Ngày 16-10-2021
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Thánh Lễ Chúa Nhật 29 Mùa Quanh Năm 17/10/2021 dành cho những người không thể đến nhà thờ
Giáo Hội Năm Châu
00:20 16/10/2021

BÀI ĐỌC I: Is 53, 10-11

“Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội, người sẽ thấy một dòng dõi trường tồn”.

Bài trích sách Tiên tri Isaia.

Chúa đã muốn hành hạ người trong đau khổ. Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội, người sẽ thấy một dòng dõi trường tồn, và nhờ người, ý định của Chúa sẽ thành tựu. Nhờ nỗi khổ tâm của người, người sẽ thấy và sẽ được thoả mãn. Nhờ sự thông biết, tôi tớ công chính của Ta sẽ công chính hoá nhiều người, sẽ gánh lấy những tội ác của họ.

Ðó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 32, 4-5. 18-19. 20 và 22

Ðáp: Lạy Chúa, xin đổ lòng từ bi xuống trên chúng con, theo như chúng con tin cậy ở nơi Ngài (c. 22).

1) Vì lời Chúa là lời chân chính, bao việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu chuộng điều công minh chính trực, địa cầu đầy ân sủng của Chúa.

2) Kìa Chúa để mắt coi những kẻ kính sợ Ngài, nhìn xem những ai cậy trông ân sủng của Ngài, để cứu gỡ họ khỏi tay thần chết, và nuôi dưỡng họ trong cảnh cơ hàn.

3) Linh hồn chúng con mong đợi Chúa, chính Ngài là Ðấng phù trợ và che chở chúng con. Lạy Chúa, xin đổ lòng từ bi xuống trên chúng con, theo như chúng con tin cậy ở nơi Ngài.

BÀI ĐỌC II: Dt 4, 14-16

“Chúng ta hãy cậy trông vững vàng mà tiến đến trước toà ân sủng”.

Bài trích thư gửi tín hữu Do-thái.

Anh em thân mến, chúng ta có một Thượng tế cao cả đã đi qua các tầng trời, là Ðức Giêsu, Con Thiên Chúa, nên chúng ta hãy giữ vững việc tuyên xưng đức tin của chúng ta. Vì chưng, không phải chúng ta có vị Thượng tế không thể cảm thông sự yếu đuối của chúng ta, trái lại, Người đã từng chịu thử thách bằng mọi cách như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi. Vậy chúng ta hãy cậy trông vững vàng mà tiến đến trước toà ân sủng, ngõ hầu lãnh nhận lòng từ bi và tìm kiếm ân sủng để gặp được ơn phù trợ kịp thời.

Ðó là lời Chúa.

ALLELUIA: 1 Sm 3, 9

All. All. – Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe; Chúa có lời ban sự sống đời đời. – All.

PHÚC ÂM: Mc 10, 35-45

“Con Người đến để ban mạng sống Mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, Giacôbê và Gioan con ông Giêbêđê đến gần Chúa Giêsu và thưa Người rằng: “Lạy Thầy, chúng con muốn Thầy ban cho chúng con điều chúng con sắp xin Thầy”. Người hỏi: “Các con muốn Thầy làm gì cho các con?” Các ông thưa: “Xin cho chúng con một người ngồi bên hữu, một người ngồi bên tả Thầy trong vinh quang của Thầy”. Chúa Giêsu bảo: “Các con không biết các con xin gì. Các con có thể uống chén Thầy sắp uống và chịu cùng một phép rửa Thầy sắp chịu không?” Các ông đáp: “Thưa được”. Chúa Giêsu bảo: “Chén Thầy uống, các con cũng sẽ uống, và phép rửa Thầy sắp chịu, các con cũng sẽ chịu. Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì không thuộc quyền Thầy ban, nhưng là dành cho những ai đã được chỉ định”. Mười môn đệ kia nghe chuyện đó liền bực tức với Giacôbê và Gioan. Chúa Giêsu gọi các ông lại gần mà bảo: “Các con biết rằng những người được coi là lãnh tụ các nước, thì sai khiến dân chúng như ông chủ, và những người làm lớn thì lấy uy quyền mà trị dân. Còn các con không như thế. Trái lại, ai trong các con muốn làm lớn, thì hãy tự làm đầy tớ anh em. Và ai muốn thành người cầm đầu trong các con, thì hãy tự làm nô lệ cho mọi người. Vì chính Con Người cũng không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người”.

Ðó là lời Chúa.
 
Không để cất giữ, nhưng để tuyên xưng
Lm. Minh Anh
02:49 16/10/2021

KHÔNG ĐỂ CẤT GIỮ, NHƯNG ĐỂ TUYÊN XƯNG
“Ai xưng nhận Thầy trước mặt người đời, Con Người cũng sẽ xưng nhận nó trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa!”.

