến lúc phải liên minh với Hoàng đế Byzantine để trấn áp họ. Tuy nhiên, một vấn đề sớm nảy sinh liên quan đến các vùng lãnh thổ mà người Norman đã đưa vào sự thống trị của Công Giáo La-tinh. Giáo hoàng không có ý định cho phép chúng trở lại sự cai trị của Byzantine cũng như không cho phép khôi phục các nghi lễ giáo hội của người Hy Lạp. Toàn bộ xu hướng ở Rô-ma vào thời điểm này của ngôi giáo hoàng cải cách là hướng tới sự tuân thủ và kỷ luật nghiêm ngặt.
Vào thời điểm đó, Thượng phụ Cons-tan-ti-nốp là Mi-ca-e Xê-ru-la-ri-ô, người lên tòa năm 1043. Ông là một cựu công chức với tất cả những hạn chế mà vị trí đó kéo theo, thiếu đi sự tinh tế, dí dỏm và kiến thức thần học như Phô-si-ô, kiêu ngạo, tham vọng và vô cùng được lòng dân. Ông cũng có cái nhìn khá thấp về Giáo hoàng, không nhận thức được những thay đổi do các cuộc cải cách gần đây mang lại ở Rô-ma. Lấy cảm hứng từ việc Giáo hoàng khăng khăng tuân thủ các nghi thức La-tinh ở vùng lãnh thổ do người Norman chiếm đóng ở Ý, ông đã ra lệnh cho các nhà thờ La-tinh ở Cons-tan-ti-nốp áp dụng các nghi thức Hy Lạp. Khi họ từ chối, ông đã đóng cửa các nhà thờ này và ra lệnh cho Leo, tổng giám mục và người đứng đầu Giáo hội Bulgaria, viết thư cho giám mục của Trani ở Apulia, miền nam nước Ý, và lên án những phong tục La-tinh như việc sử dụng bánh không men trong Thánh Thể. Bức thư này phải được chuyển đến Giáo hoàng.
Bức thư công kích dữ dội này đến tay Đức Giáo Hoàng Leo vào một thời điểm không may: Ngài vừa bị người Norman đánh bại và đang bị giam giữ trong điều kiện danh dự tại Benevento. Hồng Y Thư ký của ngài, Humbert xứ Moyen-Moutier, đã dịch nó cho ngài và có lẽ—với vốn kiến thức tiếng Hy Lạp ít ỏi của mình—đã phóng đại giọng điệu xúc phạm. Giáo hoàng, người mong đợi sự hợp tác thân thiện từ phía người Byzantine, đã rất phẫn nộ và sắp sửa gửi thư trả lời thì một sứ giả từ Cons-tan-ti-nốp đến mang theo hai bức thư hòa giải từ Hoàng đế và Thượng phụ, kêu gọi sự thống nhất chặt chẽ hơn. Tuy nhiên, điều đáng tiếc nhất là Xê-ru-la-ri-ô đã gọi Giáo hoàng là "Anh em" thay vì "Cha" như thường lệ và ký tên là "Thượng phụ Đại kết", điều mà người Rô-ma hiểu lầm là tuyên bố quyền lãnh đạo toàn bộ Giáo hội. (Cách dùng từ Oikoumene của người Byzantine thực chất chỉ có nghĩa là "Đế quốc").
Tình tiết đáng tiếc tiếp theo phần nào phải đổ lỗi cho Hồng Y Humbert nóng tính và ngang bướng, người không hề yêu mến người Hy Lạp. Ngài quyết định phải cử các sứ thần đến kinh đô Byzantine, và soạn thảo hai bức thư cho họ mang theo—một cho Thượng phụ và một cho Hoàng đế. Bức thư gửi Thượng phụ lên án việc ngài tự xưng là “Đại kết”, bất bình trước những lời chỉ trích của ngài về các tục lệ La-tinh, và cầu nguyện để các sứ thần sẽ thấy ngài hối cải.
Khi đến nơi, các sứ thần, trong đó có chính Hồng Y Humbert, đã bị xúc phạm bởi nghi thức tiếp đón đến nỗi họ chỉ đơn giản là đưa bức thư cho Thượng Phụ Xê-ru-la-ri-ô mà không chào hỏi. Thượng Phụ Xê-ru-la-ri-ô vô cùng kinh ngạc. Từng nghe nhiều về sự lịch thiệp và nhã nhặn của Đức Giáo Hoàng Leo, ngài không thể tin rằng một người như vậy, người hơn nữa, ngài biết đang là tù nhân và do đó có lẽ không ở vị thế có thể phái sứ thần, lại có thể cho phép những sứ thần thô lỗ như vậy hoặc một bức thư như vậy. Ngài từ chối công nhận thẩm quyền của các sứ thần hoặc có bất cứ giao dịch nào với họ.
