Ngày 09-03-2009
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Mỗi ngày một câu danh ngôn của các thánh
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
00:26 09/03/2009
N2T


103. Vì để khiến cho bất cứ việc gì cũng thành công, thì chỉ cần đem việc làm của bạn là việc mà Thiên Chúa cần, thì bạn đều tận lực làm mà không cần biết kết quả như thế nào ? Thành công thì cũng tốt, thất bại cũng tốt, như thế thì bạn thường yên trí, bình tĩnh tự nhiên.

(Thánh Vincentius)
 
Mỗi ngày một câu Cách Ngôn
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
00:27 09/03/2009
N2T


47. “Tiết kiệm thời gian” cũng là khiến cho một người trong cuộc sống có hạn càng có hiệu quả, và cũng có nghĩa là kéo cuộc sống của người ấy dài thêm.

 
Chay thời khủng hoảng kinh tế
Sr. Têrêxa Ngọc Lễ o.p
04:13 09/03/2009
CHAY THỜI KHỦNG HOẢNG KINH TẾ.

Trong đêm 28- 2 vừa qua, một mini show nhạc Trịnh của Hồng Nhung và Quang Dũng đã được tổ chức tại nhà hàng On The Six ở thành phố Sàigon. Sẽ chẳng có gì đáng nói với một tổ chức nghệ thuật như thế thời khó khăn kinh tế hiện nay vì các ca sĩ có tiếng này đã biết theo thời để không làm những live show hoàng tráng như trước đây. Nhưng với giá vé 3 triệu đồng cho một thượng khách đã khiến nhiều người phải giật mình bởi vé đặc biệt này. Trong đêm nhạc ấy, người ta thấy có 100 thượng khách là các bậc đại gia, là những người có tiền trong xã hội đang quá sung sướng tiêu xài tiền triệu để chỉ thưởng thức một đêm nhạc không quá 3 tiếng đồng hồ. Ba triệu đồng có đáng là gì trong hàng triệu đồng bỏ ra vui chơi trong những vũ trường, chầu nhậu hạng sang ở nhà hàng, khách sạn của người nhiều tiền. Chuyện ấy cũng chỉ là chuyện “ thường ngày ở huyện” khi mức tiêu xài của những bậc thượng lưu vốn dĩ vẫn thường là như thế! Chẳng biết khi tai nghe nhạc Trịnh, mà tâm có sáng để ngộ ra triết lý sống ở đời cho phù hợp thực tế hôm nay không nữa!

Có lẽ, khi 100 thượng khách nọ đang say sưa thưởng thức đêm nhạc trong căn phòng ấm cúng, sang trọng, lại có hàng trăm, hàng trăm ngàn người khác bên phố chợ chỉ mơ có một trăm, hoặc hai ba trăm ngàn cho cơm áo, thuốc men… mà vẫn không có đủ trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp đang đe doạ.

Khủng hoảng tài chính, kinh tế thế giới chẳng lẽ không ảnh hưởng đến những người lắm của nhiều tiền ấy! Những người ấy có quan tâm đến một làng sóng that nghiệp đang đe dọa ngay tại nước Mỹ,- một siêu cường quốc về kinh tế- đang chao đảo từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Con số người bị that nghiệp tại Mỹ do bị ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu đã ở ngưỡng 600.000. Đã có những người tự tìm đến cái chết vì phá sản, vì nợ nần. Biết bao người giàu có trở nên trắng tay, nợ nần không thể trả nổi. Những hình ảnh biết nói của hàng trăm, và hàng trăm người đội mưa để đứng chờ tìm việc tại Trung Quốc; hoặc các bà nội trợ Nhật Bản đã phải tự đưa ra gói tiết kiệm trong chi tiêu nhằm cứu vãn kinh tế của gia đình. Tại Hàn Quốc, có những kỹ sư đã phải xếp hàng, nộp đơn để xin vào chân quét rác đường phố khi việc cắt giảm lao động tại công ty, nhà máy đang diễn ra. Cuộc khủng hoảng kinh tế đã lan sang các nước nghèo như một qui luật tự nhiên xã hội. Theo Ông Dominique Strauss Kahn- Tổng Giám đốc Quĩ Tiền tệ Quốc tế cho biết, hiện nay có khoảng 22 nước nghèo ( trong đó có Việt Nam) can được viện trợ với số tiền lên đến 140 tỉ USD ( Tuổi trẻ- Thế giới- Thứ Năm 5/3/2009).

Vậy mà, đã có nhiều người vẫn ngỡ tưởng chuyện khủng hoảng, khó khăn kinh tế chỉ ở mãi phương trời xa xôi nào đó và chẳng liên quan đến họ, nên mới có chuyện tiêu xài một cách thoải mái, mà không nghĩ đến sự khốn khó của anh chị em mình.

Không chỉ là chuyện một giá vé đêm nhạc nọ, nhưng xung quanh ta đang có biết bao “ giá vé nghìn vàng” khác đang đi qua cuộc đời mình trong sự vô cảm với nỗi khổ của đồng loại. Một chai X.O của người này sẽ là khoản viện phí cho chồng, cho con của người kia đang mơ có được để chữa trị cho người thân của mình. 3 triệu đồng ấy có thể giúp cụ già không phải cúi rạp lưng bước đi mệt nhọc với xấp vé số trên đôi tay run ray già nua. 3 đồng triệu ấy là khoản tiền trong mơ đứa bé mong có để được đến trường mà vẫn không thể; 3 triệu đồng ấy là cả hai ba tháng trời của người phụ nữ cúi mặt xuống đống rác nhơ bẩn, bới móc từ đống rác kiếm những chai nhựa phế thải để đổi lấy đồng tiền bát gạo; 3 triệu ấy là tiền công gần 100 ngày của những người phụ nữ làm nghề phu vác đá ở mỏ đá Thạch Hải, huyện Thạch Hà ( Hà Tĩnh). ..

Vậy mà sao ai đó chẳng nhớ cái oằn lưng, mồ hôi nhễ nhại, bát cơm chỉ có chút nước mắm của ai đó để nhìn lại chính mình, ngộ ra cái giàu nghèo chẳng có giới hạn rạch ròi, để nhìn lại hôm qua, hôm nay và ngày mai của mình và của bao người xung quanh. Hôm nay vung tiền như nước cho bản thân, mà quên đi nỗi cùng cực của đồng loại, sao có thể là người trong mối tương giao đồng loại? Sao có thể là anh em khi không trải nghiệm một ngày, một tháng không có tiền để đóng học cho con của anh chị em mình? …Và cái vô tâm còn tệ hại hơn nữa, khi người quyền thế dám cắt xén, đánh cắp luôn chén cháo cứu trợ của người đang đói…

Chúa Giêsu mời gọi chúng ta bước vào Mùa Chay bằng sự chia sẻ, hiệp thông và giúp đỡ nhau. Cơn cám dỗ vật chất, sự tiêu xài thoả mãn nhu cầu mỗi ngày tinh vi và có cách biện hộ riêng của nó. Quyền chi tiêu thuộc về người có tiền, sở hữu nó. Nhưng mối liên hệ cộng đồng không cho phép người ta chỉ sống cho riêng mình, và chỉ thoả mãn chính mình. Nếu chỉ biết đến bản thân mình mà quên đi người anh em, đó có là chân lý, là cách để ai đó làm cho mình hoàn thiện trong cuộc sống này không?

Người Kitô hữu được mời gọi luôn biết sống và sẻ chia với người anh em trong mỗi giây phút đời họ. Không thể là hình ảnh Đức Kitô khi chỉ biết đến bản thân, chỉ biết thụ hưởng mà không biết cho đi. Người Kitô hữu không thể là ánh sáng, là muối cho trần gian nếu họ không nhận nhiều Lazaro nghèo khó xung quanh mình mỗi ngày. Sẽ không sống chứng nhân, không chay tịnh thật lòng nếu không có đôi mắt sáng để biết cân bằng những nhu cầu của mình và của tha nhân.

Vậy đó, một thời của khủng hoảng kinh tế và mùa Chay đang song hành trong đời người Kitô hữu. Sẽ ý nghĩa biết bao khi người Kitô hữu nhận ra dấu chỉ của thời đại trong ánh sáng của niềm tin, biết phân định để tìm cho mình một dấu ấn của chay thánh giữa nỗi đau, thất vọng của người anh em trong nhịp đời khốn khó này. Chọn một con đường, chọn một hình thức chay tịnh giữa thời khủng hoảng kinh tế là thao thức của những tâm hồn Kitô thực giữa xã hội hôm nay.

Xin hãy để một đồng sẻ chia thời khủng hoảng kinh tế có một sức mạnh yêu thương và chay thánh trong mỗi nhịp đời của chúng ta. Đừng để phí cơ hội, thời cuộc qua đi mà không làm cho tâm hồn mình lớn lên trong ân sủng của mùa Chay thánh này.
 
Chiến đấu
Thanh Thanh
17:30 09/03/2009
Mùa chay là mùa tập luyện, mùa chay tịnh, mùa chiến đấu và cũng là mùa hồng ân. Muốn vậy ta phải chiến thắng trong cuộc chiến chính nghĩa này với nguồn lực là Thánh Thần, nội lực là bản thân và trợ lực là cộng đoàn. Đặc biệt, là phải biết dùng cây thập giá Chúa Giêsu mà đập tan mọi sức mạnh của bóng tối đam mê, của sự dữ.

Muốn chiến thắng, phải chiến đấu. Muốn thành công, phải vượt khó. Muốn thành đạt, phải đầu tư. Muốn hạnh phúc, phải tìm kiếm. Muốn nhận nhiều, phải cho nhiều. Có rất nhiều điều ta muốn, dĩ nhiên, muốn cũng đồng nghĩa với cố gắng, đầu tư, chờ đợi, tìm kiếm, tin tưởng và hy vọng.

Có bao nhiêu ngày để sống, thì cũng có bấy nhiêu ngày con người phải chiến đấu. Chiến đấu vượt qua khó khăn của thiên nhiên và thời tiết, học vấn và nghề nghiệp, tình cảm và tình duyên, hôn nhân và gia đình, xã hội và tôn giáo, cám dỗ và lầm lỡ, thất vọng và vươn lên, gục ngã và đứng dậy. phục thiện và hy vọng… Đời là một chuỗi thử thách đòi ta phải vượt qua. Mà chiến thắng bản thân còn khó hơn các cuộc chiến nơi sa trường. Vậy Chúa mới nói: “hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Mc 8,34). Kinh nghiệm này quá nhiều với mỗi người.

Maisen và dân thánh

Mùa chay, Lời Thánh nhắc lại câu truyện Maisen cứu dân thoát khỏi ách thống trị của Pharaô.

Cuộc chiến thật cam go. Maisen vượt qua tất cả những hạn chế của bản thân để làm theo Chúa. Vượt qua nỗi khiếp sợ khi phải đối diện sức mạnh quyền lực và bạo lực của Pharaô. Vượt lên chính mình để đồng hành với dân thánh trong suốt hành trình gian khổ trong sa mạc. Nơi mà mọi thứ như không muốn đón chào phái đoàn đến viếng thăm. Thời tiết thì nắng cháy, sỏi đá lại lặng yên, cây cối thì khô cằn, muông thú thì trốn chạy. Cuộc sống không đầy đủ tiện nghi. Thiếu cơm ngon nước ngọt, thiếu chăn ấm nệm êm, thiếu giải trí vui chơi, thiếu học hành nghề nghiệp. Cuộc sống dường như chẳng có hy vọng nào khác ngoài việc tin tưởng làm theo hướng dẫn của Chúa.

Thời gian 40 năm trong sa mạc quả là một cuộc chiến đầy thử thách và dài lâu, đến nửa đời người. Dài đến độ lòng kiên nhẫn của con người có hạn nên một số không chịu được, đã nghi ngờ, phàn nàn, trách móc kêu ca Đức Chúa. Còn Maisen, vừa phải kiên nhẫn làm theo lời Chúa, vừa phải nhẫn nhục và nhân từ đối với dân. Họ đã phải vượt qua bản thân để thực hiện lời của Đức Chúa, toàn những điều khó hiểu, khó nói, khó làm.

Hành trình này: Thiên Chúa đã thực hiện được lời hứa trung thành và yêu thương của Người. Maisen, đời mình luôn chăm chú theo Chúa, gắn bó và sống chết với dân. Còn dân, nhờ vậy được thanh tẩy, xứng đáng vào đất hứa. Đất chảy sữa và mật ong. Họ đã chiến thắng trong cuộc chiến chính nghĩa.

Chúa Giêsu và dân thánh

Mùa chay, Lời Chúa cho ta biết đến cuộc chiến của Chúa Giêsu trước khi Ngài đi rao giảng công khai. Ba cuộc chiến tưởng chừng như đơn giản nhưng lại thật khó khăn. Vì nó gần gũi và gắn bó với cuộc sống. Là những thứ hấp dẫn khiến nhiều người đấu tranh, tìm kiếm, đôi khi bằng bất cứ giá nào, thủ đoạn nào, miễn có là được.

Đó là nhu cầu của bản năng. “Sao các con còn ngủ, dậy mà cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ” (Lc 22,46). Đói ăn, khát uống, toàn những nhu cầu chính đáng. Nhờ vậy, con người mới có thể tồn tại.

Đó là nhu cầu tình cảm, muốn được người ta tung hô chúc tụng. Khác với Ađam và Eva, Chúa Giêsu không để cho tình cảm xen vào làm hỏng chuyện lớn, hư sự nghiệp.

Đó là nhu cầu của quyền lực. Để thống trị, bắt mọi người quy phục mình. Lucifer thua nên đã hãnh diện tuyên bố: “Ta sẽ lên trời. Trên các vì sao của Thiên Chúa, ta sẽ bác ngai ta. Ta sẽ ngự trên núi Tao Phùng, nơi bồng lai cực bắc. Ta sẽ lên chót vót từng mây, nơi ta sẽ đồng hàng với Thiên Chúa” (Is 14,13-14).

Với dân thánh, rất nhiều người cũng nhiệt tình trong lời mời sám hối và chiến đấu. Thế nhưng cũng có quá nhiều người không vượt qua được 3 thử thách ấy. Người được một, người thì được hai...

Còn Chúa Giêsu, Ngài đã dùng chiếc gậy là Lời Chúa làm sức mạnh để chiến thắng ma quỷ. Có lời chép rằng. “Lời” đây là Lời Thiên Chúa, là Thánh Kinh.

Con người luôn bị cám dỗ bởi cái tôi, tìm kiếm cái tôi, để cao tự do cá nhân, thoả mãn dục vọng xác thịt, và khuynh hướng thống trị thì càng mạnh hơn. Satan nhìn thấy được khát vọng này, nên đã tinh vi dẫn ta vào những ham muốn đó với những phương tiện xấu để ta dần xa đường lạc lối, té ngã đến lúc khó có thể gượng dậy được. Vì thế, hãy đọc và suy gẫm Lời Chúa sẽ đem lại cho chúng ta sức mạnh để chiến thắng sự dữ.

Trong sa mạc 40 năm, tuy dài nhưng họ còn có nước để uống, có manna, có chim cút để ăn. Còn Chúa Giêsu, tuy chỉ 40 đêm ngày, nhưng Ngài không bánh, không nước, cũng chẳng có chim cút. Nhưng cuối cùng, họ đã thắng nhờ Maisen dẫn dắt theo cách thức Chúa chỉ. Cuối cùng, Chúa Giêsu đã thắng, nhờ dựa vào sức mạnh của Lời hằng sống. Cuối cùng, người tín hữu cũng sẽ thắng nếu biết nghe theo Chúa.

Giáo hội và dân thánh

Mùa chay, Tin Mừng tha thiết mời gọi ta thực hiện những việc quen thuộc để chết đi con người cũ do tội và sống cho con người mới do ân sủng, đầy Chúa và trong Chúa. Vì thế, từ thứ Tư lễ tro, Giáo hội nhắc cho ta hãy siêng năng cầu nguyện, chay tịnh và tiết độ, thương xót và chia sẻ.

Nhờ cầu nguyện, dân thánh có sức mạnh của Thiên Chúa mà trung thành đi theo con đường đức tin.

Nhờ chay tịnh, dân thánh có khả năng chế ngự xác thịt, hãm dẹp mọi thứ dục vọng, mọi thứ đam mê, hay những khuynh hướng xấu do ma quỷ gây ra.

Nhờ chia sẻ, dân thánh thoát ra được cái hạn hữu ích kỷ của kiếp người, biết nghĩ đến đồng loại là anh em của mình, những người khốn khổ đang cần ta giúp đỡ.

Nhờ cẩn thận làm các điều ấy mà ta mạnh mẽ lên, can đảm hơn, bình an hơn.

Nhờ chiến thắng trong cuộc chiến ghê sợ này, ta mới dễ dàng nhớ đến, cám ơn và ca tụng người bạn đồng hành là Giáo hội, người yêu lý tưởng là Chúa Giêsu, người cha nhân từ và hay thương xót là Thiên Chúa.

Nhờ cuộc chiến ngắn hạn này mà được mọi sự tốt lành thì ta sẽ nhận ra Thiên Chúa của mình thật nhân từ, đã cho ta cơ hội để chiến đấu như vậy. Cuộc chiến nào cũng đòi trả giá. Nhưng cái giá phải trả bây giờ so với kết quả là sự sống đời đời, là thiên đàng vĩnh cửu, là Thiên Chúa tuyệt đối thì chẳng thấm vào đâu. Thánh Phaolô nói thật hay: “Anh em chẳng biết sao: trong cuộc chạy đua trên thao trường, tất cả mọi người đều chạy, nhưng chỉ có một người đoạt giải. Anh em hãy chạy thế nào để chiếm cho được phần thưởng. Phàm là tay đua, thì phải kiêng kỵ đủ điều, song họ làm như vậy là để đoạt được phần thưởng chóng hư; trái lại chúng ta nhằm phần thưởng không bao giờ hư nát” (1Cr 9,24-25).

Mùa chay đã đến rồi, ta hãy nhìn thẳng vào Chúa Giêsu mà chạy, chạy thật nhanh để chiến thắng nhờ siêng năng làm ba việc: cầu nguyện, chay tịnh và chia sẻ. Nào ta cùng chạy.
 
Mỗi ngày một câu chuyện
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
00:25 09/03/2009
CÁI TÔI TRỐNG RỖNG

N2T


Có một đệ tử vì để được minh tâm kiến tính mà miệt mài không nghỉ, cuối cùng bị bạo bệnh nằm trên giường. Đại sư nói: “Quang minh có thể bù cho đủ, nhưng không phải dùng tay; kiến tính cũng có thể đạt được, nhưng không thể dùng sức mạnh ngang ngược của con.”

Đệ tử rất là nghi ngờ, nói: “Không phải thầy dạy chúng con nên đem đạo đến nơi hư không của mình sao ? Con đang làm theo lời thầy dạy mà.”

Đại sư cười lớn nói “Cho nên con mới liều cái mạng cùi của mình phải không.”

(Trích: Huệ nhãn thiền tâm)

Suy tư:

Quang minh chính đại thì không thể dùng tay, nhưng tự tâm hồn có quang minh thì có thể phát quang ra bên ngoài; kiến tính cũng có thể đạt được, nhưng phải dùng trí khôn ngoan chứ không phải dùng bạo lực.

Làm biếng cầu nguyện thì có thể bù lại được nếu trong tâm hồn vẫn luôn nhớ đến Chúa; phạm tội thì cũng có thể được tha, nếu tâm hồn luôn biết hối cải và vươn lên.

Chỉ có những ai cứ ỷ lại vào tài năng sức lực của mình mà chê bai sự cầu nguyện, coi việc cầu nguyện là việc của người yếu bóng vía, thì chắc chắn họ đã trở thành khí cụ của ma quỷ; chỉ có những ai cứ cậy dựa vào thế lực tiền tài, quyền uy mà coi thường ân sủng và quyền năng của Thiên Chúa, coi ân sủng là chuyện dị đoan và Thiên Chúa chỉ là sản phẩm tưởng tượng của người ít học, thì chắc chắn họ sẽ trở thành nỗii ám ảnh lo sợ của loài người, nhất là những người thiện tâm xây dựng hòa bình chân thật...

Đó chính là cái tôi trống rỗng vậy.
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Những điều kiện cần thiết cho tiến trình hòa bình tại Thánh Địa
Linh Tiến Khải
01:04 09/03/2009
Một số nhận định của Linh Mục Pierbattista Pizzaballa, Bề trên tỉnh dòng Phanxicô Quản Thủ Thánh Địa, về tiến trình hòa bình tại Thánh Địa

Ngày 2-3-2009 hội nghị thượng đỉnh các ân nhân trợ giúp tài chánh tái thiết vùng Gaza đã khai diễn tại Sharm El Shekh, với sự tham dự của giới lãnh đạo quốc tế. Mục đích của hội nghị là để củng cố một cuộc ngưng bắn lâu dài nhằm bắt đầu một con đường hòa bình trọn vẹn và toàn diện cho Thánh Địa. Tổng thống Pháp Nikolas Sarkozy đề nghị là từ nay cho tới cuối năm 2009 phải thực hiện một hội nghị hòa bình cho Vùng Trung Đông. Cần phải ”áp đặt” nó, và đây là thời điểm phải lãnh nhận sự liều lĩnh của hòa bình.


Mục đích cụ thể của hội nghị Sharm El Shekh là tìm ra ngân khoản 3 tỷ mỹ kim để tái thiết vùng Gaza. Thủ tướng Berlusconi của Italia đã hứa giúp 100 triệu mỹ kim, và Hoa Kỳ hứa tài trợ 900 triệu mỹ kim, trong đó có 300 triệu dành cho việc tái thiết vùng Gaza và số còn lại dành cho chính quyền Palestine.

Tổng thống Palestine Abu Mazen cảnh báo là nếu không tìm ra một giải pháp chính trị, thì các ngân khoản cũng không giúp giải quyết vấn đề.

Như đã biết hồi tháng 2 vừa qua quân đội Israel đã tấn công lực lượng Khamas tại vùng Gaza trong 22 ngày liên tiếp, khiến cho 1.330 người Palestine bị chết và 5.000 bị thương. Tuy ngày 2-3-2009 lực lượng Khamas đã bắn hỏa tiễn vào lãnh thổ Israel, khiến cho tình hình lại căng thẳng, nhưng các ngã giao thương giữa hai bên vẫn được mở cửa. Và Israel đã lập tức trả đũa bằng cách oanh kích 60 địa điểm khác nhau.