Trong một tác phẩm của mình, G. Sweeting viết về một tù nhân. Năm 1949, Currier bị kết tội giết người với án chung thân. Sau đó, được giảm án, anh lao động tại một trang trại. Năm 1968, bản án kết thúc, một bức thư mang tin tốt lành được gửi cho anh; nhưng Currier không bao giờ thấy nó, cũng như không biết gì về nó. 10 năm trôi qua, một sĩ quan tìm gặp anh, nói với anh, bản án của anh đã chấm dứt, anh được tự do! Tác giả kết thúc bằng cách hỏi, “Liệu bạn có lấy làm quan trọng nếu ai đó gửi cho bạn một lá thư quan trọng và năm này qua năm khác, sứ điệp không bao giờ được chuyển? Chúng ta đã hưởng nhận đức tin, trải nghiệm sự tự do của con cái Chúa, có trách nhiệm tuyên xưng và rao truyền niềm tin đó cho những người vẫn bị nô lệ bởi tội lỗi. Chúng ta có làm tất cả những gì có thể để bảo đảm rằng, mọi người nhận được thông điệp không?”.

Kính thưa Anh Chị em,

Câu hỏi của G. Sweeting đặt cho chúng ta thật phù hợp với bối cảnh của phụng vụ Lời Chúa hôm nay. Đó là đức tin, trung tâm và là trái tim của sự sống làm con cái Thiên Chúa; một điều gì đó vừa riêng tư, vừa công khai; vừa cá nhân, vừa cộng đồng; và nhất là ‘không để cất giữ, nhưng để tuyên xưng’. Chúa Giêsu nói, “Ai xưng nhận Thầy trước mặt người đời, Con Người cũng sẽ xưng nhận nó trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa!”.

Trong thư Rôma hôm nay, Phaolô nói đến đức tin của Abraham, một đức tin thời Cựu Ước. Chúa gọi Abraham; niềm tin của Abraham vào Chúa mang tính cá nhân, riêng tư; nhưng Ngài còn nói với ông, “Ta đã đặt ngươi làm cha nhiều dân tộc!”. Đức tin Abraham, bấy giờ, trở nên cộng đồng. Ai tin vào Thiên Chúa là con cháu Abraham. Là con cháu Abraham, chúng ta lãnh nhận đức tin như một ân ban, đức tin đó định hình chúng ta là ai; cốt lõi của nó là mối quan hệ cá nhân của chúng ta với Thiên Chúa. Trải qua năm tháng, chúng ta cố gắng sống mối quan hệ đó một cách trọn vẹn; quan hệ này lại định hình mọi mối quan hệ khác, tất cả những gì chúng ta nói, mọi việc chúng ta làm. Abraham đã tin vào giao ước của Chúa, một giao ước không chỉ cho ông, nhưng còn cho cả chúng ta. Thánh Vịnh đáp ca xác tín, “Giao ước đã lập ra, muôn đời Chúa nhớ mãi!”.

Với Chúa Giêsu, một ‘Abraham mới’, đức tin thời Tân Ước, đòi hỏi ở một cấp độ vượt trội; cấp độ tuyên xưng! Với Ngài, giờ đây đức tin ‘không để cất giữ, nhưng để tuyên xưng’, “Ai xưng nhận Thầy trước mặt người đời, Con Người cũng sẽ xưng nhận nó trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa!”. Ở nơi khác, Ngài còn hứa đưa chúng ta đến dự tiệc vĩnh cửu trong nhà Chúa Cha; và một trong những lời hứa quan trọng nhất của Chúa Giêsu là ban cho chúng ta quà tặng đức tin: chính Chúa Thánh Thần, Đấng sẽ dạy chúng ta điều phải nói, việc phải làm, ngay cả khi chúng ta phải công khai tuyên xưng niềm tin của mình trước mặt người đời, vua chúa và quan quyền. Rõ ràng đức tin lúc bấy giờ, ‘không để cất giữ, nhưng để tuyên xưng!’.

Anh Chị em,

“Ai xưng nhận Thầy trước mặt người đời, Con Người cũng sẽ xưng nhận nó trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa!”. Thế mà, chưa bao giờ việc “Xưng nhận Thầy” lại khó khăn như thời buổi hiện tại. Không phải vì lý do cấm cách; thú vị thay, vì tự do! Phải, cuộc sống thời nay quá tự do, phóng túng; và dường như đang có một áp lực xã hội nhất định nào đó kìm hãm việc tuyên xưng niềm tin của chúng ta, cũng như việc chúng ta không chuyển trao thông điệp quan trọng đã lãnh nhận. Tại sao? Phải chăng vì tâm hồn, trái tim và đầu óc của chúng ta dành chỗ cho Thiên Chúa quá ít! Thay vì Thiên Chúa, chúng ta chất vào đó bao nhiêu thứ không phải là Ngài. Chúa Kitô chưa đầy tràn trong chúng ta; vì thế, chúng ta chưa trào tràn Ngài, chưa tuyên xưng Ngài cũng như chưa nôn nả thông chuyển Ngài cho anh chị em mình. Một khi, Chúa Kitô đến sống tràn đầy trong chúng ta, chúng ta không thể làm chứng cho Ngài, thông chuyển Ngài bằng đời sống mình.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cảm tạ Chúa đã ban cho con hồng ân đức tin; rõ ràng, hồng ân đó ‘không để cất giữ, nhưng để tuyên xưng’. Muốn được vậy, xin cho tâm hồn con đầy Chúa, ngập Chúa!”, Amen.