Mặt khác, Hoàng đế lại tiếp đón họ nồng hậu—điều này khuyến khích Hồng Y Humbert công bố một số tài liệu để bảo vệ các tục lệ La-tinh. Đến lượt một đan sĩ Byzantine đưa ra lời phản bác rất gay gắt về chế độ độc thân và các tập tục khác của người La-tinh. Hồng Y. Humbert liền nổi giận và trút giận lên vị đan sĩ bằng một bài diễn văn đầy cay độc, đồng thời nêu lên vấn đề khiêu khích Filioque (và Chúa Con). Thượng Phụ Xê-ru-la-ri-ô tiếp tục phớt lờ sự hiện diện của họ. Cuối cùng, khi đã hết kiên nhẫn, Hồng Y Humbert và các đồng nghiệp của ngài bước vào Nhà thờ Santa Sophia vào thứ Bảy, ngày 16 tháng 7 năm 1054, ngay trước khi bắt đầu lễ chiều, và đặt lên bàn thờ một sắc lệnh tuyệt thông Thượng Phụ Xê-ru-la-ri-ô, Hoàng đế Mi-ca-e Cons-tan-ti-nô và tất cả những người theo họ, rồi rời đi một cách trang trọng, rũ bỏ bụi bẩn khỏi chân.
Như nhà sử học Stephen Runciman đã nói, ít văn kiện giáo hội nào có tầm quan trọng lớn như vậy lại chứa đựng nhiều điều dối trá đến thế. (54) Bên cạnh việc từ chối tước hiệu Thượng phụ cho Xê-ru-la-ri-ô cả về phương diện bản thân lẫn với tư cách là giám mục Cons-tan-ti-nốp, sắc lệnh còn buộc tội người Hy Lạp phạm tội mua thần bán thánh (tội lỗi lớn nhất của Giáo hội phương Tây thời bấy giờ, như Humbert biết rõ hơn ai hết), tái rửa tội cho người La-tinh (không đúng sự thật), cho phép các linh mục kết hôn (không chính xác), rửa tội cho phụ nữ đang chuyển dạ, bỏ qua Luật Mô-sê, từ chối ban thánh thể cho những người đàn ông đã cạo râu (không đúng sự thật), và cuối cùng, bỏ sót một điều khoản trong Kinh Tin Kính (!).
Dân chúng, vốn đã tức giận với Hoàng đế vì sự ưu ái mà ông dành cho người La-tinh, đã nổi loạn. Chỉ bằng cách ra lệnh đốt sắc lệnh một cách công khai và long trọng, Hoàng đế mới thành công trong việc dẹp yên thành phố. Một hội nghị giáo sĩ đã lên án hành động của các sứ thần và long trọng tuyên bố Hồng Y Humbert và những người đồng hành của ngài là phạm thượng, đồng thời cẩn thận tránh đề cập đến ngôi vị Giáo hoàng.
Điều này mở ra cơ hội cho Giáo hoàng nối lại các cuộc đàm phán thân thiện—và trên thực tế, vì Đức Giáo Hoàng Leo qua đời trước khi các sứ thần đến Cons-tan-ti-nốp, nên các sứ thần đã hành động mà không có thẩm quyền thực sự, do đó một Giáo hoàng kế nhiệm có thể dễ dàng bác bỏ hành động của họ mà không mất đi uy tín nào. Toàn bộ sự việc có thể được bỏ qua như một sai sót đáng tiếc. Và ban đầu, nó được nhìn nhận như vậy ở phương Đông. Nhưng ở phương Tây thì khác. Với việc Hồng Y Humbert ngày càng được trọng vọng trong Giáo triều, phiên bản sự việc của ngài —nghe giống như một bài ca chiến thắng — được chấp nhận là đúng. Các Giáo hoàng kế nhiệm đã đi theo đường lối của ngài. Đức Giáo Hoàng Grê-go-ri-ô VII là bạn thân nhất của Hồng Y Humbert và sẽ không bao giờ nghĩ đến việc bác bỏ hành động của ngài. Các ngài tin rằng Hồng Y Humbert đã làm điều đúng đắn khi rút phép thông công một giám mục ngoan cố và không ăn năn; vì những người kế nhiệm của Thượng phụ cũng từ chối xin tha tội, nên họ cũng bị coi là tham gia vào cuộc ly giáo. Bằng cách tiếp tục bầu chọn và ủng hộ các giám mục ly khai, toàn bộ Tòa Thượng phụ Cons-tan-ti-nốp cuối cùng đã bị đưa vào danh sách tuyệt thông.
Sau đó, để làm phức tạp thêm vấn đề, chính sách của Đức Grê-go-ri-ô VII đã dẫn ngài đến một liên minh mật thiết với người Norman, trong khi Hoàng đế Đông Rô-ma lại thấy hữu ích khi vun đắp tình bạn với Henry IV, kẻ thù không đội trời chung của Đức Grê-go-ri-ô. Cuối cùng, Đức Grê-go-ri-ô đã vạ tuyệt thông Hoàng đế Byzantine A-léc-xi-ô vào năm 1081. Đến khi Đức Grê-go-ri-ô qua đời năm 1085, quan hệ giữa Kitô giáo Đông và Tây Rô-ma trở nên vô cùng lạnh nhạt. Tuy nhiên, vẫn chưa có sự ly giáo thực sự nào xảy ra.