Trong sứ điệp gửi đại hội về đề tài ”Giá trị của các Giáo Hội tại Trung Đông”, do cộng đoàn thánh Egidio triệu tập tại Roma ngày 25-2-2009, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI cầu mong Trung Đông là ”một vùng đất của đối thoại và cộng tác huynh đệ” giữa các tín hữu của các tôn giáo khác nhau. Sự hiện diện của các Kitô hữu tại Trung Đông là một sự giầu có đích thật cho toàn xã hội và là một bảo đảm cho sự phát triển xã hội, văn hóa và tôn giáo.

Sau đây chúng tôi xin gửi tới qúy vị và các bạn một số nhận định của Linh Mục Pierbattista Pizzaballa, 44 tuổi, từ năm 2004 là Bề trên tỉnh dòng Phanxicô quản thủ Thánh Địa, về tiến trình hòa bình tại Thánh Địa.


Hỏi: Thưa cha, chiến tranh trong vùng Gaza đã chấm dứt, nhưng người ta có cảm tưởng đang chứng kiến cảnh đối thoại giữa hai người điếc, và tình hình trong vùng xem ra qúa phức tạp, đến độ không ai tin là mình nắm trong tay chiếc đũa thần giúp giải quyết cuộc khủng hoảng tại đây. Đâu là các điều kiện phải có để giúp tái khởi hành việc xây dựng một nền hòa bình lâu dài tại Thánh Địa?

Đáp: Điều kiện thứ nhất là chấm dứt mọi thứ bạo lực từ phía quân đội cũng như từ phía dân quân. Nếu tiếng súng không im lặng, thì mọi thương thuyết đều thất bại. Thế rồi phải đối thoại với nhau và thừa nhận sự hợp pháp của nhau. Trong nghĩa này vai trò của các người trung gian và của các giới chức ngoại giao rất là quan trọng. Trong thế giới hồi giáo thì Ai Cập có thể nằm vai trò chìa khóa, vì uy tín của nó được thừa nhận trong vùng. Bên Tây Phương thì cần có các khởi động của tân chính quyền Hoa Kỳ, từ trước tới nay vẫn có nhiều ảnh hưởng trên Israel; trong khi Âu châu có thể làm trung gian nhất là với người Palestine, nhưng cần phải có khả năng đi theo một hướng đồng nhất chứ không được sơ tán, như thường xảy ra cho tới nay. Sau cùng còn có Liên Hiệp Quốc là tổ chức quốc tế có uy tín không thiên vị, nhưng đã mất đi sự tín nhiệm của người dân trong vùng. Dầu sao đi nữa thì các hoạt động ngoại giao là điều kiện cần thiết, nhưng không đủ. Để xây dựng một nền hòa bình lâu dài cần phải có nhiều yếu tố khác nữa.

Hỏi: Đó là các yếu tố nào thưa cha?

Đáp: Trong các năm qua đã xảy ra nhiều chia rẽ và đổ vỡ sâu rộng, do đó cần phải tính sổ với các tâm tình xung đột hằn sâu trong tâm lòng người dân tại đây. Các nỗ lực chính trị phải được yểm trợ bởi một công tác hàn gắn xã hội dân sự, và phát triển một não trạng mới, trong đó các cơ quan giáo dục và truyền thông có một vai trò quan trọng định đoạt. Đa số người dân Israel và Palestine qúa mệt mỏi với chiến tranh, bạo lực và hoàn cảnh sống bấp bênh không an ninh và không có ngày mai. Ai cũng ước mong có hòa bình, nhưng cho tới nay hàng lãnh đạo đã không có khả năng đưa ra các câu trả lời vững chắc và lâu dài cho ước mong hòa bình đó.

Hỏi: Thưa cha, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã nhiều lần lên tiếng kêu gọi có một hành động đa phương cho điều mà người gọi là ”một sự hòa giải khó khăn nhưng cần thiết”. Và Đức Thánh Cha xin mọi người cầu nguyện không ngừng và nài van ơn hòa bình cho Thánh Địa. Lập trường này thực tế tới mức nào thưa cha?

Đáp: Nếu chúng ta nhìn vào những gì đã xảy ra trong các tuần vừa qua, thì chúng ta thấy hiển nhiên là cái luận lý của sự khiếm nhiệm và báo thù đang hụt hơi và hít thở rất khó khăn. Cần phải có hơi thở sâu và dài hơn, nhưng nó chỉ phát xuất từ việc sẵn sàng chấp nhận một thứ luận lý cao hơn cái luận lý của con người, và lời cầu nguyện giáo dục con người có được điều này. Cầu nguyện cho hòa bình không phải là dấu chỉ của một sự khuất phục, mà nó nảy sinh từ ước muốn thay đổi hoạt động trong cùng thẳm tâm hồn con người, và đồng thời nó thừa nhận là hòa bình chỉ có thể đến từ Một Vị Khác hiện diện và là tác nhân của lịch sử, khiến cho con người có thể chung sống với người khác mình. Dưới ánh sáng của tất cả những điều đó, ngày càng hiển nhiên là lập trường của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI là lập trường thực tế, vì nó chú ý tới tất cả mọi yếu tố cần thiết bắt đầu từ các cơ quan quốc tế và việc đương đầu với các nút thắt từ lâu nay vẫn nằm trên bàn thương thuyết mà vẫn chưa được giải quyết, cho tới bình diện của từng cá nhân.

Hỏi: Các lời kêu gọi của Đức Thánh Cha đã có tiếng vang nào đối với dân chúng sống tại Thánh Địa? Và các Kitô hữu xem ra là các bình sành giữa các bình bằng sắt, có thể có vai trò nào trong tiến trình hòa bình này tại Thánh Địa thưa cha?

Đáp: Giáo Hội hoàn vũ, và đặc biệt lời của Đức Thánh Cha, rất được lắng nghe tại Trung Đông và có uy tín rất lớn. Hầu như ai cũng thừa nhận rằng thái độ của Tòa Thánh và hoạt động ngoại giao của Tòa Thánh được huy động bởi ước muốn cộng tác để đem lại hòa bình cho vùng này và hòa giải các tâm hồn. Tại Thánh Địa sự hiện diện của các Kitô hữu ngày càng yếu ớt hơn, và hầu như tất cả các Kitô hữu đều là người Palestine. Dĩ nhiên điều này không có nghĩa là họ không có ảnh hưởng nào. Trái lại, họ có thể nắm giữ một vai trò quan trọng.

Hỏi: Vai trò quan trọng này của Kitô hữu tại Thánh Địa có thể được diễn tả như thế nào thưa cha?

Đáp: Trước hết là trong quyết định tiếp tục sống và ở lại tại Thánh Địa như là mầm giống của cuộc sống mới, bằng cách nhập thể cái luận lý của Tin Mừng: một thứ luận lý không loại trừ người khác, nhưng coi người khác như là phần của chương trình cứu rỗi duy nhất. Với cung cách sống của mình Kitô hữu có thể làm chứng rằng phải luôn luôn coi người khác như chủ thể, không thể bị giản lược vào bất cứ lược đồ hay dự án chính trị nào. Và điều này được thể hiện ra qua biết bao nhiêu công tác bác ái, giáo dục do Giáo Hội Công Giáo và các Giáo Hội Kitô khác đảm trách. Các trường học do dòng Phanxicô Quản Thủ Thánh Địa và các dòng tu khác nhau điều hợp, có uy tín rất lớn đối với dân chúng địa phương từ biết bao nhiêu thế kỷ qua, và chúng sinh hoa trái nơi các thành qủa mà sinh viên học sinh đạt được trong lãnh vực văn hóa và nghề nghiệp. Có hàng ngàn người trẻ hồi giáo theo học tại các trường công giáo này của Giáo Hội và họ làm thành phòng thí nghiệm quan trọng của sự chung sống hòa bình. Kiểu chung sống này đề nghị và làm chứng cho các giá trị định đoạt trong một bối cảnh như bối cảnh vùng trung đông: giá trị không thể khước từ được của con người trong tất cả mọi chiều kích của nó, sự tự do, các quyền con người, phẩm giá của nữ giới, sự tôn trọng người khác, khước từ bạo lực. Tất cả những điều này để lại một dấu vết không thế xóa nhòa được trong trí óc và con tim của người trẻ theo học trong các trường Kitô; và chúng góp phần vào việc tạo ra và phổ biến một tâm thức mới. Dĩ nhiên đây không phải là điều tự động mà có được: chúng ta không chế tạo máy móc hòa bình, và sự tự do là nơi con tim của mọi người. Nếu một người trẻ Kitô và một người trẻ hồi giáo sống và lớn lên bên cạnh nhau trong nhiều năm trời như là bạn học cùng lớp, và tập hiểu biết và qúy mến nhau, thì khi lớn lên họ sẽ được chuẩn bị nhiều hơn để đánh đổ các thành kiến và các đố kị, và đem lại các viên đá giúp xây dựng cuộc sống chung hòa bình. Trong các trường học của chúng tôi người trẻ đều sống chung với nhau mọi ngày: đó là một thách đố hằng ngày góp phần tạo ra một mảnh đất mầu mỡ cho sự trưởng thành của ”các con người mới”, mà xã hội rất cần.

Hỏi: Thưa cha, có người cho rằng chỉ trong vài thập niên nữa là sẽ không còn có các Kitô hữu tại Thánh Địa. Như thế Thánh Địa sẽ có thể biến thành viện bảo tàng của Kitô giáo hay không?

Đáp: Các chiều hướng dân số chứng minh cho thấy sức nặng đặc thù của Kitô hữu trên tổng số dân, so với tín hữu do thái và hồi giáo, tiếp tục suy giảm. Càng ngày càng khó duy trì đất đai hơn; nguy cơ tài sản của các Kitô hữu bị người khác mua lại ngày càng gia tăng. Nhưng tôi không tin là các Kitô hữu sẽ biến mất khỏi Thánh Địa, đến độ các nơi thánh trở thành viện bảo tàng. Đúng hơn là chúng ta sẽ chứng kiến số Kitô hữu giảm dần, và sự hiện diện của họ ít hữu hình hơn cũng như ít phẩm chất hơn, đặc biệt là tại Bếtlehem.

Hỏi: Có nhiều người tự hỏi: tôi có thể làm gì cho Thánh Địa? Câu trả lời thường khô khan là ”cầu nguyện và đến viếng thăm Thánh Địa”. Năm 2008 vừa qua làn sóng tín hữu từ Italia cũng như các nước khác đến hành hương Thánh Địa đã gia tăng. Ngoài đóng góp tài chánh phát xuất từ ngành du lịch các tín hữu hành hương diễn tả điều gì đối với Kitô hữu sống tại những nơi Chúa Giêsu đã sống?

Đáp: Các tín hữu hành hương là các chứng nhân của tình yêu thương của Giáo Hội hoàn vũ đối với các anh chị em Kitô sống tại Thánh Địa. Họ giúp các anh chị em sống tại Thánh Địa thắng vượt được sự chán nản ngã lòng và sự cô đơn, hay đôi khi cảm tưởng bị ”vây hãm”, và giúp họ ý thức mình là thành phần của một đại gia đình rộng lớn. Và thường khi các tín hữu hành hương cũng khích lệ các Kitô hữu tại Thánh Địa hướng nhìn lên cao, vượt thắng những ghen tương và cãi vã có nguy cơ làm suy yếu ý thức hiệp nhất, là ơn họ đã nhận lãnh và được mời gọi làm chứng trước mặt mọi người. Các cuộc gặp gỡ của người hành hương với tín hữu địa phương, các kết nghĩa anh em với các giáo phận hay hiệp hội hoặc phong trào khác trên thế giới, hoặc sự trợ giúp các dự án giáo dục và bác ái từ xa: tất cả đều tạo ra các tương quan và các công trình dưỡng nuôi sự tin tưởng nơi tương lai, và sự cảm nhận được mình là thành phần của một chương trình quan phòng. Nó là phương thế giúp loại bỏ ý muốn di cư ra nước ngoài, đánh bại sự bi quan yếm thế và đưỡng nuôi niềm hy vọng, khiến cho các anh chị em Kitô tại Thánh Địa là một thực tại sinh động trên vùng đất nơi con người được gặp gỡ Mầu Nhiệm cứu chuộc.

(Tracce, Febbraio 2009, trang 26-29)
 
Đức Thánh Cha kêu gọi giới trẻ Công Giáo sống và thông truyền hy vọng
LM Trần Đức Anh, OP
01:07 09/03/2009
VATICAN -. ĐTC Biển Đức 16 kêu gọi giới trẻ Công Giáo sống và làm chứng nhân hy vọng cho các bạn đồng lứa và tha nhân trong hoàn cảnh khó khăn của thế giới ngày nay.

Ngài đưa ra lời kêu gọi trên đây trong Sứ điệp công bố hôm 4-3-2009, nhân ngày Quốc Tế giới trẻ lần thứ 24 sẽ được cử hành ở cấp giáo phận trong toàn Giáo Hội vào chúa nhật Lễ Lá 5-4 tới đây với chủ đề là câu trích từ thư thứ I gửi Timôthê: ”Chúng ta đã đặt niềm hy vọng của chúng ta nơi Thiên Chúa hằng sống” (1 Tm 4,0).

ĐTC cho biết chủ đề này nằm trong hành trình sư phạm hướng về Ngày Quốc Tế giới trẻ lần thứ 26 sẽ được tổ chức ở cấp hoàn vũ vào năm 2011 tại Madrid Tây Ban Nha với chủ đề ”Bén rễ sâu và xây dựng trong Chúa Kitô, kiên vững trong đức tin” (cf Cl 2,7). Ngày Quốc tế giới trẻ năm tới, 2010 sẽ có chủ đề là câu mà của chàng thanh niên giàu có hỏi Chúa Giêsu: ”Lạy Thày nhân lành, con phải làm gì để được sống đời đời” (Mc 10,17).

ĐTC ghi nhận tầm quan trọng của đề tài hy vọng: hy vọng là trung tâm đời sống con người và sứ mạng Kitô, nhất là trong thời đại khó khăn ngày nay và đặc biệt là nơi giới trẻ. ”Tất cả chúng ta đều cần hy vọng, nhưng không phải bất kỳ niềm hy vọng nào. Kinh nghiệm chứng tỏ rằng những phẩm tính cá nhân và của cải vật chất không đủ để bảo đảm niềm hy vọng mà tâm hồn con người luôn luôn tìm kiếm. Niềm đại hy vọng ấy ”chỉ có thể là Thiên Chúa, Đấng bao trùm toàn thể vũ trụ và có thể đề nghị và trao tặng chúng ta điều mà tự mình chúng ta không thể đạt tới” (Spe salvi, n.31). Chính vì thế, một trong những hậu quả chính của sự quên lãng Thiên Chúa là sự lạc hướng rõ ràng, đang ghi đậm nét trong xã hội chúng ta, với những hậu quả là sự cô đơn và bảo lực, bất mãn và mất niềm tín thác, nhiều khi đi tới tuyệt vọng”.

ĐTC đặc biệt đề cao tấm gương của thánh Phaolô Tông Đồ như chứng nhân hy vọng. Giữa bao nhiêu khó khăn và thử thách đủ loại, thánh nhân đã viết cho môn đệ Timotheo trung thành: ”Chúng ta đã đặt niềm hy vọng của chúng ta nơi Thiên Chúa hằng sống” (1 Tm 4,10).. Nhờ gặp gỡ với Chúa Kitô và hoán cải cuộc sống, từ kẻ bách hại, thánh Phaolô đã trở thành chứng nhân và thừa sai. Đối với thánh nhân, niềm hy vọng không phải chỉ là một lý tưởng hoặc một tình cảm, nhưng là một nhân vật sống động, đó là Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa.”

ĐTC cũng nêu bật hành trình tiến về niềm hy vọng lớn lao, đó là đời sống cầu nguyện và cuộc sống thân mật với Thiên Chúa. Ngài viết: ”Các bạn hãy dành chỗ cho việc cầu nguyện trong đời sống các bạn! Cầu nguyện một mình là điều tốt, cầu nguyện chung với nhau càng là điều tốt đẹp và phong phú hơn nữa, vì Chúa đã cam kết hiện diện tại nơi nào có hai ba người họp nhau lại nhân danh Ngài” (cf Mt 18,20). Các bạn hãy tham dự phụng vụ trong giáo xứ của mình và nuôi dưỡng bản thân dồi dào bằng Lời Chúa và tích cực tham dự các bí tích”.

Cũng trong Sứ điệp nhân ngày Quốc Tế giới trẻ sắp tới, ĐTC khích lệ các bạn trẻ hãy hành động theo niềm hy vọng Kitô và ngài viết: ”Hỡi các bạn trẻ quí mến, nếu các bạn nuôi dưỡng mình bằng Chúa Kitô và sống chìm đắm trong Ngài như thánh Phaolô Tông Đồ, các bạn không thể không nói về Chúa và làm cho bao nhiêu bạn hữu và những người đồng lứa nhận biết và yêu mến Chúa. Hãy trở thành những môn đệ trung tín của Chúa, như thế các bạn có thể góp phần hình thành những cộng đồng Kitô đầy tình yêu thương như sách Tông Đồ Công Vụ đã nói. Giáo Hội hy vọng nơi các bạn để thi hành sứ mạng khó khăn này: các bạn đừng nản chí vì những khó khăn và thử thách gặp phải. Hãy kiên nhẫn và bền chí, khắc phục xu hướng tự nhiên của người trẻ là vội vã, muốn làm tất cả và ngay lập tức”.

Trong phần cuối của Sứ Điệp, ĐTC đề cao mẫu gương và sự tháp tùng của Mẹ Maria, Mẹ Hy Vọng, trên hành trình của chúng ta tiến về việc thực hiện Nước Chúa cũng như hành trình thiêng liêng. ”Mẹ là hiện thân niềm hy vọng của Israel, Mẹ đã trao tặng thế giới Đấng Cứu Thế và Mẹ đã kiên trì trong niềm hy vọng, dưới chân Thập Giá. Nhất là Mẹ Maria chuyển cầu và hướng dẫn chúng ta trong đêm đen của những khó khăn chúng ta gặp phải và tiến về bình minh rạng ngời của cuộc gặp gỡ với Đấng Phục sinh”.

ĐTC kết thúc Sứ điệp với lời nhắn nhủ của Thánh Bênađô với tựa đề Mẹ Maria Sao Biển. ”Lạy Mẹ Maria, là Sao Biển, xin Mẹ hướng dẫn các bạn trẻ trên toàn thế giới đến gặp Chúa Giêsu Con của Mẹ, và xin Mẹ là người vị giữ gìn từ trời cao lòng trung thành của các bạn trẻ đối với Tin Mừng và niềm hy vọng của họ”. (SD 4-3-2009)
 
Một nền hộ giáo về sự hiện diện (3)
Vũ Văn An
04:34 09/03/2009
Một nền hộ giáo về sự hiện diện (tiếp theo)

Đào tạo

Thế kỷ 19, Giáo Hội Anh và Wales đã làm một quyết định can đảm. Là dồn hết năng lực và tài nguyên vào việc giáo dục giáo dân của mình. Giáo hội ấy hiểu rõ rằng giáo dục là điều chủ yếu, không những đối với chính đời sống của Giáo Hội, mà còn đối với khả năng của Cộng đồng Công giáo trong việc đảm nhận vai trò có ý nghĩa và và mang lại nhiều hoa trái trong sinh hoạt quốc gia. Chúng ta đã thấy sự khôn ngoan của chính sách ấy và các ơn ích nó đem lại cho rất nhiều thế hệ người Công Giáo và gia đình họ. Ngày nay, ta có được một hệ thống giáo dục sống động, chuyên nghiệp và đầy cam kết trên khắp nước Anh và Wales. Tôi nghĩ các trường học của chúng ta đã công khai chứng tỏ giá trị của mình. Họ đã chứng tỏ được rằng cái mà người ta thường gọi là ‘trường tín ngưỡng’ không nuôi dưỡng thiên kiến hay chia rẽ; mà thực sự chúng là những cơ sở đầy óc sáng tạo và canh tân trong việc đương đầu với các vấn đề ấy. Nhưng ngày nay, ta cần phải đặc biệt chú ý và cẩn trọng trong mọi chương trình đào tạo cuộc sống đức tin của ta. Giáo Hội rất cần các giáo dân cũng như các giáo sĩ biết tự tin, được huấn luyện đầy đủ về thần học và linh đạo, nếu muốn đáp ứng được các thách đố của thế giới thế tục. Người của ta cần phải biết truyền thống mình đang theo; do phép rửa, họ có quyền được nuôi dưỡng bằng sự khôn ngoan và vẻ đẹp của truyền thống ấy. Trên hết, như Thượng Hội Đồng Thế Giới về Lời Chúa mới đây đã đề nghị, chúng ta cần phải tự nuôi dưỡng mình và đức tin của mình bằng Phúc Âm. Chính nhờ Phúc Âm ấy mà ta biết được Chúa Kitô, nghe được lời Người, và bước vào được hồng ân và mầu nhiệm Nước Trời.

Đã 40 năm nay kể từ ngày kết thúc Công Đồng Vatican II, nhưng ta vẫn còn ở trong diễn trình biến các lối nhìn trong sáng của Công Đồng thành của riêng mình. Ta cần phải quay về với Công Đồng, đọc nó dưới ánh sáng các kinh nghiệm trong tư cách Giáo Hội của ta và tình thế mới của thế giới ta đang sống. Ta nên cố gắng đặc biệt chú tâm tới giáo huấn xã hội của Giáo Hội vì giáo huấn này đầy tính phong phú, tính khôn ngoan và nhân bản.

Canh tân cộng đoàn giáo xứ

Tuy nhiên, đối với hầu hết người Công Giáo, cuộc sống của họ, cả về xã hội lẫn tâm linh, đều diễn ra trong giáo xứ của họ. Nói tới nói lui, điều cần là ta phải cố gắng biến các giáo xứ thành những cộng đoàn sống động, chứ không phải các khu vực địa dư hay các thực thể theo giáo luật. Giáo xứ là điểm tiếp xúc đầu tiên khi người ta dọn đến sống tại một khu vực mới. Không những nó là nơi người ta tụ tập vào các ngày Chúa Nhật, nó còn là không gian diễn ra sự sống và lịch sử.