(Tgp. Huế)
 
Tên Gọi Khác Của Đấng Cứu Thế
Lm. Giuse Trương Đình Hiền
08:53 16/10/2021
Tên Gọi Khác Của Đấng Cứu Thế

(Chúa Nhật 29 TN B 2021)

Cuộc tập họp muôn nơi và muôn thuở của Hội Thánh, nhất là cuộc tập họp vào Ngày Chúa Nhật, đều có chung một mục đích cốt yếu: Chiêm ngưỡng Chúa Kitô và lắng nghe Lời Ngài.

Chúa Nhật 29 thường niên hôm nay, chúng ta lắng nghe và chiêm ngưỡng dung mạo của Chúa Kitô được Lời Chúa khắc họa trong “dáng đứng của một “Đấng Cứu Thế”, một “Tư Tế” đi qua đau khổ và thử thách, một “Con Người phục vụ và hiến dâng mạng sống”.

Trước hết, ngôn sứ Isaia đã “vẽ chân dung của Đấng Cứu Thế mà dân Israel đang mong đợi trong vóc dáng của một “người tôi tớ đau khổ”; nhưng đó lại là Người “sẽ công chính hoá nhiều người, sẽ gánh lấy những tội ác của họ…” (BĐ 1). Thứ đến, như một “hiện thực hoá lời mạc khải của Isaia thời Cựu Ước, thư Do Thái đã mô tả chính Đức Kitô, Đấng Cứu Thế, như một Vị Thượng Tế đến từ trời và chấp nhận mọi hệ luỵ của kiếp phận loài người ngoại trừ tội lỗi: “không phải chúng ta có vị Thượng tế không thể cảm thông sự yếu đuối của chúng ta, trái lại, Người đã từng chịu thử thách bằng mọi cách như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi...” (BĐ 2).

Trong khi đó, Tin Mừng Máccô, qua câu chuyện không đẹp “ghen ăn tức ở” giữa các môn đệ sau sự cố hai anh em nhà Giêbêđê “xin xỏ chức quyền”: “Xin cho chúng con một người ngồi bên hữu, một người ngồi bên tả Thầy trong vinh quang của Thầy”, Chúa Giêsu đã mượn hình tượng “Đấng Mêsia” được tiên báo nơi các ngôn sứ, để tổng hợp về “nhân thân và sứ mệnh” của mình bằng câu phát biểu để đời: “Con Người không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người”.

Thật vậy, lời phát biểu trên của Chúa Giêsu được Maccô đặt trong một trình thuật dài liên quan đến một trong những câu chuyện xảy ra trên con đường “tiến về Giêrusalem cuối cùng”: câu chuyện xuất phát từ việc “xin xỏ chức quyền của anh em nhà Giêbêđê” đến vấn nạn “phép rửa và chén đắng”, rồi thái độ bức xúc của các tông đồ” và bài học “kẻ làm đầu”, để cuối cùng dẫn đến lời phát biểu cũng là “câu châm ngôn” cho muôn thế hệ Kitô hữu “Con Người…”.

Quả thật, qua trình thuật trên, chắc chắn, Thánh sử Máccô muốn chuyển tải đến cho cộng đoạn Kitô hữu đầu tiên bài giáo lý “Kerygma” quan trọng: đâu là chân dung đích thực của Đức Kitô cần phải tin nhận và đâu là con đường dành cho những kẻ tin nhận Ngài phải chọn lựa để tiến bước, như cách chú giải của Jacques Hervieux: “Nhằm tạo hoà điệu thân ái trong cộng đồng Giáo Hội sơ khai, Maccô đã rút tỉa từ Thánh Kinh hình ảnh “Người Tôi Tớ đau khổ” để cắt nghĩa cho các Kitô hữu đôi chút về mầu nhiệm Chúa Kitô, Đấng đã dâng hiến mạng sống mình, tự hạ đến chết đẫm máu trên thập giá để cứu rỗi nhân loại. Bắt nguồn từ hy sinh của Chúa Giêsu, cộng đoàn Kitô hữu phải luôn luôn kiểm chứng xem cách hành xử của mình có phù hợp với cách hành xử của Đấng sáng lập không: nghĩa là mình có phục vụ và dâng hiến toàn vẹn bản thân mình không?...”.

Như vậy, từ những gì đã được mặc khải nơi các ngôn sứ (Người Tôi Tớ đau khổ), đã được nghiền ngẫm và rao giảng bởi các Tông đồ (Con Người đến phục vụ và hiến dâng mạng sống), được tuyên xưng bởi các thế hệ Kitô hữu tiếp nối trong dòng lịch sử (Vị Thượng Tế từ trời chấp nhận phận người chịu thủ thách), quả thật, Đức Kitô hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn là một: một Đấng “Thiên Chúa nhập thể làm người”, chịu thương chịu khó, tự hiến vì yêu thương và phục vụ anh em trong khiêm hạ.