Một sự tan băng dường như có thể xảy ra với việc bầu chọn Đức Ur-ba-nô II, một chính khách đích thực, một người đàn ông mạnh mẽ, có thiện chí, tránh xa xung đột và tranh cãi. Ngài đã mở các cuộc đàm phán với triều đình Byzantine và dỡ bỏ lệnh tuyệt thông đối với Hoàng đế A-léc-xi-ô. Đáp lại, A-léc-xi-ô đã triệu tập một hội nghị tại Cons-tan-ti-nốp, nơi phát hiện ra rằng tên của Giáo hoàng đã bị "vô tình" bỏ sót khỏi các tấm bảng ghi danh (diptych), mà ở Byzantium cũng như ở Rô-ma vốn liệt kê các giám mục và những người khác xứng đáng được tín hữu cầu nguyện cho. (Trong suốt cuộc tranh cãi, cả Rô-ma và Byzantium đều đã loại bỏ tên của đối thủ khỏi các tấm bảng ghi danh của họ.) Hoàng Đế A-léc-xi-ô đề nghị khôi phục lại tên của Giáo hoàng nếu Giáo hoàng có cử chỉ hòa giải, nhưng cử chỉ đó không bao giờ xảy ra, và tên của Giáo hoàng không bao giờ được đưa trở lại vào các tấm bảng ghi danh. Tuy nhiên, mối quan hệ tốt đẹp giữa hai tòa đã được nối lại.
Vì vậy, khi Đức Giáo Hoàng Ur-ba-nô kêu gọi một cuộc thập tự chinh tại Clermont vào năm 1095, một trong những động cơ của ngài là mang lại sự giúp đỡ cho các tín hữu Kitô giáo phương Đông đang bị bao vây. Điều đó sẽ giúp xua tan những hiềm khích trong quá khứ và dẫn họ đến việc công nhận Giáo hoàng là người lãnh đạo toàn thể Kitô giáo.
Nhưng thay vào đó, tác động của các cuộc thập tự chinh lại hoàn toàn ngược lại. Chúng đã chứng tỏ là thảm họa đối với sự nghiệp thống nhất Kitô giáo. Hoàng đế và quân thập tự chinh tranh giành thành phố An-ti-ô-ki-a vừa được tái chiếm. Người dân Byzantine theo Kitô giáo phương Đông trung bình sớm học cách căm ghét những hiệp sĩ phương Tây thô lỗ, tham lam, những người đã đáp trả lại bằng sự căm ghét gấp bội. Khi quân thập tự chinh chiếm được An-ti-ô-ki-a vào năm 1098, người lãnh đạo của họ đã phạm phải sai lầm không thể tha thứ khi trục xuất Thượng phụ Hy Lạp và bổ nhiệm một Thượng phụ La-tinh thay thế. Sự chia rẽ ở An-ti-ô-ki-a thực sự là khởi đầu của sự chia rẽ giữa Giáo hội Đông phương và Tây phương, vì cho đến lúc đó, các tòa thượng phụ khác có thiện cảm với Rô-ma hơn là Cons-tan-ti-nốp, và nếu bị buộc phải công nhận bất cứ bề trên giáo hội nào thì họ cũng sẽ thích Rô-ma xa xôi hơn Cons-tan-ti-nốp.
Mặc dù không thể đưa ra một ngày chính xác cho sự khởi đầu của cuộc chia rẽ, nhưng chính cuộc Thập tự chinh thứ tư (1202–04) đã chấm dứt mọi hy vọng về sự tái thống nhất cuối cùng. Những thập tự quân được Giáo hoàng In-nô-cen-tê III điều hướng tới Thánh địa đã bị chuyển hướng bởi một vị hoàng tử trẻ người Byzantine tự xưng, người đã hứa hẹn những phần thưởng lớn nếu họ đưa ông ta lên ngai vàng Cons-tan-ti-nốp. Không tham khảo ý kiến của Giáo hoàng, những người thập tự chinh đã đồng ý. Nhưng vị hoàng tử trẻ tuổi đã tỏ ra không đủ năng lực để cai trị, và giữa sự hỗn loạn và xáo trộn khủng khiếp, những người thập tự chinh vào năm 1203 đã cướp phá thành phố Cons-tan-ti-nốp tráng lệ, thậm chí không tha cả các nhà thờ. Sự tàn bạo này đã in sâu vào ký ức của người Byzantine và gây ra sự chia rẽ cuối cùng giữa Giáo hội Hy Lạp và La-tinh.
Sau đó đã có hai nỗ lực hàn gắn rạn nứt với Giáo hội Cons-tan-ti-nốp, tại Công đồng Lyon năm 1274 và tại Florence năm 1439, nhưng chúng chỉ mang tính hình thức; trong cả hai trường hợp, động cơ đều là chính trị. Mặc dù trong mỗi trường hợp, Hoàng đế và Thượng phụ đều tán thành việc thống nhất, nhưng chúng chưa bao giờ ảnh hưởng đến đời sống chung của các Giáo hội. Chỉ đến thời đại của chúng ta, liên quan đến Công đồng Vatican II, những bước tiến quan trọng mới được thực hiện, mang lại hy vọng về sự tái hiệp nhất cuối cùng.