Các truyện tích của chúng ta được kể lại, các mệt mỏi chán nản của chúng ta được chịu đựng, các đau đớn của chúng ta được đụng đến và các tan nát của chúng ta được hàn gắn, tất cả đều xẩy ra theo nhịp độ của năm phụng vụ. Trong cuộc gặp gỡ với những người khác cùng một đức tin ấy, ta được thấy những lời lẽ quen thuộc của Thánh Lễ, nến đèn, lời kinh, tiếng hát, nhân cách quen thuộc của các thánh và các vị tử đạo, các âu lo xao xuyến của ta, các thất bại và thành công của mình; tất cả những điều đó được đem vào hoà nhịp với sự sống Ba Ngôi Thiên Chúa. Gần như không hay biết, ta được đánh động bởi ơn thánh của tình yêu vĩnh cửu, Đấng gặp gỡ ta trong chính thời điểm của ta. Cũng ở đây, hòa lẫn với cuộc sống ta là cuộc sống của tất cả những ai từng có mặt ở đây trước đây và những người sẽ đến đây sau này. Ta biết ta không hoàn hảo, giáo xứ ta cũng không hoàn hảo, nhưng thỉnh thoảng ta thoáng nhận thức ra mọi thế hệ đức tin từng sống cuộc sống như chúng ta bây giờ và thế là ta cố gắng bám chắc lấy đức tin từng được họ sống cách tốt đẹp. Cuộc sống ta được đánh động bởi Sự Hiện Diện đang đón đợi ta.

Bởi thế, tôi không tin các giáo xứ của ta đã chết hay đang chết. Dù cho ta có thể phải rút bớt con số các giáo xứ, nhưng ta phải dành ưu tiên mà khám phá lại việc giáo xứ là sinh tử xiết bao trong việc nuôi dưỡng đức tin của ta bằng nhiều cách hết sức khác nhau. Thánh Thể đương nhiên là ‘nguồn suối và đỉnh cao’ của đời sống Giáo Hội. Cùng với việc được cử hành một cách cung kính và đầy cầu nguyện, Thánh Thể cần phải giáo hóa bằng việc cử hành Lời Chúa. Thánh Kinh phải được mở rộng cho giáo dân để họ có thể đọc và suy niệm, và để cho Thánh Kinh ấy nuôi sống và lên khuôn đời họ. Bài giảng là giây phút qúy giá dành cho việc hướng dẫn tâm linh, một hướng dẫn cần có cầu nguyện, suy niệm và học hỏi. Nhưng trên hết, giáo dân cần phải được nhìn thấy các linh mục của họ sống Phúc Âm ra sao, một Phúc Âm mà họ có nhiệm vụ rao giảng, và thấy được việc Phúc Âm ấy đã soi sáng và hướng dẫn cuộc sống của ngài như thế nào. Nếu Lời Chúa không sinh động trong ta, làm sao ta có thể hiến mạng sống ta cho người khác?

Nếu giáo xứ là nơi ta được biết đến và được chào đón, nhất là lúc ta là người mới tới hay người đến thăm, thì tôi nghĩ ai cũng được hưởng ơn ích. Đó là cách xây dựng nhiệm thể Chúa Kitô và chứng tỏ rằng tin là thuộc về.

Cầu nguyện

Ở trung tâm mọi điều ta nói và làm là ơn phúc cầu nguyện. Tôi đã nói tới các thách đố thế tục của thế gian, nhưng bất cứ ở đâu, tôi cũng thấy người ta khao khát tâm linh, một khát mong điều gì đó có thể đem lại ý nghĩa, hy vọng và bình an. Và nếu có điều gì đem lại sức mạnh cho ta thì đó chính là việc cầu nguyện. Chính nhờ nó mà ta sống; không có nó, lời ta nói chỉ là trống rỗng và việc ta làm hoàn toàn vô hiệu.

Cầu nguyện không phức tạp, nó không cần sách vở, giảng khóa hay giáo sư. Ta chỉ cần có đức tin, ước muốn và nhu cầu. Với những thứ ấy, mỗi ngày ta đều được lôi kéo tới Đấng vốn là sự sống, niềm vui và niềm hy vọng của ta. Nhu cầu, ước muốn cầu nguyện của ta có thể đem ta tới nhà thờ, một nơi thánh hay một đền thánh, nhưng thực ra, ta có thể cầu nguyện tại bất cứ nơi nào ta đang hiện diện, trong bất cứ trạng thái nào. Bí quyết của cầu nguyện là cần có hai người: tôi và Chúa. Hiểu được điều đó, việc cầu nguyện của ta sẽ trở nên đơn giản và dễ làm vì ta biết rằng Chúa đã hiến mình Người một cách hoàn toàn và trọn vẹn cho ta, đến nỗi ta biết chắc Người luôn có mặt ở đó chờ ta. Chúa không cần tìm thấy ta, vì Người có bao giờ lìa xa ta đâu. Nhưng đôi khi ta tự ý lìa xa Người. Ấy thế nhưng, bất kỳ ta xa Người bao lâu và ta im tiếng với Người sâu xa cách nào, Người vẫn không bao giờ bỏ rơi ta. Trên mọi con đường, mọi lối đi, trong mọi hoàn cảnh, Người luôn ở đó chờ ta lên tiếng, kêu tới danh Người, trở về nhà.

Đôi khi Chúa muốn thanh tẩy đức tin và lòng tín thác của ta. Có lúc ta cố vươn lên tới Người, nhưng chỉ cảm thấy Người xa vắng; sự xa vắng im lặng ấy có thể rất hãi hùng và ta cảm thấy như bị bỏ rơi. Những giây phút ấy quả không thoải mái chút nào. Nhưng Chúa đâu có đùa dỡn với ta. Vì cả trong những giây phút khô khan và đau đớn ấy, giống như dân Do Thái trong sa mạc hay Chúa Kitô lúc bị cám dỗ, ta đang được Người chuẩn bị để bước sâu hơn vào mầu nhiệm Chúa Kitô và chia sẻ sứ mệnh của Người. Có khi, cũng trong những giây phút như thế, ta khám phá ra vẻ đẹp của Giáo Hội và nhu cầu ta cần vẻ đẹp ấy. Trong những khoảnh khắc cầu nguyện và tham dự bí tích hàng ngày, trong cuộc sống không ai thấy của các tín hữu Giáo Hội, ta được bế bồng và đức tin của ta, bất kể yếu ớt hay mệt mỏi bao nhiêu, bất chấp bị thương tích hay bầm dập bao nhiêu, vẫn được tiếp nhận và làm cho hoàn hảo. Như các lời đơn giản mà sâu sắc của Thánh Lễ ‘xin đừng chấp tội lỗi chúng con nhưng xin nhìn đến đức tin của Giáo Hội Chúa’.

Khi một người cầu nguyện, dù chỉ một lát, hai điều sau đây sẽ xẩy ra. Điều thứ nhất, ta bắt đầu thấy sự nghèo nàn của mình. Như lời Thánh Augustinô thường nói: “Khi cầu nguyện, ta đều là kẻ ăn mày của Chúa”. Điều thứ hai, ta bắt đầu yêu thương, có thể là lần đầu, một cách khác hẳn. Nếu Chúa mời ta vào sự sống của Người, làm thế nào ta lại không biết mình nghèo cho được? Nhưng cái nghèo này không phải là một thiếu thốn cho bằng cảm nhận được mình đã nhận được bao nhiêu. Từ đó phát sinh ra một lối yêu mới. Lối yêu này làm đầy lòng ta; nó là ơn phúc của Chúa Thánh Thần, Đấng dạy dỗ ta và mở mắt, mở tâm hồn ta biết cách yêu của Chúa. Một trong những hồng ân tôi từng được ban cho trong suốt cuộc sống khá dài của tôi là gặp gỡ và cảm nghiệm được nhiều cuộc sống của những con người thánh thiện đạo đức, lòng đầy tình yêu Chúa và hiến mình phục vụ người khác một cách đủ để nói lên trọn vẹn sự tốt lành của Chúa. Đó chính là chìa khóa dẫn vào việc phúc âm hóa: sống cuộc sống ta ra sao để có thể làm người khác tin theo.

Mọi lời cầu nguyện của ta đều phát sinh từ và quay trở về với lời cầu nguyện vĩ đại của Phép Thánh Thể trong đó Chúa Kitô chỉ cho ta thấy trung tâm của cầu nguyện chính là hành động của Người. Và như thế, trái tim ta được nâng lên không nhờ cố gắng riêng của mình mà là nhờ Người, đồng thời ta khám phá ra rằng ngay trong hy sinh vẫn có vinh quang và hân hoan. Nếu mỗi ngày đời ta được đổi mới trong lời cầu nguyện này, thì ta không cần phải lo lắng chi về tương lai và bất cứ những gì nó có thể mang đến. Chính vì thế, tôi nghĩ ta không nên đọc lá thư của (ĐHY) Wiseman viết từ Cửa Flaminian và bài giảng của (ĐHY) Newman về Mùa Xuân Thứ Hai như những mưu toan tái lập chủ nghĩa hãnh tiến (triumphalism). Mỗi tài liệu đó theo cách riêng quả đang lên khuôn một cách hữu hiệu cho bài ca ‘Magnificat’ của cộng đồng ta.

Kết luận

Trong bài nói truyện này, tôi đã nhìn lại 160 năm qua và nhận ra các thách đố mà Giáo Hội phải đương đầu dưới ánh sáng Phúc Âm nơi các vị tiền nhiệm của tôi, trong tư cách tổng giám mục Westminster. Ta đã thấy Giáo Hội Công Giáo trong các thời điểm ấy đã lớn mạnh và phát triển ra sao, nhưng cũng đã thay đổi ra sao trong thái độ và phương thức vì nền văn hóa của đất nước đã thay đổi cũng như cộng đồng Công Giáo của chúng ta cũng đã thay đổi nhiều. Chúng ta bắt đầu hiểu rõ bản sắc và tầm nhìn của mình một cách mới mẻ trong cái xã hội thế tục và đa văn hóa của mình này. Tầm nhìn ấy không đưa ta ra khỏi thế giới, nhưng thúc đẩy ta trở nên chính chúng ta trong thế giới ấy, biết tìm ra những cách thế mới để nhận ra chỗ đứng của mình trong cái đồi Areopagus của đất nước này và với sự hợp tác của người khác, tìm được quyền không những để hiện hữu mà còn để phát biểu được điều chúng ta tin chắc là quan yếu đối với ích chung. Ở tâm điểm tất cả những điều ấy là việc đi tìm Thiên Chúa, một việc vốn nằm ở tận trái tim của mọi con người nhân bản. Ta không tìm cách áp đặt quan điểm của ta lên người khác nhưng đề nghị các quan điểm ấy như một phương thức giúp cho đời sống thăng hoa, một phương thức mà chúng ta tin là phương thức duy nhất.

Theo một nghĩa nào đó, tôi đang nói tới ba nhân đức đối thần vĩ đại là Tin, Cậy và Mến từng đánh dấu cuộc sống Kitô hữu của ta. Nhưng cũng có các nhân đức “Hồng Y” (chơi chữ ‘cardinal’, cũng có nghĩa là nhân đức cột trụ) nữa, nếu các bạn hiểu ý tôi muốn nói. Đó là các nhân đức quả đã tạo nên đặc điểm cho các vị tiền nhiệm của tôi và cộng đồng đức tin được các ngài lãnh đạo. Trong các nhân đức khôn ngoan, công bình, can đảm và điều độ, tôi nghĩ nhân đức can đảm (can trường) là nhân đức hiển nhiên nhất của Giáo Hội Công Giáo Anh và Wales trong suốt hơn 150 năm qua. Tôi cầu xin cho nhân đức này cũng là nhân đức sẽ phân biệt được chúng ta hơn cả trong thời gian này. Can đảm không phải là một nhân đức khắc khổ hay ảm đạm. Nó là một nhân đức có sức mạnh tự chủ nhưng hân hoan; trong nó, người tín hữu tìm thấy sự thanh thản và sức mạnh bền bỉ, do nó đem lại, được đặt căn bản trên sự nhận biết Chúa Kitô là Chúa mọi thời mọi lúc. Chính đức can đảm biến ta thành chứng nhân đáng tin cậy, luôn trung thành với hồng phúc cứu rỗi hết sức qúy giá mà chúng ta đã nhận được cho toàn thể nhân loại. Như lời trong thư thứ nhất của Thánh Phêrô đã nói, nhân đức này chính là sự sẵn sàng, vì bất cứ lý do nào, để “trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng” của chúng ta (1Pr 3:15).

Mùa Chay là thời gian để ta suy tư các điều trên, với một niềm hy vọng và một cuộc sống canh tân. Trong Kinh Tiền Tụng hôm nay, chúng ta đọc rằng: “Mỗi năm Chúa ban cho chúng con mùa hân hoan này để chúng con chuẩn bị cử hành mầu nhiệm Vượt Qua với một trí khôn và một tâm hồn đổi mới. Chúa ban cho chúng con một tinh thần tôn kính yêu thương đối với Chúa là Cha của chúng con và một lòng sẵn sàng phục vụ đối với người lân cận của mình. Khi chúng con tưởng nhớ các biến cố vĩ đại từng đem đến cho chúng con sự sống mới trong Chúa Kitô, Chúa đã mang hình ảnh Con Chúa tới chỗ hoàn hảo trong chúng con”. Lời cầu nguyện hôm nay cũng nói lên điều ấy: “Lạy Chúa, chớ chi mọi sự chúng con làm đều khởi sự với ơn linh hứng của Chúa, tiếp tục với ơn trợ giúp của Chúa và đạt tới hoàn hảo với ơn hướng dẫn của Chúa. Amen”.

Phụ lục

Tập san Công Giáo The Tablet tuần này (3/3/09) có bài xã luận tựa là “Rút tỉa ý nghĩa và hy vọng” đề cập tới bài nói truyện trên của Đức Hồng Y Murphy-O’Connor. Theo tập san này, năm nay, con số người xin gia nhập Giáo Hội Công Giáo tại Anh và Wales trong mùa Phục Sinh này đã gia tăng đáng kể. Giáo Phận Westminster, là giáo phận lớn nhất, dẫn đầu con số gia nhập với 850 người đang hoàn tất Nghi Thức Khai Tâm Kitô Giáo dành cho Người Lớn (RCIA). Người lớn đây bao gồm các dự tòng (những người chưa bao giờ rửa tội) và các ứng viên (những người đã rửa tội trong các giáo hội Kitô khác, nay được tiếp nhận sự hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo La Mã). So với năm ngoái, con số gia tăng năm nay lên đến gần 200 người. Tuy nhiên, chiều hướng gia tăng này không phải chỉ xẩy ra tại Westminster, mà là khắp nước, hiện được ước tính vào khoảng 20% hay hơn. Năm ngoái con số gia tăng cũng đã rất đáng kể rồi. Trước đây, có lúc các tân tòng đã đóng góp rõ rệt vào con số người Công Giáo, và những năm tháng ấy xem ra đang trở lại sau một thời gian ngưng trệ, lúc mà đến cả danh hiệu “tân tòng” hay “người trở lại” cũng không được ai ưa thích, dù rất chính xác để miêu tả kinh nghiệm này. Tầm ý nghĩa trong năng lực và việc dấn thân mà người tân tòng đem vào sinh hoạt Giáo Hội là điều không ai có thể đánh giá thấp được. Mà người tân tòng cũng không nhất thiết là “công giáo hơn chính Đức Giáo Hoàng” (bảo hoàng hơn vua).

Dường như các nhà truyền giảng phúc âm chính trong niềm tin Công Giáo là các giáo dân Công Giáo rất tầm thường, những người âm thầm lôi cuốn người khác đến chỗ phải tìm hiểu lý do tại sao người Công Giáo tin, như lời Thư của Thánh Phêrô. Quả thực, tính hợp lý trong đức tin Công Giáo có thể rất ăn khách, khi những người duy tục và vô thần cứ nằng nặc cho rằng tôn giáo chẳng là gì khác hơn vô lý. Đức Hồng Y Cormac Murphy-O'Connor, trong bài nói truyện Mùa Chay vào tuần trước, đã đoán định xem vai trò phúc âm hiện nay của Giáo Hội Công Giáo sẽ phải như thế nào trong lúc thuật ngữ cổ truyền “làm cho nước Anh trở lại” dường như đã không còn ý nghĩa như trước tiếp theo Công Đồng Vatican II và phong trào đại kết. Ngài nói rằng việc trở lại của nước Anh nay có nghĩa là “vươn tay ra với một nền văn hóa hiện đang bị thế tục hóa một cách sâu sắc trong khi vẫn khát mong nghe được tiếng nói có ý nghĩa và đầy hy vọng”. Nói cách khác, hàng giám mục Anh không có hoài bão chiếm lãnh thổ đất đai, mà chỉ đề nghị được hùn hạp hợp tác.

Đức Hồng Y nhắm tới một hàng ngũ giáo dân biết tự tin, được huấn luyện đầy đủ về thần học và linh đạo, những người sẵn sàng tiếp cận thế giới thế tục nhưng nắm vững Thánh Kinh, Công Đồng Vatican II và giáo huấn xã hội Công Giáo, đầy “tính phong phú, khôn ngoan và nhân bản”. Họ không tìm cách đối chất mà là “thực tâm gặp gỡ một cách sáng tạo với nền văn hóa”, một cuộc trao đổi giả thiết phải có hai chiều. Ngài đặt tựa cho một phần của bài nói truyện là “Hướng tới một nền hộ giáo mới về sự hiện diện”, trong đó, ngài phác họa Giáo Hội và các cá nhân người Công Giáo phải “khích lệ và khẳng định điều tốt nơi mọi con người, hơn là chỉ biết liệt kê điều xấu”. Nhờ thế, Giáo Hội sẽ có vai trò để đảm nhiệm, một vai trò sẽ thỏa mãn được các nhu cầu rộng lớn của xã hội, bằng cách thăm dò các chiều kích luân lý và đạo đức của đời sống và nhất là tầm quan trọng của trách nhiệm bản thân nơi mỗi người. Và chính nhờ hiện diện trong xã hội, mà Giáo Hội có khả năng làm việc trên.

Người ta có thể gọi triết lý của Đức Hồng Y là chủ nghĩa nhân bản Công Giáo. Vì nó đề cao mọi điều có tính nhân bản thực sự và chống đối bất cứ điều gì đe dọa nhân loại, trong khi vẫn kính trọng một cách sâu xa mọi điều tốt lành vốn có sẵn trong bản nhiên con người.
 
Cuộc tông du của ĐGH sẽ nhấn mạnh đến những thách đố và triển vọng tại châu Phi
Phụng Nghi
16:18 09/03/2009
VATICAN CITY (CNS) -Trung tuần tháng 3 này, khi Đức giáo hoàng thăm viếng hai nước Cameroon và Angola, ngài sẽ mở ra một chương sách mới trong những cuộc tông du của ngài. Cuộc thăm viếng này nhằm đề cao sứ điệp hy vọng của giáo hội trên một lục địa đầy tràn những vấn đề khó khăn.

Cuộc thăm viếng từ ngày 17 đến 23 tháng 3 là chuyến tông du đầu tiên tới Phi châu của một vị giáo hoàng thường được người ta mô tả là chỉ đặt trong tâm vào châu Âu, và nó sẽ mở ra một loạt những hoạt động quan trọng của giáo hội tập chú vào châu Phi trong năm 2009.

Đối với Đức giáo hoàng Bênêđictô, người đang hoàn tất bức tông thư về xã hội đầu tiên của ngài, thì chuyến công du này sẽ đem ngài lại gần với khối dân chúng đang vật lộn hàng ngày với nạn nghèo đói, bệnh tật, tham nhũng và những cuộc xung đột có võ trang.

Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu làm trầm trọng thêm gánh nặng trên vai những người nghèo khó ở châu Phi, và những lời phát biểu của vị giáo hoàng về công lý trên bình diện kinh tế, có thể cho người ta thấy trước được những chủ đề trong bức tông thư sắp ban hành.

Cuộc du hành sẽ chia làm hai phần. Tại Cameroon, Đức giáo hoàng sẽ gặp các giám mục toàn thể châu lục và trao tận tay các vị đó tài liệu làm việc của Thượng hội đồng các giám mục châu Phi sẽ được tổ chức tại Roma vào tháng 10 sắp tới.

Chủ đề của thượng hội đồng là công lý, hòa giải và hòa bình, và sẽ cho Đức giáo hoàng được có vô số những chọn lựa các đề tài cho 7 bài diễn từ và bài giảng ngài sẽ công bố trong suốt 4 ngày ở tại Cameroon. Chắc chắn là ngài sẽ đề cập tới những mối căng thẳng về chủng tộc và chính trị đã ảnh hưởng trên các khu vực như Darfur ở nước Sudan, Somalia và vùng Đại hồ (Great Lakes), và đề cập tới trách nhiệm của các chính phủ phải xúc tiến đối thoại, giảm tham nhũng và đáp ứng những nhu cầu nhân bản của dân chúng nước họ.

Nhưng thay vì đọc lên một danh sách những điều thách đố phải đem giặt giũ cho sạch, có lẽ Đức giáo hoàng sẽ thu tóm lại để nói về sứ vụ đặc biệt của giáo hội phải là một cộng đồng hàn gắn những vết thương, hòa giải, tha thứ và khích lệ. Điểm chính yếu là chuyển việc phúc âm hóa ra khỏi giai đoạn mang con người vào giáo hội, mà chuyển về mục tiêu là tạo nên những chứng tá của Tin Mừng trong cuộc sống cá nhân và trong đời sống xã hội.

Một biến cố nhỏ nhưng có ý nghĩa tại Cameroon là cuộc thăm viếng của Đức giáo hoàng tại Trung tâm Hồng y Paul Emile Leger, cũng còn được gọi là Trung tâm Quốc gia Phục hồi Người tàng tật. Có giá trị hơn cả hàng ngàn từ ngữ về chiến lược mục vụ trong tài liệu về thượng hội đồng, đây là nơi Đức giáo hoàng cho thấy giáo hội biểu hiện hùng hồn đức tin và ảnh hưởng đến cuộc sống qua lòng nhân ái được thể hiện bằng hành động.

Tại Cameroon, Đức giáo hoàng cũng sẽ gặp đại diện của cộng đồng Hồi giáo nước này, một tôn giáo chiếm tới 22% dân số. Trong lần gặp gỡ này cũng như trong các cuộc họp với các giám mục châu Phi, người ta trông đợi Đức giáo hoàng sẽ nhấn mạnh đến nhu cầu cộng tác giữa các tôn giáo để giải quyết các vấn đề khó khăn về luân lý và vật chất của châu lục này.