Ý nghĩa nầy chính là chìa khóa lý giải cho sự thuyết phục tuyệt vời của chân lý Kitô giáo, một chân lý được hiện thực nơi chính con người và sứ điệp của Chúa Kitô, một Vị Thiên Chúa đến từ trời, nhưng lại đi qua chính nẻo đường bấp bênh của kiếp phận con người, mà tất cả mọi chúng sinh đều có thể cảm nhận sự đồng điệu và hổ tương, cần thiết và được thăng tiến, như lời xác tín của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong tông huấn Giáo Hội tại Á Châu (Ecclesia in Asia): “Khi chiêm ngắm Đức Giêsu trong bản tính nhân loại của Người, dân chúng tại Á Châu gặp được câu trả lời cho tất cả những câu hỏi sâu sắc nhất của họ, hy vọng của họ được hoàn thành, nhân phẩm của họ được nâng cao và sự ngã lòng của họ được vượt thắng. Đức Giêsu là Tin Mừng đối với các người nam nữ của mọi thời đại và mọi nơi chốn, trong cuộc tìm kiếm ý nghĩa của sự hiện hữu và sự thật về bản tính nhân loại của mình”.

Và một khi đã chiêm ngưỡng và lãnh hội được sự mặc khải đích thực về Chúa Giêsu như thế, mỗi người Kitô hữu chúng ta cần thiết phải hoán cải để trở nên giống Ngài hơn, và trở thành “lời chứng thuyết phục” bằng cuộc sống yêu thương, phục vụ, bằng sự can đảm đón nhận hy sinh thập giá như các chứng nhân tử đạo Á Châu-Việt Nam mà Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã long trọng nhắc tới trong tông huấn Giáo Hội tại Á Châu: “Đó là bài ca của những vị đã chết vì Đức Kitô trên phần đất Á Châu trong các thế kỷ đầu của Giáo Hội, và đó cũng là tiếng kêu đầy vui mừng của những người nam và nữ của các thời gần đây, như thánh Phaolô Miki và các bạn tử đạo, thánh Lôrensô Ruiz và các bạn tử đạo, thánh Anrê Dũng Lạc và các bạn tử đạo, thánh Anrê Kim Taegon và các bạn tử đạo. Xin đoàn đông đảo Các Thánh Tử Đạo Á Châu xưa cũng như nay, không ngừng dạy dỗ Giáo Hội tại Á Châu biết thế nào là làm chứng cho Chiên Con mà các ngài đã giặt trắng áo trong máu của Người (x. Kh 7,14). Ước chi các ngài luôn là những chứng nhân bất khuất cho chân lý này, là các Kitô hữu được kêu gọi, luôn luôn và mọi nơi, loan báo không điều gì khác ngoài quyền lực của Thánh Giá Chúa! Và xin cho máu Các Thánh Tử Đạo Á Châu, bây giờ cũng như mãi mãi, là hạt giống sinh sự sống mới cho Giáo Hội tại mọi hang cùng ngõ hẻm của lục địa!”.

Trong ngày dân Chúa Việt Nam cầu nguyện cho cơn Đại dịch Covid-19, chúng ta cùng xác tín và đặt niềm trông cậy hướng lòng lên Đấng đã mang lấy mọi thương tích của nhân loại; cũng là Đấng sẽ ủi an, xoa dịu và chữa lành. Cùng với tâm tình và thái độ cầu nguyện đầy xác tín như thế, phải đi đôi với một cuộc hoán cải đời sống trở thành chứng nhân của yêu thương và phục vụ. Bởi vì, thế giới chỉ được chữa lành, Tin mừng chỉ được thuyết phục, và Chúa Giêsu chỉ được yêu mến bởi những chứng nhân như thế, những nhà truyền giáo như thế; vâng, bởi một Hội Thánh như thế, một Hội Thánh phản ảnh dung mạo yêu thương và phục vụ của Đấng mang tên Cứu Thế, hay một danh xưng cụ thể khác bằng hành động: “Con Người cũng không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người”. Amen.

Trương Đình Hiền
 
Về Quê
Lm. Guse Nguyễn Văn Nghĩa
09:32 16/10/2021
Về Quê

(Thứ Ba sau Chúa Nhật XXIX TN – Lc 12,35-38)

Tôi đã khóc khi xem clip bản nhạc “Về quê con ơi” của nhạc sĩ Quốc Vũ và cũng là người trình bày dựa trên ý bài thơ “Cố lên con” của nhà giáo Nguyễn Khắc Ân. Qua giọng ca không chuyên của một trung niên toát lên nhiều nét rất thật của kiếp người. “Cố lên con, sắp tới quê rồi….chỉ hơn ngàn cây số nữa thôi. Về quê ta tắm sữa mẹ hiền”. Chuyện thật tưởng chừng như bịa trên quê nhà Việt Nam mới đây thôi: Trong một xóm trọ thành phố Sài Gòn, một đêm nọ các “cư dân tỉnh xa”, hầu hết chung kiếp bán sức lao công để nuôi sống mình và người thân quê nhà, đều tất bật dọn dẹp hành lý như cho một kỳ di tản hay lần chuyển nhà trọ.