Trong những tháng vừa qua, tại Nigeria, nước giáp ranh với Cameroon, những cuộc tấn công vào các nhóm tín đô Thiên Chúa giáo và Hồi giáo đã gây cho hàng trăm người chết, tuy các nhà lãnh đạo các giáo hội đã nhấn mạnh rằng bạo lực gây ra chính yếu là vì chính trị chứ không phải vì tôn giáo.

Phần thứ hai của cuộc tông du đưa ngài đến thủ đô Luanda của nước Angola để tham dự một loạt những cuộc gặp gỡ các viên chức chính trị và chính quyền, các nhà lãnh đạo tôn giáo và các nhóm tín hữu. Ở đây điểm chính yếu là mừng kỷ niệm 500 năm công cuộc rao truyền Tin mừng tới nước này do các nhà truyền giáo người Bồ đào nha vào cuối thế kỷ 15.

Cho đến nay, Angola vẫn còn đang phục hồi về vật chất, chính trị và tinh thần sau một cuộc nội chiến tai hại kéo dài tới 27 năm và mới kết thúc vào năm 2002. Những cuộc bầu cử tổng thống thời hậu chiến dự trù sẽ được tổ chức vào cuối năm nay, và nhiều người Angola tin tưởng rằng cuộc viếng thăm của Đức giáo hoàng có thể mang lại một khởi động những niềm hy vọng và khích lệ cho đất nước vẫn con đang tiếp tục công tác hòa giải và tái thiết.

Một hoạt động chính yếu tại đây sẽ là thánh lễ do Đức giáo hoàng cử hành cùng với giới trẻ tại sân vận động túc cầu tại Luanda. Những người sắp đặt lộ trình chuyến tông du nhận thức rằng phần lớn thời giờ trong chương trình viếng thăm của Đức giáo hoàng tại châu Phi sẽ tiêu phí vào những cuộc họp với các giám mục, nên họ cũng muốn Đức giáo hoàng có cơ hội bắc một nhịp cầu với các thế hệ trẻ.

Trong ngày cuối cùng tại Angola, Đức giáo hoàng sẽ gặp các phong trào đề cao phúc lợi của phụ nữ. Cuộc gặp gỡ là để nhấn mạnh đến mối quan tâm của giáo hội liên quan đến nhiều hình thức tiếp tục kỳ thị và bạo hành đối với phụ nữ tại châu Phi, và để cho Đức giáo hoàng có dịp làm sáng tỏ giáo huấn của giáo hội về sự bình đẳng giữa nam nữ.

Chăm sóc về y tế là mối quan tâm hàng đầu tại Angola và cả châu Phi, đặc biệt là bệnh Aids đang tàn phá châu lục này. Hiện nay bệnh này mỗi năm giết hại 1 triệu rưỡi người trong vùng châu Phi hạ Sahara, và gây cho 11 triệu trẻ em phải lâm vào cảnh mồ côi.

Khi nói đến giáo hội và bệnh Aids, giới truyền thông thường chú tâm vào việc giáo hội không tin tưởng rằng bao cao su là giải pháp để ngăn ngừa bệnh Aids. Đức giáo hoàng Bênêđictô không hề bao giờ đề cập đến vấn đề bao cao su một cách rõ rệt, nhưng ngài đã phát biểu những suy tư của ngài về bệnh Aids trong một cuộc nói chuyện với các giám mục châu Phi năm 2005, cho biết rằng giáo hội vẫn đứng ở vị trí tiền phong trong việc chữa trị “căn bệnh quái ác” này và nói rằng phương cách an toàn duy nhất” đề ngăn ngừa cho bệnh này khỏi lan tràn được tìm thấy trong giáo huấn truyền thống của giáo hội về trách nhiệm của tính dục.

Vị giáo hoàng xuất thân từ nước Đức này đã thực hiện 10 cuộc tông du, trong đó 6 cuộc là tại châu Âu (nếu kể Thổ nhĩ kỳ cũng thuộc vào châu Âu thì tổng cộng là 7 cuộc). Năm này ngài hương sự chú ý tới châu Phi. Ngoài cuộc tông du vào tháng 3 này, cuộc họp thượng hội đồng vào tháng 10 và một cuộc họp tiền thượng hội đồng của các nhà lãnh đạo giáo hội châu Phi tại Roma, Đức giáo hoàng còn có những cuộc họp với các nhóm giám mục châu Phi khi họ đến thăm “ad limina” mỗi năm năm để tường trình với ngài về tình hình trong các giáo phận thuộc quyền.

Dưới thời Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II, giáo hội tại châu Phi tăng trưởng tới 160% và con số những ơn gọi linh mục tăng gấp ba lần. Đức giáo hoàng Bênêđictô ít đề cập đến con số mà nói nhiều về việc đào tạo thích hợp và làm sâu xa đức tin – trong ý nghĩa là kiểm tra về chất lượng. Điều đó chắc cũng là chú tâm của ngài trong cuộc thăm viếng Cameroon và Angola.

Người Công giáo châu Phi mong đợi gì nơi cuộc viếng thăm của Đức giáo hoàng ?

Chắc chắn họ sẽ lắng nghe Đức giáo hoàng khi ngài phát biểu về những vấn đề khó khăn của họ và những quà tặng họ mang đến cho giáo hội. Nhưng các giám mục châu Phi nói rằng tầm quan trọng cuộc tông du của giáo hoàng mới đáng kể hơn là tổng số các bài diễn văn, bài giảng thuyết và các lễ nghi phụng vụ của ngài.

Giám mục Bishop Michael Odogwu Elue ở Issele-Uku nước Nigeria nói với thông tấn xã Catholic News Service: “Đức thánh cha, bất cứ nơi nào ngài tới, cũng mang theo với ngài hào quang của người đại diện Thiên Chúa trên mặt đất.”

“Sự gần gũi của ngài đối với chúng ta cũng gần như sự gần gũi của Thiên Chúa đối với chúng ta. Chúng tôi không nói về con người chính trị của ngài…nhưng chính sự hiện diện về tinh thần của ngài đem đến cho chúng ta nhiều khích lệ và sức mạnh trong đức tin.”

Ngoài sứ điệp của Đức giáo hoàng, nhiều người châu Phi còn mong mỏi nhận được phúc lành ngài ban.
 
Không có Thiên Chúa xã hội chống lại con người
Linh Tiến Khải
17:55 09/03/2009
Phỏng vấn ông Mario Mauro, tân đại diện tổ chức An Ninh và Cộng Tác Âu châu chống kỳ thị chủng tộc, bài ngoại và kỳ thị Kitô hữu

Mới đây ông Mario Mauro, 47 tuổi, Phó Chủ tịch Quốc Hội Âu châu, đã được chỉ định làm đại diện tổ chức An Ninh và Cộng Tác Âu châu chống kỳ thị chủng tộc, bài ngoại và kỳ thị các Kitô hữu.

Tổ chức An Ninh và Cộng Tác Âu châu, viết tắt là OSCE, đã được thành lập năm 1973 nhằm bảo vệ hòa bình và đối thoại chính trị tại Âu châu. Tổ chức OSCE hiện quy tụ 56 quốc gia thành viên, trong đó có Quốc Gia Thành Phố Vaticăng, Nga và Hoa Kỳ Nga. Tổ chức có trụ sở tại Vienne thủ đô nước Áo và các văn phòng tại Varsava, La Haye và Copenhagen. Hiện nay tổ chức An Ninh và Cộng Tác Âu châu đang đảm trách 20 sứ mệnh tại 20 nước trên thế giới, với sự cộng tác của hàng ngàn cộng sự viên quốc tế. Sứ mệnh kéo dài đầu tiên của tổ chức bắt đầu từ năm 1992 tại Kosovo. Tổ chức An Ninh và Cộng Tác Âu châu có nhiệm vụ điều hợp việc chuẩn bị các chiến dịch bầu cử, trợ giúp quản trị các khu vực phi quân sự, chống lại cảnh đất đai đồi tệ, các tổ chức tội phạm và tài trợ cho các trung tâm tị nạn và chống nạn buôn bán phụ nữ.


Sau đây chúng tôi xin gửi tới qúy vị và các bạn bài phỏng vấn ông Mario Mauro về văn phòng chống kỳ thị chủng tộc, bài ngoại và kỳ thị Kitô hữu của tổ chức OSCE.

Hỏi: Thưa ông Mauro, tổ chức OSCE là tổ chức quốc tế đầu tiên gắn liền chính trị với tôn giáo, có đúng thế không?

Đáp: Vâng, đúng thế. Tổ chức An Ninh và Cộng Tác Âu châu là tổ chức quốc tế đã thiết lập một liên hệ rõ ràng giữa giải pháp của các vấn đề chính trị và việc tôn trọng sự tự do tôn giáo.

Dĩ nhiên, không có vấn đề chính trị nào có thể được giải quyết bằng tôn giáo. Nhưng cũng đương nhiên là không có vấn đề chính trị nào được giải quyết bằng cách gây chiến với tôn giáo.

Trên bình diện lịch sử biến cố chế độ cộng sản sụp đổ đã mở ra một cái bình Pandora, từ đó phát xuất ra nhiều tai ương. Nó đã làm nảy sinh ra một quang cảnh cần được đọc dưới ánh sáng của sự phân tích, mà Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã làm. Hai nguy hiểm lớn nhất mà con người ngày nay đang gặp phải là khuynh hướng qúa khích và chủ trương duy tương đối. Khuynh hướng cuồng tín lấy Thiên Chúa làm bình phong che đậy cho dự án quyền lực của con người, trong khi chủ trương duy tương đối đặt tất cả mọi lựa chọn trên cùng một bình diện, đến độ hủy diệt kinh nghiệm và ý niệm về sự thật. Cả hai chủ thuyết đều diễn tả gương mặt của ý thức hệ hiện đại. Đó cũng là ý thức hệ đã ghi dấu lịch sử cuối thế kỷ XIX và thế kỷ XX với các bộ mặt khác nhau: các chủ nghĩa quốc gia cực đoan, các chế độ độc tài... Chỉ có điều là ở đây Thiên Chúa trở thành một yếu tố định đoạt.

Hỏi: Thiên Chúa là yếu tố định đoạt trong nghĩa nào thưa ông?

Đáp: Khi chế độ cộng sản sụp đổ vì mất đi nõi cốt mác xít của nó, thì khuynh hướng hồi giáo cuồng tín trở thành chân trời của một dự án quyền bính đối với những người muốn thay thế hàng lãnh đạo cũ trong một vài quốc gia nào đó.

Trong khi chủ trương duy tương đối theo một con đường khác, đặc biệt tại Tây Âu, nhưng với cùng một chiến thuật: đó là yêu sách xây dựng một xã hội không có Thiên Chúa, và rốt cuộc nó kết thúc với việc đưa ra một dự án xã hội chống lại con người.

Hỏi: Nhưng mà tất cả những điều này có liên quan gì tới tổ chức An Ninh và Cộng Tác Âu châu thưa ông, vì tổ chức OSCE nảy sinh là để ngăn ngừa các cuộc chiến tranh lạnh mà?

Đáp: Tổ chức OSCE đã hiểu rằng trào lưu bài Do thái và khuynh hướng hồi cuồng tín đã trở thành các bàn thờ đối chọi với các năng động quyền lực của chủ nghĩa mác xít. Nhưng cũng có thể nói như thế đối với việc kỳ thị các tín hữu Kitô bên Tây Âu này. Hiện tượng này tinh tế hơn, vì thế cho nên người ta chế nhạo tầm quan trọng của lòng tin trong lãnh vực cuộc sống công cộng, tới độ loại trừ các Kitô hữu. Nhưng nội dung giống nhau: đó là người ta vi phạm các quyền con người. Vì thế tổ chức mới bắt đầu đưa ra văn phòng chống kỳ thị này. Văn phòng sẽ bắt đầu hoạt động với một hội nghị bàn tròn triệu tập tại Vienne trong các ngày đầu tháng 3 này. Nhưng ngày 13-2-2009 chúng tôi có một cuộc họp tại Varsava để lượng định các dữ kiện đã thu thập được. Các dữ kiện thu thập gồm nhiều biến cố các khau từ các kỳ thị xảy ra trong một vài nước cho tới biến cố nữ ca sĩ Madonna trình diễn ca nhạc với cảnh đóng đanh, nhằm mục đích chế nhạo và bôi bác kinh nghiệm lòng tin kitô.

Trong việc thu thập các dữ kiện và các con số tôi đã chứng minh cho thấy trong các bài tường trình của Liên Hiệp Âu châu trong các thập niên qua Tòa thánh đã hay bị kết án vi phạm các quyền con người hơn là Trung Quốc và Cuba. Vượt ngoài mọi sự, điều này là dấu chỉ của một thành kiến.

Hỏi: Tại sao Kitô giáo lại bị coi là chướng ngại như vậy?

Đáp: Tôi xin trả lời qúy vị bằng cách đưa ra một câu hỏi: Tại sao lại có một chiến thuật nhắm chứng minh cho thấy tất cả các kinh nghiệm đề cập tới sự thật lại là nguồn gốc gây ra xung khắc như vậy? Tại sao người ta lại cố ý so sánh Kitô giáo với chủ trương hồi giáo qúa khích, khi các chứng tích lịch sử cho thấy các chứng nhân Kitô là các chứng nhân không bạo lực? Đương nhiên là người ta có ý xấu khi làm như vậy, và lý do là vì các cuộc tranh đấu của Giáo Hội đụng chạm tới nhiều khía cạnh sinh động. Chẳng hạn như cuộc thảo luận liên quan tới bệnh liệt kháng và quan niệm về sự sống. Đụng chạm tới việc sử dụng ngân qũy để giải quyết vần đề dân số tức là đụng chạm tới vấn đề thăng tiến hay không thăng tiến việc làm cho tuyệt đường sinh sản của phụ nữ thuộc thế giới thứ ba, và việc cổ võ như thế có hợp pháp hay không. Đây chỉ là một thí dụ điển hình thôi. Điểm cần nói đó là Giáo Hội không đặt các vấn đề lý thuyết mà cụ thể liên quan tới cuộc sống con người, nhất là đâu là các vi phạm quyền con người.

Hỏi: Giáo sư có nhận ra sự mâu thuẫn khôi hài trong thái độ của người ta đi từ chỗ lý thuyết hóa một tôn giáo không có sức nặng xã hội nào sang việc tố cáo sự thần quyền Kitô?

Đáp: Nó là một bi hài kịch của cái gọi là ”chính trị đúng đắn”, trong đó người ta tìm cách gạt bỏ các quy chiếu truyền thống tôn giáo khỏi cuộc sống công cộng, nhưng bên trong thì họ lại chấp nhận các mô thức qúa khích tạo ra tình trạng một nước trong một nước. Nói cách khác, một đàng người ta cổ võ việc thừa nhận sự bình đẳng phái tính, nhưng đàng khác họ lại biện minh cho việc cắt bỏ một phần cơ phận sinh dục của nữ giới, vì cho nó là ”phần của một nền văn hóa”. Tôi không thuộc cánh hữu công giáo muốn bắt xã hội Âu châu phải tùng phục một ý thức hệ của các giá trị, nhưng tôi chỉ muốn chứng minh cho điều Đức Gioan Phaolô II nói: ”Tự do tôn giáo là thước đo mọi quyền tự do khác”. Nó là một sự tự do, qua đó bạn có thể nhận ra các quyền tự do khác. Khi nó không được tôn trọng, thì nó là dấu chỉ cho biết các quyền tự do khác cũng không được tôn trọng. Và trong nghĩa này nó định tính nền dân chủ.

Điều này lại càng đúng hơn sau khi chế độ cộng sản sụp đổ: ở đâu còn có lý do cho các chế độ độc tài hiện hữu, thì ở đó tự do tôn giáo cũng bị chối bỏ. Hay tôn giáo bị khai thác trở thành tôn giáo của Nhà Nước. Sự kiện này lại càng giúp chúng ta hiểu tại sao đề tài tôn giáo không xa lạ với định nghĩa của các kẻ nắm quyền. Nhưng sự tự do tôn giáo là con đường duy nhất có thể đi để cho phẩm giá con người được giữ gìn khỏi trở thành nạn nhân của quyền bính bạo lực. Sự kiện con người không thể bị giản lược hệ tại chỗ nó có một điểm quy chiếu vượt ngoài bối cảnh của quyền bính.

Hỏi: Hình vẽ nổi tiếng của Đức Ông Giussani người sáng lập phong trào Hiệp Thông và Giải Phóng nói rằng: nếu bạn là điểm nhỏ trong vòng tròn thế giới, thì hoặc là bạn có tương quan với một điểm X vượt cao hơn nó, hay bạn phải theo kiểu quay của vòng tròn đó, có đúng thế không?

Đáp: Đúng thế. Chính vì vậy mà quyền bính sợ hãi sự siêu việt. Do đó người ta có khuynh hướng nội tại hóa tất cả những gì đối thoại với ước muốn nằm trong trái tim con người. Thăng tiến các quyền con người trước hết là bảo vệ khả thể trái tim của con người gắn liền với điều nó có thể chu toàn. Và vì thế nó vượt xa sự ngẫu nhiên và rộng mở cho sự siêu việt.

Hỏi: Thưa ông đâu là các vấn đề nóng bỏng nhất hiện nay?

Đáp: Có những điểm nóng bên Đông cũng như bên Tây. Hiện nay có vấn đề kỳ thị các Kitô hữu tại các nước thành viên của tổ chức OSCE như Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, và một vài nước khác trong vùng Caucase. Rồi cũng có vấn đề kỳ thị chủng tộc gắn liền với người di cư sống tại Âu châu. Tiếp đến cũng có nạn bài do thái tái phát, gắn liền với tình hình nóng bỏng của vùng Trung Đông, cũng như tại nhiều nước Tây Âu lại tái phát một loại thần bí ngoại giáo và khuynh hướng tân đức quốc xã. Nhưng cũng có vấn đề liên quan tới một ý niệm tục hóa xã hội, biến thành duy đời cục đoan và thước đo nền dân chủ.

Chẳng hạn như bên Tây Ban Nha người ta đang tìm đưa ra một luật về tự do tôn giáo, cho phép kiện ra tòa việc không cho nữ giới làm linh mục công giáo. Nó có nghĩa là người ta không có ý tưởng riêng về phần đóng góp của cuộc sống tôn giáo cho xã hội dân sự. Đó là chưa nói đến việc tháo gỡ các thánh giá trong các công sở, khăn trùm đầu vv... Trong qúa khứ các hình thức kỳ thị tôn giáo lộ hiện rõ ràng, dưới hình thái thảm cảnh mà người dân phải sống trong một vài quốc gia. Ngày nay nó là trung tâm của một thảm cảnh mà Tây Âu đang phải sống. Cần phải nhắn gửi thế giới Tây Âu hai sứ điệp: thứ nhất điều nối kết chúng ta mạnh mẽ hơn là điều chia rẽ chúng ta; thứ hai nó không loại trừ vấn đề sự thật, nhưng khiến cho nó trong sáng hơn. Đối thoại trong các điều kiện này không có nghĩa chỉ là tìm kiếm một giàn xếp, nhưng phải lãnh trách nhiệm tiến tới với sự thật, mà tôi không có sẵn trong túi, nhưng là một kinh nghiệm có thể sống một cách nhân bản. Chúng ta có thể đi sâu vào sự thật và trên sự thật đó có thể xây dựng sự chung sống.

(TRACCE, Febbraio 2009, trang 38-41)
 
ĐTC: '' Đức Giêsu biến hình chung quy là một cảm nghiệm cầu nguyện''
Bình Hòa
18:01 09/03/2009
Kinh Truyền tin chúa nhựt 8-3-09

Cùng như mọi lần, chủ đề cho bài suy niệm trước khi đọc kinh Truyền tin dựa theo đoạn sách Tin mừng đọc trong Thánh lễ. Đề tài của chúa nhựt thứ hai mùa Bốn mươi là việc Chúa Giêsu biến hình trên núi. Biến cố này nhằm chuẩn bị các môn đệ đương đầu với cuộc thử thách đức tin khi chứng kiến cuộc tử nạn của Thầy mình. Đức Giêsu muốn cho họ biết rằng Người phải trải qua thập giá để hoàn tất kế hoạch yêu thương của Chúa Cha, và nhờ thế Người sẽ bước vào vinh quang. Đức Thánh Cha muốn nêu bật rằng cuộc biến hình diễn ra đang khi đức Giêsu cầu nguyện, và khuyến khích các tín hữu hãy dành thời giờ trong mùa phụng vụ này cho việc thinh lặng, tĩnh tâm, lắng nghe Lời Chúa, để khám phá kế hoạch tình thương của Chúa Cha. Sau khi ban phép lành Toà thánh, đức Bênêđictô XVI thêm vài lời nhắn nhủ nhân dịp ngày quốc tế phụ nữ, 8 tháng 3. Một đàng ngài nhắc đến những văn kiện của Giáo hội bàn về vai trò phụ nữ, đặc biệt là tông thư Mulieris dignitatem (Phẩm giá phụ nữ) do đức Gioan Phaolô II ban hành ngày 15-8-1988, và đàng khác ngài nêu cao tấm gương của bao nhiêu vị thánh điển hình cho các phụ nữ dấn thân thi hành công cuộc bác ái và phục vụ nhân loại, tỉ như Mẹ Têrêxa Calcutta. Mong sao cho phẩm giá của các phụ nữ được tôn trọng, cũng như sự đóng góp đắc lực của họ vào sự xây dựng xã hội và Nước Chúa được nhìn nhận.

Đức thánh cha cũng loan báo hai chuyến tông du sắp thực hiện để xin cầu nguyện: chuyến đi Phi châu (Cameroun và Angola) từ ngày 17 đến 23 tháng 3 sắp đến, và chuyến hành hương đất thánh từ ngày 8 đến 15 tháng 5. Sau đây là nguyên văn bài huấn dụ.


Anh chị em thân mến,

Như đã biết, trong những ngày vừa rồi, cùng với các cộng sự viên của giáo triều tôi đã làm tuần tĩnh tâm. Đó là một tuần lễ thinh lặng và cầu nguyện: dành tâm trí hoàn toàn cho Chúa, cho việc lắng nghe lời Chúa, suy ngắm những mầu nhiệm của đức Kitô. Một cách nào đó, có thể so sánh như các tông đồ Phêrô, Giacobê và Gioan khi được Chúa Giêsu đem lên núi, vào nơi thanh vắng, ở một mình với Chúa. Đang khi cầu nguyện, thì Người biến hình: dung nhan và bản thân của Người tỏ ra sáng chói rực rỡ. Hôm nay chúa nhựt thứ hai mùa Bốn Mươi, phụng vụ trưng bày quang cảnh này (Mc 9,2-10). Đức Giêsu đã muốn cho các môn đệ, cách riêng những người sẽ mang trách nhiệm hướng dẫn Giáo hội sơ khai, được cảm nghiệm trực tiếp vinh quang thiên tính của Người, để đương đầu với sự vấp phạm của thập giá. Thực vậy, khi tới giờ chiụ trao nộp, đức Giêsu sẽ rút lui vào vườn Getsemani để cầu nguyện, và Người mang theo các ông Phêrô, Giacôbê, Gioan, yêu cầu họ hãy tỉnh thức và cầu nguyện với mình (xc Mt 26,38). Họ sẽ không đủ sức, nhưng ân sủng của Chúa Kitô sẽ nâng đỡ và giúp họ vững tin vào sự Phục sinh.

Tôi muốn nêu bật rằng việc đức Giêsu biến hình chung quy là một cảm nghiệm cầu nguyện (xc. Lc 9,28-29). Thực vậy, sự cầu nguyện đạt tới cao điểm, và như thế trở nên nguồn ánh sáng nội tâm, khi tinh thần của con người kết hiệp với thần trí của Chúa, và hai ý chí kết hợp với nhau, hầu như trở thành một. Khi đức Giêsu đi lên núi, Người chìm đắm trong sự chiêm niệm kế hoạch yêu thương của Chúa Cha, Đấng đã sai Người đến thế gian để cứu chuộc nhân loại. Bên cạnh Chúa Giêsu, hai ông Mosê và Elia hiện đến, nhằm cho thấy rằng toàn bộ Kinh thánh nhất trí với nhau trong sự loan báo cuộc Vượt qua của Người, nghĩa là đức Kitô phải chịu đau khổ và chịu chết để bưóc vào vinh quang (xc. Lc 24,26.46). Kể từ lúc ấy, đức Giêsu đã thấy thập giá hiển hiện trước mặt mình, như là hy tế cần thiết để giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và cái chết. Và trong con tim của mình, Người đáp lại “Amen”, xin vâng, lạy Cha, xin ý muốn tình thương của Cha được thực hiện. Thế rồi, cũng như đã diễn ra bên bờ sông Giorđanô, từ trời cao tỏ ra những dấu hiệu Chúa Cha hài lòng chấp nhận: ánh sáng làm biến dạng đức Giêsu, tiếng nói tuyên dương Người là “Con yêu dấu” (Mc 9,7).

Anh chị em thân mến

Cùng với việc giữ chay và các công tác từ thiện, sự cầu nguyện họp nên rường cột của đời sống tâm linh của chúng ta. Tôi xin anh chị em trong mùa Bốn Mươi này, hãy tìm những thời khác thinh lặng, tĩnh tâm nếu được, để nhìn lại cuộc đời dưới ánh sáng của kế hoạch tình thương của Cha trên trời. Trong cuộc chú tâm lắng nghe Chúa, hãy nhờ đức Maria hướng dẫn, Người là mẫu gương và thầy dạy sự cầu nguyện. Trong cảnh đen tối của cuộc Tử nạn của Đức Kitô, Mẹ đã không đánh mất, nhưng đã duy trì trong tâm hồn ánh sáng của Con mình là Thiên Chúa. Chúng ta hãy khẩn nài người mẹ của tín thác và hy vọng ban cho điều ấy.
 
Top Stories
Campaign of intimidation against lawyer representing Thai Ha parishioners continues
Asia-News
13:20 09/03/2009
Le Tran Luât, legal counsel for people who filed charges against state media for false reporting of their trial, has been detained by police. His office had been raided previously. His Bar Association has threatened to suspend his licence, and an aide has been detained and interrogated.

Hanoi (AsiaNews) – A prayer vigil has been held in Hanoi in favour of Le Tran Luât, the attorney who has been acting on behalf of Thai Ha parishioners. The authorities have been actively engaged a campaign of intimidation against him in order to stop a libel suit against state media for their false reporting of the trial that convicted the parishioners.

The latest step in the campaign was the lawyer’s arrest last Tuesday at Ho Chi Minh City’s Tan Son Nhat Airport as he was preparing to fly to Hanoi for the trial against Ha Nôi Moi and Vietnam Television 1.

Charges were brought against the two media outlets by some of the eight Thai Ha parishioners who were convicted for disorderly conduct and damaging state property when they held a prayer vigil in which they demanded justice and the return of Church property seized by the authorities.

During the trial the accused pleaded not guilty, a plea confirmed by witnesses. The media reported instead that they had acknowledged breaking the law and had admitted their guilt. And the journalists who reported the trial were even given an award by the Hanoi Communist Party secretary, PhamQuang Nghi.

Le Tran Luat’s detention is not the first time he has had a brush with the law because of his work on behalf of people who unfairly lost property to or suffered abuses by the authorities.

On 25 February police raided his office in Ho Chi Minh City. No explanation was given, but documents and computers were seized. Before that, on 10 February, he received an official letter from the Ninh Thuân Provincial Bar Association, of which he is a member, informing him that local police and court were investigating him for alleged infractions he committed in his professional activities and that he had to appear before the Association to explain himself.

On 24 February Ho Chi Minh City’s police newspaper (Bao Công An Thanh Phô Hô Chi Minh) published an article accusing him of making money fraudulently, and claiming that several complaints had been made against him.

The article appears to be designed to prepare public opinion for some measures against the lawyer. Luât himself was told by phone on the morning of 24 February that a media campaign was being prepared against him, suggesting that he give up on the Thai Ha affair, especially the legal action against state media.

Last Wednesday an aide to the lawyer, Ta Phong Tan, was taken into custody by plainclothes policemen, who subjected her to hours of interrogation. According to her, only one official wore a name tag, indicating his identity. Upon her release she was told to appear again for more questioning.

A great crowd took part in the vigil organised by the Redemptorists. Similar initiatives were organised in Ho Chi Minh City monasteries and in other provinces.
 
Continua la campagna intimidatoria contro l’avvocato dei fedeli di Thai Ha
Asia-News
13:22 09/03/2009
Le Tran Luat, che patrocina la causa intentata contro i media statali che hanno dato falsi resoconti del processo contro i parrocchiani, è stato fermato dalla polizia. In precedenza, il suo studio è stato perquisito, l’Ordine degli avvocati ha minacciato di sospendergli la licenza, una sua assistente è stata fermata e interrogata.

Hanoi (AsiaNews) – Veglia di preghiera a Hanoi a favore di Le Tran Luat, l’avvocato dei fedeli della parrocchia di Thai Ha, vittima di una campagna di intimidazione da parte delle autorità. L’obiettivo apare essere quello di fermare la querela dei cattolici contro i falsi resoconti diffusi dai media di regime sul processo che li ha visti condannati per i fatti legati alla vicenda della parrocchia.

Ultimo atto della campagna è stato l’arresto del legale compiuto martedì scorso dalla polizia all’aeroporto Tan Son Nhat, nel momento in cui l’avvocato stava per imbarcare da Ho Chi Minh City per Hanoi, proprio per la preparazione del processo contro Ha Nôi Moi e Vietnam Television 1.

I due media sono accusati da alcuni degli otto fedeli della parrocchia di Thai Ha condannati per “condotta disordinata” e “danneggiamento di proprietà statali” per aver preso parte alle veglie di preghiera con le quali si chiedeva “giustizia” per la restituzione dei terreni sottratti alla chiesa. Accusati e testimoni al processo hanno riferito che tutti gli imputati si diciararono non colpevoli davanti al tribunale. Ma i due media hanno riportato che “tutti gli imputati hanno ammesso la loro colpevolezza, riconoscendo che hanno compiuto azioni negative in violazione della legge”. Da aggiungere che gli autori dei resoconti hanno anche ricevuto un premio che è sotto l’alto patronato del segretario del Partito comunista di Hanoi, PhamQuang Nghi.

Il fermo dell’avvocato Le Tran Luat avvenuto martedì è il più recente atto di una campagna contro il legale che si occupa anche di persone spogliate ingiustamente delle loro terre o vittime di altri soprusi. Il 25 febbraio c’è stata una perquisizione - senza spiegazioni - operata dalla polizia nel suo studio, a Ho Chi Minh City, con il sequestro di computer e documenti; in precedenza, il 10 febbraio, una lettera ufficiale dell’Ordine degli avvocati della provincia di Ninh Thuân, ove egli è iscritto, gli comunicava che la polizia e la magistratura della provincia avevano informato lo stesso Ordine di alcune infrazioni che avrebbe commesso nell’esercizio della professione e lo convocava per chiarire tali infrazioni. Il 24 febbraio, il giornale della Sicurezza di Ho Chi Minh City (Bao Công An Thanh Phô Hô Chi Minh) ha pubblicato un articolo nel quale afferma di aver ricevuto un gran numero di lamentele contro l’avvocato, accusandolo di guadagni fraudolenti. L’articolo sembra voler preparare l’opinione pubblica a qualche passo contro il legale. Lo stesso Luât, peraltro, ha rivelato che proprio la mattina del 24, qualcuno gli ha telefonato avvertendolo che si stava preparando una campagna di stampa contro di lui e chiedendogli di non occuparsi più della vicenda di Thai Ha e in particolare di ritirare le accuse contro i media di regime.

Il 4 marzo, infine, una assistente dell’avvocato, Ta Phong Tan, è stata presa da un gruppo di agenti in borghese, che l’ha portata in un ufficio dove l’ha sottoposta per ore ad interrogatorio. A quanto riferito dalla donna, solo uno dei funzionari aveva il cartellino con il suo nome, gli altri si sono rifiutati di rivelare la propria identità. Al momento di rilasciarla dopo il lungo interrogatorio, le è stato dato l’ordine di ripresentarsi per rispondere a ulteriori domande.

Alla veglia promossa dai Redentoristi di Thai Ha ha preso parte una grande folla. Anloghe iniziative sono state prese dai religiosi in monasteri di Ho Chi Monh City e altre province.
 
State-run media re-launch smearing campaign against Catholics.
Emily Nguyen
13:44 09/03/2009
The quest for justice of Catholics in Hanoi is now facing a tough challenge as it is interpreted as the continuation of disturbance of public order by the government, rather than a victims' demand for the correction of falsified court hearing report.

Just one day after New Hanoi Newspaper publicly refused to make corrections on its falsified report of what really happened at the trial of 8 Thai Ha parishioners on Dec 8, 2008, the next day, on Feb 28, 2009, the online edition of this very newspaper had published an article charging the Thai Ha plaintiffs for refusing to “awaken to reality" in a very provocative, accusatory tone. About a week later, on March 5, the second media outlet (Vietnam Television) also brushed aside the Thai Ha parishioners' demand to broadcast the corrected version of the trial report the plaintiffs claimed VTV was responsible for.

General speaking, each time state media launch a hate campaign against Catholics in Hanoi, it usually means a suggestion for more severe crackdowns against them.

What the state media's intention is now unraveling to the public view as they are trying to portrait the Catholics' lawsuit as groundless, and the plaintiffs are none other than stubborn defendants who did not only refuse to honor the stayed sentence imposed upon them by the Hanoi people's court, but also continue to cause public disturbances by insisting on the media to make corrections on what they described as "distortion of the truth" in broad daylight.

The fact of the matter is all 8 Thai Ha defendants in the criminal court held on Dec 8, 2008 never pleaded guilty to the charges against them by the government. The state run media reported at their liberty that they "all bowed their heads to plead guilty and accepted responsibilities for their actions." To this outrageous lies every eyewitness were so offended that a law suit had been brought against the two said media outlets.

Even more alarming is the fact that the Catholics' legal counsel Mr. Le Tran Luat is now being subject of governmental intimidation and persecution for providing assistance in the law suits against the state media.

Last Tuesday, lawyer Le Tran Luat was arrested at Tan Son Nhat airport on last Tuesday morning when he was boarding a flight from Saigon to Hanoi in order to prepare for the law suits against the state media.

A week before, his office was ransacked. His computers and other personal equipments were confiscated. His aides were taken into custody by plainclothes policemen, and suffered hours of interrogation.

Thai Ha parishioners and the Hanoi Redemptorists are still being shocked at what is happening to their fellow parishioners and their legal representatives. On March 7, a candlelight vigil has been held at Hanoi Redemptorist monastery to pray for justice and for the safety of their lawyers.

Thai Ha Catholics and their lawyer Le Tran Luat are now asking for the public's prayers and interventions as their lives and their rights to demand justice are now in jeopardy due to the incapability to uphold the law of the Vietnam government and law makers.
 
Wietnam: reżim szykanuje adwokata katolików z Hanoi (tiếng Ba Lan)
Katolicka Agencja Informacyjna
17:06 09/03/2009
2009-03-03 - Wietnamska policja przesłuchała dziś adwokata wiernych z parafii redemptorystów Thai Ha w Hanoi, skazanych 8 grudnia w zawieszeniu za nielegalną działalność religijną, manifestacje poza miejscem kultu i zniszczenie muru na terenie spornym. Mecenas Lê Tran Luât prowadzi również sprawę dwóch katoliczek, które wniosły skargę przeciwko oficjalnym mediom przeciw fałszywym doniesieniom z procesu.

Jak donosi agencja AFP adwokat Lê Tran Luât specjalizuje się w sprawach związanych z obroną praw człowieka. Zatrzymano go na lotnisku w mieście Ho Chi Minh, gdy udawał się do stolicy kraju. W areszcie przebywał 24 godziny.

W ubiegłym tygodniu policja przeszukała jego kancelarię. W trakcie rewizji zabrano pięć komputerów. Jak informuje dziennik organów bezpieczeństwa z dawnego Sajgonu do władz docierały skargi na działalność wspomnianej kancelarii. Ten sam organ donosił również o oszustwach podatkowych adwokata. Mecenas Lê Tran Luât twierdzi, że działania te mają charakter manipulacji politycznej i próby zastraszania obrońcy.

(Source: Katolicka Agencja Informacyjna http://wyborcza.pl/1,91446,6339382,Wietnam__rezim_szykanuje_adwokata_katolikow_z_Hanoi.html)
 
Vietnam: L’avocat des fidèles de Thai Ha interrogé par la police
Zenit
17:08 09/03/2009
Et empêché de défendre ses clients

ROME, Mardi 3 mars 2009 (ZENIT.org) - La police de Hô Chi Minh-Ville empêche l'avocat des fidèles de la paroisse de Thai Ha de se rendre à Hanoi pour veiller à la défense de ses clients, dénonce aujourd'hui Eglises d'Asie (EDA), l'agence des Missions étrangères de Paris (MEP).

L'avocat défenseur des huit accusés de la paroisse catholique de Thai Ha, à Hanoi, Me Lê Trân Luât, a été, ce matin 3 mars 2009, « convié à un interrogatoire » par la police, dans l'aérogare de Tân Son Nhât, à Saigon, alors qu'il s'apprêtait à prendre l'avion pour Hanoi, où il devait effectuer diverses démarches relatives au procès en appel de ses clients et à la plainte déposée par eux contre deux médias officiels pour informations erronées (1).

Il était 6 heures du matin (heure locale) et l'avocat se préparait à embarquer lorsque des agents des forces de l'ordre l'en ont empêché au motif qu'il était « invité à une séance de travail ». Une dizaine de policiers l'attendaient dans la salle de sécurité de l'aérodrome où il a été ensuite conduit. Aux questions de l'avocat les interrogeant sur le motif de cette intervention, ils ont répondu qu'ils obéissaient aux ordres et qu'ils étaient chargés de le ramener à son cabinet de Saigon après la « séance de travail ». Vers le milieu de la matinée (heure locale), l'avocat se trouvait encore dans les locaux de la Sécurité de l'arrondissement de Go Vâp.

Ces derniers jours, une campagne de déstabilisation a été menée par les autorités policières contre cet avocat de Saigon, brillant défenseur de la cause des huit fidèles de la paroisse de Thai Ha (2). Le 10 février dernier, l'ordre des avocats du barreau de la province de Ninh Thuân l'avait averti que des accusations étaient portées contre lui pour infractions commises dans l'exercice de sa profession. Le 24 février, le journal de la Sécurité de l'Hô Chi Minh-Ville avait publié un article dénonçant de prétendus contrats frauduleux passés par le cabinet de l'avocat à Saigon. Le lendemain, alors que Me Luât était à Hanoi, une perquisition était effectuée à son cabinet, à Saigon, par des agents de la Sécurité de l'arrondissement de Go Vâp.

Le prétexte de cette intervention était l'exécution d'une mesure de contrainte administrative à l'encontre du cabinet, portant sur la récupération d'une somme de 42 millions de dôngs (environ 2 000 euros). Dans un conflit financier opposant le cabinet de l'avocat à une entreprise vietnamienne, une décision de conciliation du tribunal avait obligé le cabinet à verser cette somme à l'entreprise. La somme avait été rassemblée et déjà proposée au tribunal, qui avait renvoyé le règlement à plus tard. Or, brusquement, le 24 février, une mesure de contrainte administrative était émise au sujet du règlement de cette somme. C'est cette mesure qui était prétendument exécutée le 25 février, mais en réalité les policiers refusèrent de prendre la somme d'argent, pourtant déjà prête, et repartirent avec un certain nombre d'ordinateurs contenant toute la documentation du cabinet.

L'intervention de ce matin vient confirmer que l'action policière menée contre l'avocat vise en réalité son activité au service des fidèles de Thai ha et d'autres dissidents dont il défend la cause.

(1) La nouvelle provient du secrétariat de l'avocat et a été mise en ligne sur le site Internet de la paroisse de Thai Ha, où l'on peut aussi trouver un enregistrement audio de la « séance de travail ».

(2) Voir EDA 502.

(Source: http://zenit.org/article-20336?l=french)
 
Vietnam: L’université catholique Loyola de Chicago installe un bureau à Hô Chi Minh-Ville en vue de collaborer avec les universités vietnamiennes
Eglises d'Asie
17:09 09/03/2009
L’université Loyola de Chicago vient d’obtenir l’autorisation d’installer un bureau de liaison à Hô Chi Minh-Ville. La nouvelle a été annoncée par Voice Of America (émissions en vietnamien, 7 mars 2009). Elle devient ainsi la première institution universitaire catholique américaine à venir s’installer au Vietnam depuis 1975. Cette autorisation a été donnée à la suite de deux voyages d’études de cette université au Vietnam, l’un en juillet 2007, l’autre au cours du mois de janvier dernier.

Cette université, dirigée par les jésuites, a été fondée en 1870 à Chicago sous le nom d’école Saint-Ignace. Elle est devenue la plus importante institution catholique d’enseignement supérieur aux Etats-Unis, avec plusieurs annexes dont une en Italie. Elle dispense un enseignement pluridisciplinaire couvrant les domaines de la gestion des entreprises, des communications, de la pédagogie, du droit, de la médecine, ainsi que de la sociologie et de quelques autres matières. Aux 16 000 étudiants qui suivent ses cours, elle décerne des diplômes de master et de doctorat. Cette institution catholique est régulièrement inscrite par les revues spécialisées aux premières places de la liste des meilleures universités américaines.

Patrick Boyle, vice-recteur chargé des relations internationales et des projets de formation divers dans les pays étrangers, a mené les négociations préalables à la création de ce bureau à Saigon. En 2007, une délégation du ministère de l’Education nationale vietnamien était venue à Chicago, avait rendu visite à l’université Loyola et invité ses responsables à effectuer un voyage au Vietnam. Ce voyage a eu lieu en juillet 2007, date à laquelle un groupe d’universitaires de Loyola, conduit par le recteur, a rendu visite à diverses universités à Hanoi et à Hô Chi Minh-Ville. L’objectif était de contacter les autorités vietnamiennes et de se rendre compte des besoins en matière de formation universitaire. Le Vice-Premier ministre leur suggéra alors de collaborer avec différentes universités vietnamiennes, particulièrement dans le domaine médical par un enseignement en anglais.

Le représentant de l’université Loyola dans le bureau nouvellement créé à Saigon est chargé de préciser et de préparer les projets à mettre en œuvre. D’ores et déjà, un certain nombre sont en cours de réalisation. Le premier permettra à des étudiants de l’université Loyola de venir au Vietnam pour y effectuer des travaux de recherches et d’études. Le bureau de liaison de Saigon compte également organiser des carrefours et des séminaires à l’intention du monde universitaire vietnamien. Un certain nombre d’entre eux auront lieu à Chicago, les autres au sein des universités nationales à Hô Chi Minh-Ville.

L’université Loyola se propose encore de participer au recyclage du personnel universitaire chargé de la gestion financière et du recrutement des étudiants. Enfin, l’institution catholique prévoit d’ouvrir un cours d’anglais spécialisé pour les étudiants et les cadres de l’université de médecine de Hanoi, préparant ceux-ci à la consultation de la littérature médicale anglophone. Les premiers projets devraient être mis en route dès le mois de juin de cette année.

Le bureau de liaison de l’université Loyola, situé dans le premier arrondissement de Hô Chi Minh-Ville, sera également chargé d’accueillir et de guider dans leurs démarches les étudiants vietnamiens désirant entamer ou poursuivre des études à l’université Loyola de Chicago.

Avant le changement de régime d’avril 1975, il existait deux universités catholiques au Vietnam. L’université Thu Nhân à Dalat, déjà ancienne, placée sous la responsabilité de la Conférence épiscopale, était fréquentée par quelque 5 000 étudiants. La seconde, l’université Minh Duc, avait été ouverte à Saigon, en 1970, à l’initiative d’un religieux dominicain, le P. Buu Duong (1907-1987). Plusieurs projets de fondations étaient aussi en chantier.

(Source: Eglises d'Asie, 9 mars 2009)
 
Chine: Pour nombre de catholiques en Chine, les habitudes d’avant le concile Vatican II n’induisent pas une grande familiarité avec la Bible
Eglises d'Asie
17:11 09/03/2009
Enseignant au grand séminaire régional de Montecorvino, à Taiyuan, dans la province du Shanxi, le P. Peter Guo Quanzhi enseigne l’Ecriture Sainte depuis douze ans. Agé de 36 ans, il est également curé de la paroisse de Yangjiabao, dans le diocèse de Taiyuan. Fort de cette double expérience, il s’inquiète du peu d’intérêt que les fidèles comme les prêtres de l’Eglise catholique en Chine portent à l’étude et la lecture de la Bible. Ses observations, reprises par l’agence Ucanews, le 5 mars dernier, font suite au récent synode sur la Parole de Dieu, qui s’est tenu en octobre 2008 au Vatican.