Cái sự lạ là hầu hết chứ không phải một vài người, một vài gia đình. Lý do là đây: bốn tháng bị “cách ly” vì tình hình dịch bệnh. Khốn khổ tư bề không chỉ vì thất nghiệp, mất thu nhập mà còn vì quá căng thẳng và hoang mang trước nhiều kiểu cách chống dịch vừa thiếu khoa học vừa thiếu tình người. Họ mang mặc cảm bị bỏ rơi vì là thành phần xa lạ. Nay bỗng có tin: Đúng 00 giờ ngày… tháng …năm 2021 thành phố mở chốt cho người dân các tỉnh ngoài được trở về quê nhà. Ngỡ rằng chỉ xóm mình là sẵn sàng và sẽ là nhóm trước tiên ra khỏi thành phố. Ngờ đâu vừa tới chốt chặn thì cả rừng xe honđa đến cả vài ngàn chiếc. Mình đã sẵn sàng, tỉnh thức đến đúng 00 giờ thế mà vẫn là kẻ đi sau.

Quê nhà. Trong cảnh lao đao khốn khó chúng ta mới thấu hiểu quê nhà mới thực là vùng trời bình yên. Dù đói dù no thì luôn có đó những cánh tay, những tấm lòng cảm thông, đỡ nâng, chia sẻ. Một ca từ của nhạc sĩ Trần Tiến nói lên hiện thực này: “Mẹ ơi, thế giới mênh mông, mênh mông không bằng nhà mình” (Mẹ tôi).

Tin mừng ngày thứ Ba sau Chúa Nhật XXIX TN tường thuật lời Chúa Giêsu căn dặn các môn đệ và chúng ta rằng hãy tỉnh thức và sẵn sàng luôn. Một chi tiết xem ra quá nghịch thường trong dụ ngôn những người đầy tớ đợi chủ đi ăn cưới về đó là khi chủ về mà thấy họ đang tỉnh thức thì ‘chủ sẽ thắt lưng, đưa họ vào bàn ăn, và đến bên từng người mà phục vụ” (Lc 12,37). Chi tiết lạ thường này là trọng tâm của lời mạc khải. Thiên Chúa luôn đón chờ các tạo vật vốn là hình ảnh của Người trở về để hưởng hạnh phúc vĩnh tồn.

“Sinh ký tử quy”. Sống gửi thác về. Cố nhạc sĩ họ Trịnh đã từng ngân nga: “Cuộc đời là một cõi đi về; Trần gian chỉ là quán trọ”. Kitô hữu tuyên xưng có sự sống đời đời. Trong kiếp lữ hành thì quê hương mỗi người chỉ một. Nhưng Nước Trời (thiên đàng) mới thực là quê hương của mọi người. Thế mà sao chúng ta cứ mãi vấn vương cõi tạm này? Những thiện hảo đời này quả là tốt đẹp và thần dữ đã tinh khôn sử dụng chúng để trói chặt lòng trí chúng ta khiến chúng ta thật khó sẵn sàng tỉnh thức để đón nhận phúc thật thường tồn.

Có những hoàn cảnh xem ra là thiếu may mắn, thậm chí là khốn cùng chẳng hạn lâm cơn bệnh tật nan y lâu dài hoặc sức khỏe dần cạn khi tuổi đời tăng cao. Thế nhưng những hoàn cảnh ấy đã trở thành dịp tốt, vận may cho nhiều người để nghĩ đến quê hương vĩnh hằng để rồi không chỉ tỉnh thức mà còn sẵn sàng nghĩa là chuẩn bị hành trang ra đi, đi về quê thật.

Là Kitô hữu, dưới ánh sáng của lời mạc khải, ước gì chúng ta có được chút xác tín rằng Thiên Chúa là Cha Toàn Năng đang chờ đón chúng ta. Lạy Chúa, con tin nhưng xin củng cố đức tin còn non yếu của chúng con. Thiên Chúa không hề dè sẻn tình thương, ân lộc. Tuy nhiên để có thể đón nhận ân ban thì phải biết gắn bó thiết thân với Người bằng việc cầu nguyện. Cầu nguyện là cách thế củng cố đức tin hữu hiệu (lex orandi, lex credendi: the way we pray leads to the way we believe). “Kho tàng của ngươi ở đâu thì lòng trí của người ở đó” (Mt 6,21). Xin hãy một lần thành thật trả lời: Kho tàng quý giá nhất của tôi ở đâu? Quê hương vĩnh hằng của tôi ở đâu?

Lm. Guse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột
 
Mỗi Ngày Một Câu Danh Ngôn Của Các Thánh
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
18:17 16/10/2021

36. Say đắm trong an ủi của trần thế quá độ, thì không thể nhận được sự an ủi của Chúa Thánh Thần.

(Thánh Bernard)

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

(Trích dịch từ tiếng Hoa trong "Cách ngôn thần học tu đức")


----------

http://www.vietcatholic.org

https://www.facebook.com/jmtaiby

http://nhantai.info
 
Mỗi Ngày Một Câu Chuyện
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
18:19 16/10/2021
84. ĐỌC THƠ ĐUỔI TRỘM

Trầm Văn Khanh nghèo rớt mồng tơi, có lần đang ngủ ở nhà thì có tên trộm ban đêm đến cắp đồ, Trầm Văn Khanh bèn lên giọng ngâm một bài thơ:

- “Gió lạnh đêm tối trăng xa xôi,

không xứng lao tâm một lần này;

chỉ có sách hư năm ba quyển,

có thể đem về dạy cháu con”.