Selon le P. Guo, cette situation, particulière à la Chine continentale, viendrait de ce que les catholiques qui ont reçu la foi et ont été formés avant le concile Vatican II (1962-65) entretiennent des rapports distants avec la Bible, considérant qu’elle ne doit pas être lue ou étudiée à la légère. Le prêtre rappelle qu’autrefois, seul le clergé était habilité à étudier les Ecritures, les laïcs n’ayant d’ailleurs que rarement la possibilité d’avoir et de lire une bible. Selon lui, la situation n’a pas beaucoup évolué depuis.

Non seulement il n’y a pas assez d’enseignants catholiques ni même de documentation suffisante pour les études bibliques dans les séminaires, mais l’accès des fidèles à la Bible n’est toujours pas aisé. Alors que les séminaristes ont besoin d’en apprendre davantage sur les aspects théologiques de la Bible, les laïcs ont besoin d’être guidés de manière concrète dans leur foi, ajoute-t-il.

Bien qu’au sein de l’Eglise en Chine, le nombre des jeunes prêtres qui ont reçu une partie de leur formation à l’étranger devienne significatif, la plupart d’entre eux préfèrent étudier la théologie plutôt que l’herméneutique – l’interprétation des Ecritures Saintes – ou la pratique de la Lectio Divina – la lecture priante de la Bible.

Du côté des livres disponibles, les trois plus importantes maisons d’édition catholiques du pays – Hebei Faith Press, Shanghai Guangqi Research Center et Sapientia Press House – ont bien publié des ouvrages sur des sujets touchant à la Bible, mais leur contenu est trop limité pour répondre aux attentes des catholiques chinois, souligne-t-il.

En 1999, le P. Guo a fait partie d’un groupe de 12 prêtres, issus de 12 grands séminaires de la Chine continentale qui ont participé à une session sur les méthodes d’enseignement de la Bible; la session a eu lieu à Qingdao, dans la province du Shandong. Il déplore qu’aujourd’hui, dix de ces prêtres ont été réaffectés à des tâches purement pastorales, sans pouvoir appliquer à une plus grande échelle les connaissances acquises dans le domaine de l’apostolat biblique; il regrette également le manque de coopération entre les enseignants des grands séminaires sur le sujet.

Rappelant que Jésus s’appuyait sur des exemples de la vie de tous les jours pour parler à des gens ordinaires, le P. Guo explique que « le message de vie » de la Bible doit être transmis aux fidèles avec la même efficacité. Il suggère que l’Eglise en Chine forme un groupe de prêtres et de religieuses qui seraient capables de développer l’étude de la Bible et son enseignement parmi les laïcs. Il faut « réinsérer la Bible dans la vie quotidienne des catholiques », explique-t-il.

Selon lui, instaurer un rapport de proximité voire de familiarité avec la Bible, bien que cela aille à l’encontre des habitudes bien ancrées des fidèles « d’avant le concile » pourrait seul redonner toute sa place à l’étude et à la lecture des Ecritures dans l’Eglise de Chine.

(Source: Eglises d'Asie, 9 mars 2009)
 
Vietnam: Selon un commentateur, la plainte des catholiques de Thai Ha contre les médias officiels a fait sortir le pouvoir central de la réserve où il se tenait jusqu’à présent
Eglises d'Asie
17:26 09/03/2009
Avec les récentes interventions de la police de Saigon contre Me Lê Trân Luât, avocat (1), ce que l’on appelle désormais « l’affaire des catholiques de Thai Ha » aurait-elle changé de dimension ? Localisée dans les limites de la capitale et traitée jusqu’à présent par des autorités municipales, aurait-elle pris maintenant une dimension nationale ? C’est ce que donne à penser un commentaire mis en ligne par une agence en langue vietnamienne, le 5 mars dernier (2). Celui-ci s’efforce de montrer que, contrairement à ce que certains ont pensé trop rapidement, la riposte du pouvoir aux protestations catholiques est – et l’a sans doute été dès le début – animée, calculée et coordonnée au plus haut niveau du gouvernement.

Toute l’année dernière, les questions soulevées par les réclamations des catholiques et leurs manifestations de prière ont été réglées au niveau de l’arrondissement et, quelquefois, de la ville. Le pouvoir central s’est bien gardé d’émettre une opinion, laissant entendre qu’il s’agissait là d’une affaire locale. La plus haute autorité rencontrée par les fidèles de cette paroisse fut un des membres du Comité populaire de Hanoi. Les autorités supérieures ont donc pris soin de se tenir à distance de l’affaire et de garder celle-ci à l’intérieur du cadre municipal, suggérant ainsi que son importance ne méritait pas leur attention.

Mais, ces derniers jours, les actions illégales menées contre l’avocat et son cabinet de Saigon ont levé le voile sur les véritables instances chargées de traiter cette affaire. Ces dernières ont à leur disposition les forces de sécurité de Saigon. Les policiers de l’arrondissement de Go Vâp, à Hô Chi Minh-Ville, n’ont-ils pas dit à Me Luât, lors de son arrestation et de son internement provisoire du 3 mars, qu’ils agissaient sur ordre supérieur ?

L’avocat est le représentant légal de ses clients catholiques de Hanoi dans la plainte lancée par eux contre le journal et la télévision de la capitale pour déformation de la vérité, plus précisément pour avoir affirmé que les catholiques inculpés s’étaient déclarés coupables devant le tribunal – ce qui était faux. L’arrestation de l’avocat à l’aéroport de Saigon, sa mise en surveillance dans les locaux de la police ont eu lieu le jour-même où il devait assister ses clientes, Mmes Nguyên Thi Viêt et Ngô Thi Dung, dans des démarches auprès des médias, objets de la plainte. Cette même matinée, à Hanoi, Mme Viêt était convoquée à la Sécurité de son district sans raison apparente, pour y faire le récit des débats du procès. Cet ensemble de faits montre à l’évidence non seulement une coordination de l’action policière au niveau national mais encore la solidarité existant entre la presse officielle et les divers organismes de l’Etat.

Il apparaît que l’interdit qui empêchait le pouvoir central de s’impliquer trop ouvertement dans cette affaire est tombé. La critique ouverte contre les médias officiels a contraint les autorités centrales à sortir de leur réserve, ce que n’avaient pas réussi à faire les revendications de terrains et les manifestations de prière de l’année dernière.

(1) Voir les deux dépêches diffusées par EDA les 3 et 5 mars 2009.

(2) Paru dans VietCatholic News sous la signature de Phong Thuong.

(Source: Eglises d'Asie, 9 mars 2009)
 
Corée du Sud: A l’occasion de la Journée internationale des femmes, l’Eglise catholique veut accorder aux femmes un rôle décisionnaire plus important au sein de ses institutions
Eglises d'Asie
17:52 09/03/2009
« L’Eglise catholique se doit d’augmenter la proportion de femmes dans ses instances décisionnaires », a déclaré à l’agence Ucanews, Sr Gratia Kim Sook-hee à l’occasion de la Journée internationale des femmes le 8 mars dernier (1). La cinquantaine dynamique, Sr Kim est secrétaire exécutive du Comité pour les femmes de la Conférence des évêques catholiques de Corée (CBCK). Elle explique que son comité a demandé aux évêques que soit attribué aux femmes un quota de 30 % des postes dans les conseils paroissiaux.

Selon les statistiques ecclésiales de 2007, les femmes représentent 58,3 % des 4,8 millions de catholiques sud-coréens. Pourtant, selon Park Eun-mi, membre l’Institut de recherche des femmes catholiques de Corée (Catholic Women’s Research Institute of Korea), les membres des comités des différentes Eglises ne comptent que 10 % d’éléments féminins.

Sr Kim est une ancienne provinciale de la Société du Sacré-Cœur en Corée (2) et membre exécutif du Rassemblement des religieux d’Asie et d’Océanie (Asia-Oceania Meeting Of Religious, AMOR). Elle poursuit: « Le 8 mars est la Journée internationale des femmes. Ce jour-là, nous sommes invités à réfléchir sur la réalité et le statut de la femme à l’heure où nous nous efforçons de créer une communauté où hommes et femmes pourraient vivre dans une harmonie également partagée. Pour ce faire, j’aimerais émettre quelques propositions sur la façon d’utiliser le potentiel des femmes au sein de l’Eglise locale. En avril 2008, le comité dont je fais partie a tenu un séminaire sur la mise en pratique du potentiel féminin au service de l’Eglise (…). Bien que ce soit là une question à laquelle il est difficile de répondre en si peu de temps, le séminaire a soulevé un certain nombre de points intéressants.

Lee Sang-hwa, qui travaille pour l’Institut coréen pour la promotion et l’éducation à l’égalité des sexes (Korean Institute for Gender Equality Promotion and Education), organisme d’Etat, a expliqué certaines des mesures du gouvernement afin de promouvoir la prise de responsabilité par les femmes, et argumenté sur le fait que l’Eglise devait également encourager la participation des femmes dans les prises de décision et favoriser leur promotion.

Park Eun-mi, membre de l’Institut de recherche coréen des femmes catholiques, a parlé de la condition féminine aujourd’hui dans l’Eglise, soulignant que les femmes de moins de 50 ans éprouvaient de grandes difficultés à participer aux activités ecclésiales. Elle a proposé que les prêtres mettent en place des projets spécifiques, notamment pour celles qui ont de jeunes enfants, comme la messe des familles avec les tout-petits, des conférences et des retraites sur les thèmes de la famille.

Le P. Hugo Park Jung-woo, prêtre à Séoul, membre du Comité pour les femmes de la CBCK, a fait constater qu’au sein de l’Eglise, la plupart des bénévoles étaient des femmes mais que ce nombre allait décroissant au fur et à mesure que les femmes s’engageaient dans le marché de travail. Il a donc suggéré que l’Eglise envisage de rémunérer celles qui étaient à son service, par l’activité liturgique, musicale ou encore le catéchisme.

J’ai pour ma part, quelques suggestions:

Premièrement, dans l’Eglise, un très petit nombre de femmes participe aux prises de décision. De même que la société coréenne évolue progressivement vers l’égalité des sexes, tout spécialement à travers les mesures gouvernementales, l’Eglise se doit également d’augmenter la représentation des femmes dans ses organes décisionnaires. Par conséquent, notre Comité pour les femmes a demandé à la Conférence épiscopale de s’engager à ce que 30 % des membres des conseils pastoraux paroissiaux soient des éléments féminins. (…).

Deuxièmement, je désire souligner combien il est important de développer des projets de formation pour les femmes. La première étape consisterait à se faire une idée précise de la réalité d’aujourd’hui, en identifiant la place des femmes dans les différentes fonctions d’Eglise, comme les catéchistes et les responsables de districts paroissiaux, dans les statistiques et les rapports annuels de l’Eglise.

Ensuite, l’Eglise devra développer des secteurs d’activités tels que le conseil, le travail social ou l’éducation, dans lesquels les femmes pourront utiliser leurs talents professionnels. (…).

Alors que de plus en plus de femmes commencent à exercer « leur pouvoir » dans la société, l’Eglise a mis davantage l’accent sur la formation des responsables masculins comme les séminaristes ou les prêtres.

C’est ici que j’aimerais faire remarquer que les religieuses ont besoin de jouer un rôle actif en tant que responsables au sein de l’Eglise. Et pour ce faire, leurs congrégations doivent pouvoir aider ceux de leurs membres qui sont compétents à exercer leurs charismes en accord avec l’ensemble de l’Eglise ».


(1) Ucanews, 6 mars 2009

(2) La Société du Sacré-Cœur de Jésus a été fondée en 1800 par sainte Madeleine-Sophie Barat.De spiritualité ignacienne, la congrégation, qui a essaimé dans 45 pays, compte aujourd’hui environ 3 500 religieuses. Les Sœurs du Sacré-Cœur, essentiellement enseignantes à l’origine, s’investissent aujourd’hui dans différents secteurs de la pastorale, travaillent au sein des institutions (ONU, Union européenne, ONG) ou exercent dans les domaines de la justice, la médecine, l’éducation, le service social.

(Source: Eglises d'Asie, 9 mars 2009)
 
Vietnam: massale steun voor advocaat
Dagelijks Nieuws
20:40 09/03/2009
Vietnam: massale steun voor advocaat

In Vietnam zijn op verschillende plaatsen drukbezochte gebedsbijeenkomsten gehouden voor Le Tran Luat, de advocaat die de zaken behartigt van de acht vals beschuldigde katholieken uit hanoi. Le Tran werd vorige week op het vliegveld van Ho Chi Minh-Stad gearresteerd toen hij naar Hanoi wilde vliegen voor het proces tegen twee staatsmedia wegens valse berichtgeving.

De twee media berichtten in december vorig jaar dat acht parochianen uit Hanoi, die voorwaardelijk waren veroordeeld wegens opruiing en vandalisme, schuld hadden bekend en de rechters wegens hun lankmoedigheid hadden bedankt. In werkelijkheid herhaalden de acht onschuldig te zijn en in hoger beroep te gaan tot hun onschuld wordt erkend.

Eind februari was hun advocaat, Le Tran Luat, in Hanoi voor overleg. Tijdens zijn bezoek werd zijn kantoor in Ho Chi Minh-Stad zonder huiszoekingsbevel doorzocht en werden dossiers en computers in beslag genomen. Tegelijkertijd werd hij in verschillende media beschuldigd van ernstige financiële malversaties. Ook werd hij door de orde van advocaten op het matje geroepen zich te komen verantwoorden voor deze beschuldigingen.

In een anoniem telefoontje werd hem medegedeeld dat hij de zaak tegen de staatsmedia beter kon laten rusten.

Vorige week werd ook een naaste medewerkster van Le Tran opgepakt en urenlang verhoord. (KN/AsiaNews)
 
Hanoi: Catholics held Candlelight Vigil for defense lawyer
Catholic World News
22:55 09/03/2009
Facing a police intimidation campaign against one of their lawyers, thousands of Catholics in Vietnam attended a series of Candlelight vigils to pray for justice and for the safety of their lawyers. Hanoi Redemptorists led a candlelight vigil on Saturday evening, March 7, to pray for Le Tran Luat, the lawyer who is representing Catholic activists in their case against local authorities who brought criminal charges against them for a demonstration at the city's Redemptorist monastery. The lawyer himself has now become a target of police harassment.

More details: State-run media re-launch smearing campaign against Catholics (VietCatholic News)
 
Viet Catholics look to revive evangelization efforts
Catholic World News
22:56 09/03/2009
The Archdiocese of Ho Chi Minh City (formerly Saigon) has held a series of seminars on evangelization in recent weeks, to address mounting concerns about the ineffectiveness of the Church's missionary efforts.

Although Catholicism is relatively widespread in Vietnam and the Church has a strong corps of devoted lay activists, in recent decades the growth of country's Catholic population has lagged significantly behind the overall population growth. The latest official statistical figures from the Church in Vietnam show that the Catholic population in 2007 was 6,087,700 among 85,154,900 people, or a rate at about 7.15% of national population,” said Father Anthony Nguyen Ngoc Son, a key speaker at the seminars. “This indicates a decline in number of registered Catholics comparing to 7.2 % in 1933 or 7.5% in 1939,” he warned.

It is even more alarming, conference speakers noted, that while the proportion of Catholic population in Vietnam has decreased over the last 50 years, other Christian denominations have enjoyed a surge in people joining their churches. In 1999, non-Catholic groups had 400,000 members. This number quadrupled to reach 1,500,000 in 2008 according to the latest report. “These figures are a clear indication of the ineffectiveness of the Church’s mission in Vietnam during the last 50 years,” Father Anthony Nguyen lamented.

Seminar attendees raised a pressing concern about the alarming number of adult converts who do not keep up the practice of their faith after Baptism. Within the past 7 years, there have been approximately 35,000 adult conversions to Catholicism annually-- 80-90% of these coming into the Church at the time of marriage. Unfortunately, the number of these converts who remain active has dropped dramatically. This decline can be attributed at least in part to the complications many people have to face after converting to Catholicism-- such as losing privileges and promotions at certain jobs, or facing subtle discrimination from the atheist government.

While various external factors can be cited to help explain the problems the Church has faced in her missionary efforts, seminar speakers said that an indifferent attitude toward the missionary duty among the faithful has been noticeable. Many lay people, the speakers said, assume that the clergy is solely responsible for evangelization. In addition, many Catholics have not been living their lives in ways that bear witness to Christ. Their personal and religious lives have not made any good impression on their non-Catholic neighbors and friends.Furthermore, “the clergy has not assumed the much-needed responsibility for the mission ad gentes in the country,” said Father Anthony Nguyen. "Missionary efforts seem to be a personal, sporadic crusade for volunteering individuals and religious orders." he explained. Sister Marie Nguyen of Saigon added: “Dioceses and the Church in Vietnam as whole lack zeal, a comprehensive missionary strategy and investments of means and tools for evangelical mission, especially in the rural or remote areas.”

Government oppression of the Church-- which at times amounts to outright persecution-- exacerbates the problem. In many remote areas of the Central Highlands and in northern mountainous provinces, pastoral activities are hindered by governmental bureaucracy and harassment. In these areas, missionary activity has often been described as an “offense against national security,” and the local officials have made no effort to hide their hostility toward the Church's efforts.

A persistent propaganda campaign against the Church at all levels of education makes young people confused about the real purpose of Catholic activity, and discourages them from showing their Catholic identity. “Faith is often limited to something within a personal sphere that many Catholic youth try to make it as invisible as possible," reports Sister Marie Nguyen, a sociologist. "They try to avoid religion-oriented debates, hence losing chances to bear witness to Gospel."

The seminar participants, having explored the obstacles that the Church now faces, next turned to practical questions about the evangelizing mission. In a country full of social, political, and economic bad news, speakers asked, how should Catholics bring the "Good News" to their neighbors? In the midst of a pervasive tendency toward despair, how can they convey the hope and optimism that spring from the Gospel? How can the image of the Church as a family of God be built? How can Christian families become authentic domestic churches? What efforts will be necessary to bring the Gospel message into culture of Vietnam?
 
Reagan tried to convert Gorbachev to Christianity
The Australian
23:30 09/03/2009
FORMER US president Ronald Reagan tried to convert Soviet leader Mikhail Gorbachev to Christianity in an effort to end the Cold War.

The claim appears in a new biography of Reagan, The Rebellion of Ronald Reagan: A History of the Cold War by James Mann, an extract from which appeared in The Wall Street Journal yesterday.

Mann relies on recently declassified notes by aides who were present at meetings between Mr Gorbachev and Reagan. He says Reagan expressed dismay that his own son, Ron, did not believe in God.

Apparently embarrassed, or perhaps uninterested, Mr Gorbachev tried to change the topic.

Mann says Reagan met Mr Gorbachev several times in the company of senior aides before he tried, during his first "one on one" with the then Soviet leader, to convince him of the existence of God.

Mann says it was a "bold but questionable endeavour well beyond his mandate as president of the United States".

Notes of the meeting were taken by two Reagan aides. Those notes are now declassified, and stored at the Reagan Library in Simi Valley, California.

The Reagan-Gorbachev summits, designed to bring an end to the Cold War, took place between 1985 and 1988. According to Mann, Reagan noted Mr Gorbachev's use of the words "God bless" and wondered whether they were an expression of religious faith.

Mann says that when Reagan raised the issue of God with Mr Gorbachev, he promised the Soviet leader he would never admit that the conversation took place.

According to the notes, Mr Gorbachev told Reagan that "he, himself, had been baptised, but he was not now a believer, and that reflected a certain evolution of Soviet society".

The US president told one of his trademark stories about the widow of a young World War II soldier, who "was lying in a shell hole at midnight, awaiting an order to attack".

"He had never been a believer, because he had been told God did not exist," Reagan said. "But as he looked up at the stars he voiced a prayer hoping that, if he died in battle, God would accept him. That piece of paper was found on the body of a young Russian soldier who was killed in that battle."

Mann says Mr Gorbachev "tried to switch the subject" to greater co-operation in space, "but the president wasn't to be diverted".

Mann writes: "According to the transcript, Reagan told Mr Gorbachev that space was in the direction of heaven, but not as close to heaven as some other things that they had been discussing."

He told the Soviet leader that his own son, Ron, did not believe in God and "there was one thing he had long yearned to do for his atheist son: he wanted to serve his son the perfect gourmet dinner, to have him enjoy the meal, and then to ask him if he believed there was a cook."

Rudolf Perina, who was then the director of Soviet affairs on the National Security Council, told Mann in a 2005 interview that "Reagan thought he could convert Mr Gorbachev, or make him see the light".

A second note-taker, Thomas Simons, said he viewed Reagan's promotion of religion as a tactic to deflect Mr Gorbachev away from discussion of other substantive issues.

The attempt by a US president to convert a foreign leader was not unprecedented.

According to Mann, nine years earlier, Reagan's predecessor Jimmy Carter had stunned his aides when he asked the South Korean dictator Park Chung-hee about his religious beliefs and then told Park: "I would like you to know about Christ."
 
Tin Giáo Hội Việt Nam
Hội Ngộ Giới Trẻ CGVN tại Sydney
Diệp Hải Dung
17:25 09/03/2009
SYDNEY - Nhân dịp mùa Chay, Liên đoàn Thanh Niên Công Giáo Tổng Giáo Phận Sydney đã tổ chức 3 ngày Hội Ngộ Giới Trẻ với chủ đề “ Tìm Hiểu Chính Mình” tại Trung Tâm Tĩnh Huấn Thánh Giuse Bringelly Sydney, từ thứ Sáu 06/03 đến ngày Chúa Nhật 08/03/2009

Xem hình ảnh

Sau khi các bạn trẻ ghi danh và dùng cơm tối tại nhà ăn Trung Tâm, tất cả mọi người vào hội trường cùng nhau gặp gỡ và Cha Phêrô Dương Thanh Liêm Tuyên úy Đặc trách Liên đoàn Thanh Niên Công Giáo TGP Sydney ngỏ lời chào mừng các bạn trẻ đã hy sinh thời gian quý báu đến tham dự 3 ngày Hội Ngộ và Cha khuyến khích các bạn trẻ nên vui tươi thân thiết với nhau trong tình yêu của Chúa Giêsu KiTô đồng thời Cha cũng tuyên đọc Nội Quy và giới thiệu Cha Tuyên úy Trưởng Nguyễn Khoa Toàn, Cha Nguyễn Văn Tuyết Giám đốc Trung Tâm, Cha Frank Leo đến từ Thủ Đô Canberra và Cha Trần Sy Tín đến từ Việt Nam. Sau đó phần sinh hoạt văn nghệ với những vũ khúc truyền thống của dân tộc Tây Nguyên Việt Nam.

Ngày thứ Bảy 7/03/2009 sau giờ kinh nguyện và điểm tâm các bạn trẻ chia ra từng nhóm và Cha Frank Leo thuyết giảng về Đời Sống Người KiTô Hữu Nhân Đức, và Cha cùng với các bạn trẻ chia sẻ những cảm tưởng. Sau đó là phần sinh hoạt ngoài trời với những môn thể thao lành mạnh và sinh hoạt thi đua học hiểu về những kiến thức như Âm Nhạc, Khoa Học, Địa lý và phong tục Việt Nam v..v.. Sau khi chấm dứt sinh hoạt là giờ tĩnh tâm Tìm Hiểu Chính Mình. Cha Liêm thắp lên ngọn nến Phục Sinh và mọi người cùng nhau thắp lên ánh sáng của Chúa KiTô để nguyện xin ánh sánh của Chúa KiTô soi sáng cho chính mình và đồng thời mừng đón Thánh Thể Chúa Giêsu cùng hiện diện với mọi người trong những lời dâng nguyện của chính mình lên Thiên Chúa tạo bầu khí an hòa và linh thiêng.

Ngày Chúa Nhật 8/03/2009 Cha Trần Sỹ Tín chia sẻ cùng với các bạn trẻ về đề tài Sứ Vụ Rao Giảng Tin Mừng đến Dân Tộc Tây Nguyện ở Việt Nam. Sau đó Đức Giám Mục Terry Brady đến thăm chào mừng các Bạn Trẻ và cùng với quý Cha hiệp dâng Thánh lễ tạ ơn. Trước khi kết thúc Thánh lễ. Cha Dương Thanh Liêm ngỏ lời cám ơn Đức Giám Mục, quý Cha, Sơ đã đến hội ngộ với các Bạn Trẻ tại Trung Tâm và Cha cũng đặc biệt cám ơn quý vị ân nhân Hội Các Bà Mẹ Công Giáo đã giúp phần nấu nướng ẩm thực.

Sau khi kết thúc Thánh lễ, Đức Giám Mục và tất cả mọi người cùng tham dự bữa cơm thân mật và kết thúc 3 ngày Hội Ngộ Giới Trẻ Sydney rất tốt đẹp.
 
Nghi thức sai đi của các giáo lý viên Sydney
Vũ Văn An
23:58 09/03/2009
Nghi thức sai đi của các giáo lý viên Sydney

Từ những ngày đầu mới đặt chân tới Sydney, người Công Giáo Việt Nam đã nghĩ tới việc đào tạo đức tin cho con em mình. Dù nhân sự lúc đó rất qúi hiếm, nhưng các sư huynh La San cũng như các nữ tu Trinh Vương đã hy sinh nhiều công sức để vừa lo phục vụ anh chị em đồng hương của mình về phương diện phụng vụ, vừa lo dạy giáo lý và sinh hoạt với mầm non của Giáo Hội. Có thể nói, chưa co thời điểm nào trong lịch sử định cư của người Việt Công Giáo tại thành phố đầu tiên của Úc này, mà nhu cầu giáo lý cho các em lại bị lãng quên.

Vấn đề tài liệu

Tuy nhiên, sinh hoạt giáo lý trên chỉ đi vào qui củ từ ngày Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam tại Sydney, như danh xưng hiện nay, được chính thức thành lập cuối thập niên 1980. Cộng Đồng này được một ban tuyên úy duy nhất lãnh đạo trên một địa bàn hoạt động rộng lớn. Khởi đầu, địa bàn hoạt động ấy bao trùm lãnh thổ của ít nhất 4 giáo phận Úc: Sydney, Paramatta, Wollongong và New Castle, với 11 giáo đoàn hiện diện tại 4 giáo phận ấy. Nay thì địa bàn hoạt động đã được thu gọn lại trong lãnh thổ của giáo phận Sydney mà thôi với 8 giáo đoàn, nhưng riêng sinh hoạt giáo lý vẫn là 10 giáo đoàn gần như trước.

Hiện nay, hầu như giáo đoàn nào cũng có một trường giáo lý cho các em thiếu nhi và sinh hoạt đều đặn vào những ngày cuối tuần, phần đông là Chúa Nhật, lồng trong chương trình sinh hoạt của Phong Trào Thiếu Nhi Thánh Thể Việt Nam. Tùy theo sĩ số ghi danh, có trường có tới 10 lớp giáo lý khác nhau từ tuổi thơ (1&2), qua ấu nhi (1,2,3), thiếu nhi (1,2,3), tới nghĩa sĩ (1,2). Ấy là chưa kể ba lớp: xưng tội lần đầu, rước lễ lần đầu và thêm sức. Con số các em theo học các lớp này, trên phạm vi toàn Cộng Đồng, hàng năm trên dưới 1,000 em dưới sự hướng dẫn của gần 70 giáo lý viên.

Khỏi cần nói, địa bàn sinh hoạt rộng lớn này hiển nhiên đòi hỏi nhiều hình thức thống nhất về tổ chức và điều hành, mà việc trước nhất là thống nhất tài liệu giảng dạy. Năm 1992, nhân Đại Hội Giáo Lý Kỳ 1, tổ chức trong ba ngày cuối tuần tại Trường St John (nay là Holy Spirit) ở Lakemba, Cha Phaolô Chu Văn Chi, đặc trách Truyền Giáo, đã cùng với một số thầy đại chủng sinh thuộc Đại Chủng Viện Manly soạn ra bộ giáo lý thiếu nhi thống nhất đầu tiên gồm đủ các cấp lớp, theo hệ thống tổ chức của Phong Trào Thiếu Nhi Thánh Thể Việt Nam. Bộ giáo lý này liên tiếp được sử dụng cho tới năm 1995. Năm này, dưới sự lãnh đạo của Cha Mai Văn Thịnh, Dòng Chúa Cứu Thế, một sáng kiến khác được đưa ra: lấy bộ giáo lý “Joy For Living” (Vui Vì Được Sống) của tổ chức Huynh Đoàn Học Thuyết Kitô Giáo (Confraternity of Christian Doctrine) làm tài liệu giảng dạy, sau khi đã chuyển nó sang tiếng Việt. Đây là tài liệu được Huynh Đoàn này soạn ra cho chương trình giáo lý tại các trường của chính phủ. Nó hơn bộ giáo lý đầu tiên ở chỗ có cả phần sinh hoạt để các em thực hành ngay những điều mình vừa nghe hay sẽ nghe giáo lý viên trình bày. Nhờ thế mà giờ sinh hoạt giáo lý sôi động hẳn lên. Tiếc rằng Cha Mai Văn Thịnh chỉ đặc trách Ban Truyền Giáo được ít năm, sau đó, phải đi lãnh nhiệm vụ khác. Cha Vũ Đức Thông tiếp nối công việc của Cha Thịnh và đi xa hơn một chút bằng cách lồng hẳn chương trình Vui Vì Được Sống vào chương trình sinh hoạt của Phong Trào Thiếu Nhi Thánh Thể. Làm thế nào để bài giáo lý trở thành một phần phù hợp với chương trình sau. Chính các giáo lý viên cũng trở thành huynh trưởng của Phong Trào, được gọi là Huynh Trưởng Giáo Lý, trong khi các huynh trưởng đúng nghĩa của Phong Trào được gọi là Huynh Trưởng Sinh Hoạt. Ý niệm này rất hay nhưng gặp trở ngại ở điểm: thật khó mà sắp xếp các bài của Vui Vì Đưọc Sống theo thể tài sinh hoạt của Chương Trình Thăng Tiến. Đây là việc không hẳn là không làm được, nhưng đòi hỏi nhiều công phu và thì giờ, là hai thứ thật khó kiếm trong “thế giới thiện nguyện”, “vác ngà voi hàng tổng”. Nên sau một thời gian ngắn thử nghiệm, sáng kiến kia đành lui bước. Một phần cũng vì phản ứng của phe “bảo thủ”, hay nói đúng hơn, của phe cứ nhất định giáo lý phải có nội dung giáo lý rõ ràng, rành mạch và theo lối diễn dịch: bắt đầu là tiền đề giáo lý, rồi giải nghĩa, quảng diễn rộng ra, lúc ấy mới cần thí dụ, điển hình, chứ cái kiểu qui nạp, nói chuyện bá láp rồi mới để người ta tự suy ra nội dung giáo lý là không được.

Do đó, Cha Vũ Đức Thông nghĩ đến việc thích ứng bộ giáo lý của Tổng Giáo Phận SàiGòn và biến nó thành bộ giáo lý “Chương Trình Giáo Dục Đức Tin” gồm 9 cuốn: 1 cho lớp tuổi thơ, 3 cho các lớp ấu nhi, 3 cho các lớp thiếu nhi và 2 cho các lớp nghĩa sĩ. Dàn dựng mỗi bài trong các cuốn giáo lý này đại khái như sau: sau Lời Chúa là phần bài học bao gồm giải nghĩa, thực tập, học thuộc lòng, kho chữ, băng reo, và phần thực tập bao gồm quyết tâm, cầu nguyện và bài hát (có dấu nhạc đầy đủ). Hình như vì thấy công phu của việc thích ứng này, cha Thông đã vận dụng ngân khoản đâu đó và cho in bộ này và cho lưu hành từ năm 1998. Đây là bộ giáo lý đầu tiên được in ấn đàng hoàng, chứ không chụp sao như cũ. Cha hy vọng nó sẽ “sống lâu”.

Tương đối, nó sống lâu thật. Ít nhất cũng cho tới năm 2005. Đến lúc này, Cha Phaolô Chu Văn Chi đã trở lại đặc trách Ban Truyền Giáo từ lâu. Ngài nghĩ đến việc cập nhật hóa tài liệu giáo lý. Không hẳn là tùy hứng. Chuyện gay cấn trong việc giảng dạy giáo lý là vấn đề ngôn ngữ. Nên dùng ngôn ngữ nào làm chiếc xe chuyên chở nội dung giáo lý tới các em, những người ngày nay hiển nhiên thạo tiếng Anh hơn tiếng Việt, nói cho ngay, không còn coi tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ nữa mà là một ngôn ngữ thứ hai, thậm chí, là ngôn ngữ thứ ba, thứ bốn không chừng. Nhiều em cứ “ngớ mặt ra” khi nghe giáo lý bằng tiếng Việt. Nhưng chủ trương của ban tuyên úy là nhất định dùng tiếng Việt làm công tác chuyên chở trên, để duy trì cách diễn tả đạo theo văn hóa Việt Nam. Nội cái việc ta luôn miệng gọi ông thánh Giuse thay vì Joseph cộc lốc, Chúa Giêsu chứ không Jesus cộc lốc, Đức Mẹ Maria chứ không Mary cộc lốc, Đức Giáo Hoàng chứ không the pope cộc lốc cũng đã là một nét văn hóa dị biệt rồi. Đừng nói tới những biểu thức văn hóa đặc thù khác. Tất nhiên phải làm sao vừa duy trì được tính đặc thù văn hóa của giáo lý vừa giúp các em nắm được nội dung giáo lý của Giáo Hội Công Giáo. Phải làm sao giúp các em quen thuộc cả hai khía cạnh ấy. Phải tìm cho được phương thế nào đó thực hiện được hai mục tiêu trên.

Bộ “To Know, Worship and Love” (Biết, Thờ, Mến) hình như có thể trở thành một phương thế như thế. Đây không hẳn là một bộ giáo lý theo nghĩa cổ điển. Đúng ra, nó là bộ giảng dạy về giáo dục tôn giáo (religious education) tại các trường Công Giáo, một môn học chính thức trong học trình trung học. Nó được một ban chuyên môn hùng hậu gồm nhiều chuyên viên thượng thặng có học vị tiến sĩ hay tước vị giáo sư đại học soạn thảo, sau một diễn trình tham khảo trên dưới 200 thức giả toàn quốc. Thực ra, đó không hẳn là triết lý đứng đàng sau việc sử dụng bộ sách này cho bằng vì nó được giới chức Công Giáo soạn cho các trường Công Giáo để dạy về giáo dục tôn giáo. Nội dung giáo lý, dưới sự lãnh đạo của Đức Ông Elliott, nay là giám mục phó của Melbourne, và vốn là “bạn nối khố” của Đức Hồng Y George Pell, được đảm bảo đã đành mà các trẻ em Công Giáo Việt Nam, mà phần đông học tại các trường Công Giáo, cũng đã quá quen thuộc với nó. Hàng tuần các em được học ít ra cũng hai tiếng đồng hồ về môn này. Tới lớp giáo lý của Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam để nghe lại nội dung đó bằng tiếng Việt, hẳn các em sẽ đỡ “cứ ngớ mặt ra”. Đàng khác, sẵn tài liệu bằng tiếng Anh bên cạnh, các giáo lý viên, mà ngày nay, càng ngày càng có nhiều thanh thiếu niên tham gia hàng ngũ, sẽ có thể bước vào cùng một băng tần với các em nhiều hơn bằng cách sử dụng tiếng Anh để giải thích các từ khó hiểu. Miễn làm sao chuyển ngữ (vehicle language) vẫn là tiếng Việt.

Thế là một ban tu thư được cấp tốc thành lập và làm việc từ cuối năm 2005 để chuyển ngữ gần 2000 trang sách khổ A4, của Bộ “To Know, Worship and Love” (gồm 11 cuốn từ lớp mẫu giáo tới lớp 10), qua tiếng Việt. Khoảng giữa năm 2006, thì công việc trên tạm hòan tất.

Nhưng không thể sử dụng nguyên con bộ sách này, lý do: đây là các bài học dành cho một chương trình lên đến trên 100 giờ mỗi năm, trong khi đó, chương trình giáo lý ở đây chưa quá 20 tiếng đồng hồ một năm. Do đó, giai đoạn hai là căn cứ vào bộ sách này để soạn thành bộ “Chương Trình Giáo Lý Biết Thờ Mến”, sẵn sàng cho các giáo lý viên và các em thiếu nhi Việt Nam sử dụng làm sách giáo khoa. Một mạnh thường quân, chị Maria Mai Vân Cozens cùng chồng là Greg John, và dạ tiệc mừng Ngày Của Mẹ do Liên Đoàn Nữ Vương Hòa Bình của Thiếu Nhi Thánh Thể Sydney tổ chức đã hiến tặng một ngân khoản trên 25,000 Úc kim để in bộ sách kể như là thứ tư này. Và bộ sách đã được đưa vào sử dụng từ niên khóa 2007.

Vấn đề nhân sự

Song song với các cố gắng lớn lao về tài liệu trên đây, là quan tâm về nhân sự, trong đó, các giáo lý viên được kể vào hàng đầu. Kể từ 1992, hầu như năm nào cũng có một đại hội giáo lý nhằm nhiều mục tiêu, trong đó có việc huấn luyện và hâm nóng bầu khí nhiệt tâm của các giáo lý viên. Họ là những người âm thầm không những góp phần gìn giữ đức tin cho các thế hệ tương lai mà còn dựng cây cầu nối thế hệ các em với thế hệ cha anh và với nền văn hóa Công Giáo Việt Nam nói chung. Tiếc rằng, nhiều người vẫn chưa đánh giá đúng vai trò của họ.

Trong các chiến dịch vận động để có thêm các giáo lý viên có khả năng, có nhiệt huyết, càng ngày càng gần hơn với các em về tuổi đời, về tầm suy nghĩ, về ngôn ngữ tác phong, người ta vẫn nhận được những câu nói như: đợi đến tuổi (già) như ông, tôi sẽ tham gia giáo lý. Hình như đối với họ, giáo lý chỉ là việc của mấy ông trùm bà quản ngày xưa, tay lăm le chiếc quạt hay chiếc roi, miệng lải nhải những công thức đức tin đủ vần đủ điệu để ‘học trò’ lặp lại. Thái độ ấy vừa nói lên cái hiểu ngây ngô của một số người về cách sống đạo ngày nay vừa làm nản lòng hàng ngũ giáo lý viên hiện hữu.

Nói về vai trò giáo lý viên, tập Chỉ Dẫn Tổng Quát Về Giáo Lý của Bộ Giáo Sĩ, ban hành năm 1997, cho hay: không một phương pháp nào, dù chứng nghiệm là hay bao nhiêu đi chăng nữa, cũng không thể bỏ qua con người giáo lý viên, bất luận trong giai đoạn nào của diễn trình giáo lý. Đặc sủng mà Chúa Thánh Thần ban cho họ, tức nền linh đạo vững chắc và chứng tá trong sáng của cuộc sống, đã tạo nên linh hồn cho mọi phương pháp. Chỉ có các đức tính nhân bản và Kitô giáo của họ mới đảm bảo cho việc sử dụng đúng đắn các bản văn và dụng cụ giảng dạy khác. Giáo lý viên, trong yếu tính, là một người trung gian. Họ làm dễ sự thông đạt giữa con người và mầu nhiệm Thiên Chúa, giữa các chủ thể với nhau, cũng như với cộng đoàn. Chính vì thế, tầm nhìn văn hóa, điều kiện xã hội và lối sống của họ không được làm trở ngại cho hành trình đức tin. Đúng hơn, chúng phải giúp tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất cho việc tìm kiếm, chào đón và thâm hậu hóa sứ điệp Kitô giáo. Họ không quên điều này: tin là hoa trái của tự do và ơn thánh. Do đó, họ phải làm sao để các hoạt động của họ luôn được niềm tin vào Chúa Thánh Thần và lời cầu nguyện nâng đỡ (số 156).

Trên thực tế, họ cần cả sự khích lệ của cộng đoàn nữa. Những nhận xét trên kia không thuộc loại khích lệ này. Những hình ảnh cũ xưa của ông trùm bà quản cần phải được dứt khoát tẩy trừ khỏi não trạng Công Giáo Việt hiện nay, nếu ta muốn chuẩn bị hành trang tạm đủ cho các thế hệ đến sau. Xin nhấn mạnh ở đây: não trạng trên đang làm hàng ngũ các giáo lý viên hiện nay mỗi ngày một thưa thớt hơn. Khác với các giáo lý viên của các giáo phận Úc hay Mỹ, các giáo lý viên của Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam tại Sydney này không hề nhận được một đồng xu teng của bất cứ ai. Một ngạc nhiên hết sức khi đọc trên các trang mạng giáo lý của Úc hay của Mỹ, thấy các giáo lý viên nhận được một “stipend” nho nhỏ. Stipend là một lối mô tả khác của tiền lương thường dành cho các giáo sĩ. Các giáo lý viên Việt Nam chưa bao giờ nhận được loại “stipend” đó và họ cũng chưa bao giờ chờ mong nó khi dấn thân vào dạy giáo lý. Ngoài ra, họ còn sẵn sàng chịu nhiều phí tổn, ngoài phí tổn săng dầu xe cộ, miễn sao chu toàn được ơn gọi của mình. Thậm chí đến việc đi dự các đại hội huấn luyện giáo lý viên, họ cũng được yêu cầu đóng lệ phí ăn uống, tổ chức. Không một lời ta thán.

Nhưng con người ai cũng cần được khích lệ, được nhìn nhận, được ước muốn. Đó chính là lý do đứng đàng sau vòng giới thiệu các giáo lý viên với các giáo đoàn Công Giáo Việt Nam tại Sydney bắt đầu từ cuối tháng Hai vừa qua trong một nghi thức gọi là Nghi Thức Sai Đi. Bắt đầu với giáo đoàn Bankstown ngày 22/2, giáo đoàn Mt Pritchard và giáo đoàn Lakemba ngày 1/3, giáo đoàn Plumpton, giáo đoàn Cabramatta và giáo đoàn Granville ngày 8/3, và cuối cùng sẽ là hai giáo đoàn Miller và Marrickville vào cuối tuần tới. Nghi thức này hết sức đơn giản. Cha Phaolô Chu Văn Chi chủ toạ tất cả các nghi thức này với sự chứng kiến của sơ trợ úy, đại diện ban Truyền Giáo, ban quản trị Liên Đoàn, ông trưởng ban mục vụ giáo đoàn và toàn thể cộng đoàn giáo dân. Trước khi nghi thức bắt đầu, Cha Phaolô nói đôi lời về vai trò giáo lý viên và người điều hợp họ. Sau đó, người điều hợp thỉnh mời các giáo lý viên và ban quản trị xứ đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể tiến lên phía Bàn Thờ. Cha chủ tế mời cộng đoan cùng đứng lên để tuyên xưng đức tin với các giáo lý viên và ban quản trị xứ đoàn. Sau đó, đến nghi thức tuyên hứa và sai đi, trong đó có “quyết tâm sống điều mình dạy, tin điều mình nói, yêu điều mình chia sẻ, làm điều mình giảng dạy”. Sau lời tuyên hứa ấy là nghi thức trao thẻ nhận diện (ID) cho các giáo lý viên và còi chỉ huy cho các huynh trưởng thiếu nhi. Và nghi thức kết thúc bằng bài hát Lời Nguyện Truyền Giáo và toàn thể các giáo lý viên và huynh trưởng cúi chào cộng đoàn như dấu chỉ ra mắt và xin được khích lệ, cộng tác.