(Tiếu tiếu lục)

Suy tư 84:

Nhà nghèo rớt mồng tơi thì cũng chưa phải là nghèo nhất đâu, nhưng người nghèo nhất chính là tên ăn trộm, bởi vì không có gì mới đi ăn trộm, mà đến nhà nghèo để ăn trộm thì đúng là nghèo hơn cả người nghèo rớt mồng tơi.

Đức Chúa Giê-su dạy nghèo khó là có phúc vì được Nước Trời làm gia nghiệp của mình (Mt 5,3), nhưng hỏi có mấy ai hiểu được câu nói “chướng tai” này của Đức Chúa Giê-su?

Có những người Ki-tô hữu cũng “chướng tai” khi nghe lời này của Đức Chúa Giê-su, nên họ sống như chưa bao giờ được nghe lời dạy của Ngài, họ sống bon chen, họ hì hục kiếm tiền dù tiền bạc đầy nhà, nhưng tâm hồn vẫn bất an không thoải mái, vì của cải ở đâu thì lòng dạ cũng ở đó...

Nghèo là một hạnh phúc nếu chúng ta biết sống hằng ngày dùng đủ, Nước Trời thật sự là của chúng ta khi chúng ta biết coi của cải đời này là thứ phù vân nay còn mai mất...

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)


---------

http://www.vietcatholic.org

https://www.facebook.com/jmtaiby

http://nhantai.info
 
Mỗi Tuần SỐNG Một Câu Lời Chúa (CN 29 TN)
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
18:21 16/10/2021
CHÚA NHẬT 29 THƯỜNG NIÊN

Tin mừng: Mc 10, 35-45

“Con Người đến để hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người”.


Bạn thân mến,

Có nhiều người chê trách hai anh em ông Gia-cô-bê và Gioan khi họ xin được ngồi hai bên tả hữu của Đức Chúa Giê-su, bởi vì các ông chưa làm được việc gì mà đã xin xỏ, cũng đúng thôi, vì theo quan niệm của người đời là phải có làm mới có ăn, có làm mới có hưởng, có làm mới có quyền lợi.

Nhưng nhìn xa hơn một chút nữa, cái nhìn của người có tâm hồn bao dung và cởi mở, thì hai anh em tông đồ này đã rất thành thật và can đảm khi nói lên ý nghĩ của mình là xin cho được ngồi hai bên cạnh Chúa. Các ngài đã nhìn thấy được tấm lòng bao dung của Đức Chúa Giê-su –thầy của mình- và Đức Chúa Giê-su không phải là một ông chủ keo kiệt hay một ông vua hà khắc, nhưng Ngài là một vị thầy rất nhân từ và hiểu rất rõ tâm hồn của các môn đệ nên Ngài không trách mắng, không chê trách và không nạt nộ vì lời xin ấy, nhưng Ngài rất tế nhị hỏi các môn đệ có uống được chén đắng của Ngài không, và hai ông đã trả lời không ấp úng: “Thưa được”, thì cũng chứng tỏ các ông là người dám đi theo và dám chết với Thầy của mình, và quả thật là như thế, nên các ngài rất đáng được Chúa thưởng công...

Có rất nhiều lần bạn và tôi đã làm để được thưởng công, làm để được tiếng khen, làm để được lòng cấp trên, nhưng tâm hồn thì không hoàn toàn yêu thích công việc, không thích bề trên, không thích ông chủ của mình; trước mặt mọi người bạn và tôi làm tốt, nhưng sau lưng họ thì hết chửi người này, nói xấu người kia, chúng ta chưa thành thật với mình và với anh em, và chúng ta cũng chưa có can đảm như hai anh em thánh Giacôbê và Gioan tông đồ đã thành thật nói lên ý muốn của mình, dù ý muốn ấy không phù hợp, bởi vì các ngài đã tin tưởng vào Thầy của mình là Đấng khoan dung và yêu thương.

Có rất nhiều lần bạn và tôi nạt nộ người dưới quyền vì họ xin quyền lợi; có rất nhiều lần bạn và tôi nạt nộ to tiếng với giáo dân vì họ xin xưng tội ngoài giờ quy định; và có rất nhiều lần chúng ta đuổi người giúp việc ra khỏi phòng, vì họ đã làm chúng ta giận dữ khi xin cho thằng con trai có thành tích bất hảo vào ban ca đoàn của giáo xứ.

Tại sao bạn và tôi giận dữ, tại sao bạn và tôi nạt nộ? Thưa tại vì chúng ta chưa có tâm hồn bao dung và yêu thương, tại vì chúng ta chưa có tâm hồn biết thông cảm cho mỗi hoàn cảnh, và nhất là vì chúng ta chưa học được mơi Đức Chúa Giê-su vị Thầy hiền lành và rất khiêm tốn.

Người dưới quyền xin quyền lợi, vì họ cảm thấy đáng được, người giáo dân xin xưng tội ngoài giờ quy định vì họ thấy lương tâm cắn rứt không bình an, người giúp việc xin cho con vào ca đoàn vì ông thấy vào ca đoàn có thể cảm hoá được con người của nó... tất cả mọi lời cầu xin đều có lí do của nó, phần chúng ta –những người có quyền- hãy học nơi Đức Chúa Giê-su: bao dung và yêu thương.

Bạn thân mến,

Không những chỉ có hai anh em thánh Gia-cô-bê và Gioan là xin xỏ Chúa mà thôi, mà ngay cả bạn và tôi nữa, chúng ta đã rất nhiều lần xin xỏ Chúa điều này điều nọ nhưng không làm việc, hoặc có làm thì chỉ để được tiếng tăm. Đức Chúa Giê-su chỉ muốn chúng ta chia sẻ với Ngài chén đắng, tức là những hi sinh, những hiểu lầm và những đau khổ, còn những việc khác Ngài sẽ bù cho sau.

Xin xỏ với Chúa không có gì đáng xấu hổ cả, bởi vì chúng ta là con cái của Ngài, con cái mà xấu hổ khi xin xỏ với cha mẹ là làm nhục cha mẹ, là không tin tưởng và phụ lòng yêu thương của các ngài...

Cứ đơn sơ mà cầu xin với Chúa, và vui vẻ vâng phục khi được Chúa ban ơn lành hay gởi thánh giá cho chúng ta.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả chúng ta.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

----------

http://www.vietcatholic.org

https://www.facebook.com/jmtaiby

http://nhantai.info
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Đức Thánh Cha nói: Vượt thắng nạn đói là một trong những thách đố lớn nhất của nhân loại
Thanh Quảng sdb
04:26 16/10/2021
Đức Thánh Cha nói: Vượt thắng nạn đói là một trong những thách đố lớn nhất của nhân loại

Trong thông điệp gửi tới ông Tổng Giám đốc Tổ chức Nông Lương của Liên Hiệp Quốc, Đức Thánh Cha Phanxicô nói chúng ta phải áp dụng “các giải pháp sáng tạo” để biến đổi cách chúng ta sản xuất và tiêu thụ thực phẩm“, vì hạnh phúc của con người và của hành tinh trái đất chúng ta sinh sống.

(Tin Vatican - Christopher Wells)

Trong thông điệp gửi tới ông Qu Dongyu, Tổng Giám đốc của Tổ chức Nông lương của LHQ, Đức Thánh Cha Phanxicô viết: “Nhân dịp kỷ niệm Ngày Lương thực Thế giới hàng năm, chúng ta đang phải đối diện với một trong những thách đố lớn nhất của nhân loại là thắng vượt được nạn đói một lần và mãi mãi; đây là một mục tiêu đầy tham vọng”.

Sự cần thiết chung tay hành động

Trong thông điệp, Đức Thánh Cha nêu nên chủ đề của Ngày Lương thực Thế giới năm nay - “Hành động của chúng ta là tương lai của chúng ta: Sản xuất cao hơn, dinh dưỡng tốt hơn, môi trường trong lành và cuộc sống tốt hơn; và ĐTC nhấn mạnh tới sự cần thiết phải chung ta hành động phối hợp để mọi người có thể được hưởng một chế độ ăn uống đảm bảo, môi trường tốt lành và đầy đủ với túi tiền.”

Đức Thánh Cha nêu ra một nghịch lý liên quan đến việc tiêu thụ thực phẩm, ngài lưu ý rằng trong khi hơn ba tỷ người có những dinh dưỡng đầy đủ phong phú, thì gần hai tỷ người bị thiếu ăn và nghèo khổ...

ĐTC viết mọi người đều có bổn phận, "Nếu chúng ta không muốn có những nguy cơ về sức khoẻ trong hành tinh và dân chúng thì chúng ta phải khuyến khích sự tham gia tích cực vào sự thay đổi ở mọi cấp và tổ chức lại hệ thống lương thực nói chung."

Một cơ hội để thay đổi

Đức Thánh Cha nhấn mạnh tới bốn lĩnh vực đặc biệt cần phải hành động cấp tốc là các lãnh vực trên trái đất, trên biển, trên bàn ăn, và trong việc giảm thất thoát và lãng phí thực phẩm. ĐTC nhấn mạnh: “lựa chọn lối sống cá nhân và thực hành tiêu dùng hàng ngày đều có ảnh hưởng đến các động lực môi trường và toàn cầu, chúng ta phải khuyến khích các nhà sản xuất và người tiêu dùng đưa ra các lựa chọn có đạo đức và bền vững, đồng thời nâng cao nhận thức cho các thế hệ trẻ về vai trò quan trọng của họ trong việc kiến tạo một thế giới không thiếu thực phẩm...”