Người viết được hân hạnh tham dự tất cả các nghi thức trên, dù xa xôi và dù xa lạ cách mấy, đến không biết địa điểm của những máy ảnh chụp tốc độ, để mà dè chừng, khiến phải lãnh giấy phạt 81 Úc kim vì chạy xe với tốc độ 71 km/h ở chỗ chỉ cho chạy 60km/h trên Elizabet Drive, vì phải vội chạy từ Mt Pritchard để kịp về dự nghi thức sau đó ở Lakemba. Nhưng không nghi thức nào cảm kích bằng nghi thức tuần rồi ở giáo đoàn Cabramatta. Cũng là nghi thức như tại các giáo đoàn khác. Nhưng hết sức ngạc nhiên khi nghe xướng danh vị giáo lý viên phụ trách lớp nghĩa sĩ và càng ngạc nhiên hơn nữa khi thấy vị giáo lý viên đó xuất hiện đứng cạnh các giáo lý viên khác để cùng tuyên hứa và được sai đi và sau đó trở lại nhà xứ Cabramatta. Vâng, vị giáo lý viên ấy chính là cha phó nhà thờ Thánh Tâm (Sacred Heart), được dùng làm địa điểm cho nghi thức sai đi hôm nay. Cha Dương Thanh Liêm là một linh mục rất trẻ, mới thụ phong linh mục tháng 8 năm 2006, trước đây là cha phó Nhà Thờ Chánh Tòa St Mary kiêm tuyên úy bán thời gian tại Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam Sydney. Mới đây, cha được đề cử làm cha phó của giáo xứ Thánh Tâm này. Đây là một giáo xứ Úc khá lớn, dưới sự chăm sóc của một cha sở cao niên, cho nên trách nhiệm của cha Liêm khá nặng nề. Ấy thế mà cha vẫn dành thì giờ dạy giáo lý cho các thanh thiếu niên Việt Nam, vốn không hẳn là lãnh vực trách nhiệm của cha. Đó là một nét đặc biệt. Nhiều người cho rằng vì cha có ân tình với Thiếu Nhi Thánh Thể Việt Nam tại Sydney, nơi cách nay khoảng 10 năm, cha vốn là một trong các huynh trưởng. Cho là như thế. Nhưng sự kiện ngài tự xếp mình vào hàng ngũ giáo lý viên để cùng tuyên hứa với họ và cùng ra mắt cộng đoàn với họ thì khó mà giải thích ngoại trừ nhận đó là một khích lệ vô cùng qúy giá đối với các anh chị em giáo lý viên Sydney, những người đang rất cần những khích lệ và hợp tác qúy giá như vậy. Nếu giáo lý viên là người trung gian, thì giáo lý viên linh mục hẳn phải là một siêu trung gian làm nở rộ cả một mùa xuân giáo lý cho Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam tại Sydney này.
 
Tài Liệu - Sưu Khảo
Hiệp Thông Nhân Vị và Quản Lý Tạo Vật (10)
Nguyễn Kim Ngân
18:50 09/03/2009

CHƯƠNG BA:Tạo Dựng Giống Hình ảnh Thiên Chúa: Quản Lý các tạo vật hữu hình



III. Trách Nhiệm đối với Việc Bảo Toàn Sinh Học của Con Người

81. Cùng với những tiến triển mới nhất trong lãnh vực sinh hóa và sinh học phân tử, kỹ thuật tân tiến tiếp tục cung cấp cho khoa y học hiện đại các khả năng chẩn đoán và trị liệu tân thời. Các kỹ thuật này không chỉ cống hiến các phương cách chữa bệnh vừa mới mẻ lại vừa hữu hiệu, mà còn đem lại các tiềm năng biến đổi được chính con người. Tính sẵn sàng và tiện lợi của các kỹ thuật này lại nêu lên câu hỏi sau đây một cách khẩn thiết hơn: con người được phép tái tạo chính mình tới mức độ nào? Việc thực thi quyền quản lý có trách nhiệm trong lãnh vực đạo đức sinh học đòi hỏi suy tư luân lý sâu xa về một phạm vi kỹ thuật vốn có thể tạo ảnh hưởng trên việc bảo toàn sinh học của con người. Ở đây, ta chỉ có thể cống hiến một vài chỉ dấu về các thách đố luân lý biệt loại mà nền kỹ thuật mới đặt ra, cũng như một vài nguyên tắc cần áp dụng khi thực hiện quyền quản lý có trách nhiệm về việc bảo toàn sinh học của con người, vốn được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa.

82. Quyền bố trí trọn vẹn thân xác sẽ hàm ý rằng con người có thể sử dụng thân xác như là một phương tiện đạt đến một cùng đích do mình lựa chọn: nghĩa là, con người có thể thay thế các bộ phận, cải biến hay chấm dứt nó. Nói cách khác, con người có thể xác định cứu cánh tính hay giá trị cứu cánh của thân xác mình. Quyền bố trí một cái gì đó thì áp dụng cho những đồ vật có giá trị dụng cụ thuần túy, chứ không áp dụng cho các đồ vật thiện hảo tự thân, nghĩa là có cứu cánh tự nơi mình. Vì được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, con người chính là sự thiện hảo đó. Vấn đề đặt ra, nhất là trong địa hạt đạo đức sinh học, là liệu điều này có thể hay không thể áp dụng cho các cấp độ nơi con người, các cấp độ vốn được phân định rõ, như cấp độ tâm thể lý, cảm xúc và tinh thần.

83. Việc thực hành hằng ngày nơi bệnh xá thường thừa nhận một hình thức bố trí thân xác giới hạn cũng như một vài chức năng tâm thần nhằm để duy trì sự sống, tỉ như trong trường hợp phải cắt bỏ tay chân hay lấy đi một cơ phận nào đó. Các việc này được phép làm do bởi nguyên tắc toàn thể và bảo toàn (còn được goị là nguyên tắc trị liệu). Ý nghĩa của nguyên tắc này là: con người phát triển, chăm lo và bảo trì tất cả mọi chức năng thể lý và tâm thần ngõ hầu (1) các chức năng hạ đẳng không bao giờ bị hy sinh ngoại trừ trường hợp để cho toàn thể con người có thể hoạt động tốt đẹp hơn, và làm như thế với một nỗ lực bù trừ cho cái đã bị hy sinh; và (2) các năng lực căn bản thuộc về con người một cách trọng yếu thì không bao giờ bị hy sinh cả, ngoại trừ khi cần để cứu lấy mạng sống.

84. Các cơ phận và tứ chi vốn cùng nhau tạo thành một thể nhất trí mang tính thể lý, thì hoàn toàn gắn chặt vào, cũng như lệ thuộc thân xác như những thành phần trọng yếu. Tuy vậy, các giá trị hạ đẳng không thể bị hy sinh chỉ vì lợi ích của các giá trị cao đẳng: bởi lẽ các giá trị này cùng nhau cấu thành một nhất thể hữu cơ và lệ thuộc nhau. Do bởi thân xác, xét như một thành phần nội tại của con người, thì tự thân thiện hảo, thế nên các khả năng căn bản của con người chỉ có thể bị hy sinh nhằm để duy trì sự sống mà thôi. Thực vậy, sự sống là một thiện hảo căn bản bao hàm trọn vẹn hữu thể con người. Không có thiện hảo sự sống căn bản này thì các giá trị, tỉ như tự do chẳng hạn, vốn tự chúng có tính cách cao đẳng hơn sự sống, cũng chẳng còn giá trị. Giả như con người, trong thể xác tính của nó, cũng được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, thì nó không có toàn quyền bố trí bản chất sinh vật của mình. Chính Thiên Chúa, cũng như hữu thể được tạo dựng giống hình ảnh Ngài, không thể trở thành đối tượng cho hành đợng độc đóan của con người.

85. Khi ứng dụng nguyên lý toàn thể và bảo toàn, thì cần hội đủ các điều kiện sau đây: 1) phải có vấn đề liên quan đến thân xác vốn bị ảnh hưởng hay là nguyên nhân trực tiếp của một tình huống đe dọa mạng sống; 2) không còn một chọn lựa nào khác nhằm duy trì mạng sống; 3) có một cơ may thành công tương ứng so với các hậu quả có thể xẩy đến; 4) nạn nhân phải đồng ý với sự can thiệp. Các hậu quả và hiệu ứng tiêu cực của việc can thiệp có thể biện minh được bằng nguyên tắc song hiệu.

86. Một số người đã cố gắng giải thích giai tầng giá trị này nhằm cho phép việc hy sinh các khả năng hạ đẳng, tỉ như sinh sản, nhằm mưu ích cho các giá trị cao đẳng, như duy trì sức khỏe tâm thần và thăng tiến mối giao hảo với người khác. Tuy nhiên, ở đây, khả năng sinh sản được hy sinh nhằm duy trì các yếu tố trọng yếu đối với con người như là một toàn thể điều hành, chứ không phải như một toàn thể sống động. Thực ra, con người xét như một toàn thể điều hành thì đã bị vi phạm vì đã mất đi khả năng sinh sản, và đúng vào lúc nỗi đe dọa về sức khỏe tâm thần chưa hề cận kề mà còn có thể xoay chuyển sang chiều hướng khác. Hơn nữa, lối giải thích này về nguyên lý toàn diện thì hỗ trợ cho khả năng hy sinh một phần thân xác nhằm mưu cầu lợi ích xã hội. Cũng trên cùng nền tảng suy tư này, việc triệt sản vì lý do ưu sinh có thể biện minh được trên căn bản lợi ích chung.

87. Sự sống con người là kết quả của tình yêu vợ chồng—một món quà hỗ tương, trọn vẹn, dứt khóat, và độc chiếm mà người nam và người nữ cùng hiến tặng cho nhau—điều này phản ảnh món quà tình yêu giữa Ba Ngôi Thiên Chúa trao tặng cho nhau, từ đó đơm hoa kết trái trong cuộc tạo dựng, và món quà mà Chúa Kitô hiến tặng cho Hội Thánh Ngài trở thành hoa trái trong việc tái sinh con người. Sự kiện món quà trọn vẹn của con người liên quan đến cả tinh thần lẫn thể xác chính là nền móng của tính bất khả tách rời giữa hai ý nghĩa trong hành vi vợ chồng, đó là (1) sự diễn đạt chân chính của tình yêu vợ chồng trên phương diện sinh lý, và (2) sự thành toàn qua việc sinh sản trong thời kỳ thai nghén của người nữ (Humanae vitae, 12; Familiaris consortio, 32).

88. Món quà người nam và nữ trao tặng nhau trên phương diện thân mật tính dục trở thành bất toàn khi có việc ngừa thai hoặc triệt sản. Hơn nữa, nếu sử dụng một thứ kỹ thuật không nhằm giúp cho hành vi vợ chồng đạt đến mục tiêu, trái lại còn thay thế nó, để rồi đi đến kết quả là đậu thai nhờ sự can thiệp của một đệ tam nhân, thì đứa con sinh ra không xuất phát từ hành vi vợ chồng vốn diễn đạt món quà cha mẹ trao tặng cho nhau.

89. Trong trường hợp ‘nhân bản’—việc sinh ra những cá thể giống hệt nhau về mặt di truyền qua phương pháp cấy phôi hoặc hạch tử--thì đứa con sinh ra sẽ thành phi giới tính và không thể coi là kết quả của món quà tình yêu được. Do đó, ‘nhân bản’—trong trường hợp sinh ra nhiều người từ cùng một người—sẽ gây ra việc vi phạm căn tính con người. Cộng đồng nhân loại—như ta thấy, cũng được coi như hình ảnh Chúa Ba Ngôi—trong tính khác biệt của nó, đã biểu lộ một điều gì đó trong mối tương giao Ba Ngôi với một duy nhất tính đã đánh dấu cho những khác biệt, qua cùng một bản thể.

90. Có thể chấp nhận được việc kiến tạo dòng di truyền thai chủng vì mục đích trị bệnh nơi con người, miễn là không vì sự kiện khó mà tưởng tượng làm sao nó có thể hoàn thành được (a) nếu không có những nguy cơ bất tương xứng, nhất là trong bước thí nghiệm đầu tiên, tỉ như sự tổn thất hàng loạt các phôi thai cũng như việc xẩy ra các rủi ro, và (b) nếu không dùng đến các kỹ thuật sinh sản. Một chọn lựa khác có thể là: sử dụng việc trị liệu di truyền trong các tế bào gốc sản xuất ra tinh trùng người nam, nhờ đó có thể sinh ra dòng dõi khỏe mạnh bằng chính hạt giống của mình qua hành vi vợ chồng.

91. Việc kiến tạo tăng tiến di truyền là nhắm mục đích phát huy một số nét đặc trưng biệt loại. Có thể dùng ý tưởng về con người như là “đồng tạo hóa” với Thiên Chúa nhằm biện minh cho việc điều hành tiến hóa con người qua phương thức kiến tạo di truyền này. Tuy nhiên, như thế là hàm ý con người đã có toàn quyền bố trí bản chất sinh học của mình. Làm thay đổi căn tính di truyền của con người xét như là nhân vị qua việc sản xuất ra một hữu thể con người hạ đẳng là một hành vi triệt để vô luân. Việc thay hình đổi dạng di truyền hầu sản xuất ra một siêu nhân hay một hữu thể có những khả năng tinh thần hoàn toàn mới là một điều không thể quan niệm được, lý do là nguyên lý sự sống tinh thần của con người—tức chất thể được mô thức hóa vào trong thân xác con người—không phải là sản phẩm từ bàn tay con người làm ra, và không hề lệ thuộc vào khoa kiến tạo di truyền. Tính duy nhất của mỗi một nhân vị, một phần được cấu tạo bằng những đặc trưng tính thuộc di truyền sinh học và được phát triển qua nuôi dưỡng và tăng triển, thì thuộc về con người một cách tự nội, chứ không thể được coi như dụng cụ nhằm thăng hoa một vài tính đặc trưng ấy. Một người chỉ có thể thực sự thăng hóa khi thể hiện trọn vẹn hơn hình ảnh Thiên Chúa nơi mình bằng cách kết hợp với Chúa Kitô và noi gương Ngài. Những việc thay đổi vừa nói đều vi phạm tự do của những con người trong tương lai vốn không hề có phần quyết định nào trong việc định đoạt cơ cấu và đặc trưng của thân xác mình một cách có ý nghĩa và một cách không thể đảo ngược được. Việc trị liệu di truyền, trực tiếp nhắm vào việc làm vơi nhẹ những điều kiện bẩm sinh như hội chứng Down, chắc hẳn sẽ ảnh hưởng đến căn tính của người trong cuộc, xét về hình dáng bên ngoài cũng như các khả năng tâm thần, nhưng việc thay đổi này cũng sẽ giúp người ấy hoàn toàn bộc lộ được thực chất của mình, điều đã bị di truyền khiếm khuyết ngăn chận lại.

92. Việc can thiệp mang tính trị liệu giúp phục hồi các chức năng thể lý, tâm lý và tinh thần, đặt con người vào trung tâm và hoàn toàn tôn trọng cứu cánh tính của các cấp độ khác nhau nơi con người. Vì sở hữu tính chất trị liệu, nền y học nào phục vụ con người và thân xác con người như là những mục tiêu tự chính nó, thì tôn trọng hình ảnh Thiên Chúa trong cả hai. Theo nguyên tắc tương ứng, các phương pháp trị liệu nhằm kéo dài đời sống một cách ngoại thường đều phải được sử dụng khi có một sự tương ứng giữa các kết quả tích cực nhắm tới và sự thiệt hại có thể xẩy ra cho chính bệnh nhân. Thiếu sự tương ứng này, có thể phải loại bỏ việc trị liệu, cho dù như thế sẽ làm cho mau chết hơn. Việc làm cho mau chết trong phương pháp trị liệu giảm đau bằng cách gây mê chính là một hậu quả gián tiếp, giống như các phản ứng phụ trong y học, có thể được đặt trong nguyên tắc song hiệu, miễn là liều lượng được sử dụng là nhằm vào việc làm thuyên giảm các triệu chứng đau đớn, chứ không nhằm dứt khoát kết thúc sự sống.

93. Việc bố trí cái chết thực sự là cách bố trí đời sống triệt để nhất. Trong việc trợ tử, an tử trực tiếp, và trực tiếp phá thai—cho dù tình huống cá nhân có bi đát và phức tạp thế nào chăng nữa—sự sống thể lý được hy sinh vì một cứu cánh tự chọn. Nằm trong cùng trường hợp này là việc biến phôi thai trở thành dụng cụ bằng thí nghiệm phi-trị-liệu trên các phôi thai, cũng như bằng các cách chẩn bệnh trước khi cấy ghép.

94. Thực trạng hữu thể học của con người chúng ta trong tư cách là thụ tạo được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa đặt ra một số giới hạn cho khả năng bố trí bản thân. Quyền thống trị ta đang thụ hưởng thì không phải là vô hạn: ta thực hiện quyền thống trị này trên thế giới tạo vật theo nghĩa thông phần, để rồi rốt cuộc, ta phải tính sổ quản lý với Đấng làm Chúa Tể Vũ Trụ. Con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, nhưng con người không phải là Thiên Chúa.

KẾT LUẬN

95. Qua các suy tư này, chủ đề ‘imago Dei’ đã cho thấy một sức mạnh có tính hệ thống trong việc soi sáng nhiều chân lý của niềm tin Kitô giáo. Nó giúp ta trình bầy một quan niệm về con người, một quan niệm mang tính tương giao và ngã vị. Chính mối tương giao với Thiên Chúa đã xác định căn tính con người và đặt nền cho mối tương giao với các tạo vật khác. Tuy vậy, như đã thấy, mầu nhiệm con người chỉ hoàn toàn được mạc khải trong ánh sáng của Chúa Kitô, Ngài là hình ảnh tuyệt hảo của Chúa Cha, và qua Chúa Thánh Thần, Ngài đưa ta vào thông phần mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Chính trong sự hiệp thông tình yêu này mà mầu nhiệm của mọi hữu thể--được Thiên Chúa cưu mang—mới tìm được ý nghĩa trọn vẹn nhất. Vừa cao sang, lại vừa khiêm hạ, quan niệm về con người như là hình ảnh Thiên Chúa đã tạo thành một bản hiến chương của các mối tương giao giữa con người với thế giới tạo vật, và một nền tảng để căn cứ vào đó mà thẩm định tính cách chính đáng của các tiến bộ khoa học kỹ thuật, vốn có ảnh hưởng trực tiếp trên đời sống con người và môi sinh. Trong các lãnh vực này, vì là các nhân vị được mời gọi làm chứng cho việc thông phần vào quyền sáng tạo của Thiên Chúa, con người cũng cần phải thừa nhận vị trí của mình như là các tạo vật đã được Thiên Chúa trao phó cho trách nhiệm quý báu là quản lý vũ trụ vật chất này.

(hết)
 
Thông Báo
Họp mặt di dân Phát Diệm - Thanh Hóa tại Saigòn vào đấu tháng 5
+ Giuse Nguyễn chí Linh
17:16 09/03/2009
THÔNG BÁO VỀ NGÀY HỌP MẶT DI DÂN PHÁT DIỆM – THANH HOÁ
NGÀY 01-05-2009 TẠI SAIGON


Thanh hoá ngày 01-03-2009

Kính thưa quý cha quản xứ, quý bà con đồng hương, di dân thuộc hai giáo phận Phát Diệm và Thanh hoá.

Nhằm thể hiện mối quan tâm của Giáo Hội đối với con cái tha hương, giáo phận Phát Diệm và Thanh hoá từ năm ngoái (2008) đã quyết định chọn ngày 01-05 làm ngày họp mặt di dân tại miền Nam.
Theo tinh thần đó, năm nay (2009) cuộc họp mặt di dân sẽ được tổ chức như sau:

A. THỜI ĐIỂM:
Từ 06g00 đến 15g30 ngày 01-05-2009

B. ĐỊA ĐIỂM:
Nhà thờ Phát Diệm Phú Nhuận,
485 Nguyễn Kiệm, P.9 Q.Phú Nhuận, TP.HCM
Cha xứ Bùi bằng Khấn. ĐT: 08.3845.3445; E-mail: khanbuibang@yahoo.com.vn

C. CHỦ ĐỀ: “GIÁO DỤC GIA ĐÌNH THEO GIÁO HUẤN THÁNH PHAOLÔ”

D. ĐỐI TƯỢNG: Di dân hai giáo phận Phát Diệm và Thanh hoá hiện đang sinh sống tại miền Nam.

E. CHƯƠNG TRÌNH: 06g00: đăng ký tham dự, xưng tội.
08g00: khai mạc. Thuyết trình và chứng từ về “bảo vệ sự sống”.
12g00: cơm trưa. Sinh hoạt theo giáo phận.
14g30: Thánh lễ. Nghi thức chia tay.

F. ĐỊA CHỈ LIÊN LẠC

1. Miền BẮC:
Phát Diệm: Cha Nguyễn Tất Ứng, chủ tịch UB Di dân PD.
Đt: 030.321.5711 - 094.202.1777; E-mail: nguyentatung@yahoo.com
Thanh hoá: Thầy Nghiêm văn Sơn, văn phòng TGM Thanh hoá,
Đt: 0912127705; E-mail: nghison01@yahoo.com

2. Miền NAM
Phát Diệm: Cha Phạm bá Lãm, đại diện Phát Diệm miền Nam.
Đt: 08.3865.0820 - 090.250.9090 - E-mail: phambalam@gmail.com
Thanh hoá: Cha Nguyễn quang Huy, đại diện Thanh hoá miền Nam.
Trụ sở Thanh hoá, 386/18-22 Lê văn Sỹ, quận 3, Saigon.
Đt: 08.3931.8128 - E-mail: j_quanghuy@yahoo.com

Vì lợi ích thiêng liêng của con chiên, xin các cha vui lòng phổ biến rộng rãi thông cáo này cho bà con di dân miền Nam và cho gia đình có thân nhân di dân tại miền Bắc.
Xin cám ơn và cầu chúc một mùa Phục Sinh chan hoà niềm vui.

Thân ái trong Chúa Kitô
Giám mục Thanh hoá
Giám quản Phát Diệm
 
Văn Hóa
Xuất Hành
Phanxicô Xaviê
17:28 09/03/2009
Chiều nhẹ buông ánh tà dương,
Cho đêm lặng xuống bên đường nhân gian
Còn trong giấc ngủ miên man,
Chợt nghe đâu tiếng cú hoang gọi hồn.
Vượt qua biển đỏ hoàng hôn,
Người ra đi lúc buông xuôi phận người.
Xuất hành một chuyến chơi vơi
Tìm về nơi ấy cuối trời bình yên.
Thoát xa một kiếp truân chuyên,
Hừng đông rực sáng một miền tương lai.
Ngày mai rồi lại ngày mai,
Bao giờ tôi đến Xi-nai bên Người ?
Trở thành dân của riêng thôi,
Trọn bề nhân nghĩa ngàn đời tơ vương.
Chúa Trời vẫn trọn tình thương
Cho tôi sống lại thiên đường cao sang.
 
Ảnh Nghệ Thuật
Trang Ảnh Nghệ Thuật và Chiêm/Niệm/Thiền: Chiều Trên Nóc Giáo Đường
Nguyễn Đức Cung
05:30 09/03/2009

CHIỀU TRÊN NÓC GIÁO ĐƯỜNG



Ảnh của Nguyễn Đức Cung

Chuông chiều ngân đâu đây

Vọng tiếng cầu kinh vơi đầy

Ru hồn ai bơ vơ

Thầm nhắc cho ai hững hờ.

Nơi miền xa xăm đó

Mẹ đứng trông mong chờ…

(Trích Thánh Ca Chuông Chiều)

Click here to go to PhotoArt Meditation Room - Phòng Ảnh Nghệ Thuật và Chiêm/Niệm/Thiền