Đức Thánh Cha Phanxicô cho hay đại dịch là một “cơ hội để thay đổi hướng đi” để hệ thống lương thực toàn cầu, hầu ứng phó tốt hơn với các cuộc khủng hoảng trong tương lai. Tuy nhiên, ĐTC khẳng định: “cuộc chiến chống đói, đòi hỏi phải vượt qua cái nhìn ơ hờ rửng rưng về thị trường,” và thay vào đó là “tăng cường tình đoàn kết một cách hợp tình hợp lý”.

Đồng hành bên nhau


Trong thông điệp của mình, Đức Thánh Cha Phanxicô đảm bảo với ông Tổng Giám đốc của Tổ chức Nông Lương của Liên Hiệp Quốc (FAO), “Tòa thánh và Giáo Hội Công Giáo luôn sát cánh cùng Tổ chức Nông Lương của Liên Hiệp Quốc (FAO) và những tổ chức khác để cố gắng hết sức đảm bảo rằng không một người nào phải than rằng các quyền cơ bản của họ không được đoái hoài tới hoặc bị coi thường.”

ĐTC kết thúc thông điệp với những lời động viên: "Tôi khẩn cầu cho tất cả những ai cố gắng gieo vãi hạt giống hy vọng và hòa hợp; tôi khấn xin cho các sáng kiến và dự án của họ ngày càng phát triển và thành công."
 
Lá thư cảm động gửi Mẹ của một linh mục trẻ trước giờ chết tử đạo
Thanh Quảng sdb
18:57 16/10/2021
Lá thư cảm động gửi Mẹ của một linh mục trẻ trước giờ chết tử đạo

Ngày 16/10/2021 tại Cordoba, Tây Ban Nha, 127 nạn nhân của cuộc Nội chiến Tây Ban Nha sẽ được phong chân phước.

Trong những năm nội chiến này, được mệnh danh là Cuộc khủng bố đỏ, đã dẫn đến việc sát hại khoảng 6.800 linh mục và tu sĩ.

Gần 2.000 vị trong số này đã được tuyên phong chân phước, và con số tương tự đang được học hỏi và hoàn tất hồ sơ và thủ tục phong thánh.

Những người được tôn phong lên bậc chân phước ở Cordoba gồm có 79 linh mục, năm chủng sinh, ba nam tu sĩ, một nữ tu, và 39 giáo dân.

Trong số này có Cha Juan Elías Medina, người đã bị giết ở tuổi 33, vào ngày 25 tháng 9 năm 1936.

Khi đồ đạc của cha được thu thập từ nhà tù, người ta tìm được một bức thư cha viết cho mẹ cha bên trong cuốn sách nguyện, lá thư nội dung như sau:

Mẹ thân yêu,

Khi con viết thư này, thì hình như bản án tử hình của con đã được định đoạt. Tuy vậy, con rất bình an và bình thản khi viết cho mẹ những lời này. Xin Chúa cho mẹ sức mạnh để đón nhận tin này.

Thật là một niềm vui khi có thể dâng hiến một người con cho Chúa, và nếu Ngài muốn, mẹ sẽ dâng cho Chúa một người con. Con hy vọng chúng ta sẽ gặp nhau trên thiên đàng, mẹ hãy thường xuyên cầu nguyện “Lạy Thiên Chúa, và Chúa của con,” và nếu có thể, mẹ hãy xưng tội thật sốt sắng, như vậy chúng ta sẽ đảm bảo được sống với nhau mãi mãi trong Vinh quang nước Chúa.

Mẹ hãy nói với những ai hỏi về con, xin họ hãy cầu nguyện nhiều cho con và cho chính họ nữa! Đối với anh chị em của con, mẹ hãy khuyên nhủ anh chị em sống tốt và không ngừng cầu nguyện cho con. Và trên hết, hãy nhớ rằng anh/em của họ được chết một cách sung mãn...

Trong lúc này, hơn bao giờ hết, con thương mẹ.

Con yêu của mẹ,

Tạm biệt me,

Juan.
 
Tin Giáo Hội Việt Nam
Hơn 5,000 người ‘Vào Sa Mạc với Mẹ La Vang’ tại Las Vegas
Đoan Trang / Trà Nhiên
09:19 16/10/2021
Hơn 5,000 người ‘Vào Sa Mạc với Mẹ La Vang’ tại Las Vegas

LAS VEGAS, Nevada (NV) – Sau hai năm gián đoạn vì đại dịch COVID-19, chiều Thứ Sáu, 15 Tháng Mười, Đại Hội Mẹ La Vang Las Vegas 2021 kỳ 14 với chủ đề “Vào Sa Mạc với Mẹ La Vang” chính thức diễn ra. Theo ban tổ chức, có khoảng 6,000 chỗ dành cho khách hành hương, thì trong ngày đầu tiên, theo ghi nhận của phóng viên nhật báo Người Việt, ước lượng có hơn 5,000 người tới Đền Thánh Đức Mẹ La Vang tại 4835 S. Pearl St., Las Vegas, NV 89121.

Linh Mục Hà Quốc Dũng, chánh xứ Đức Mẹ La Vang Las Vegas, nói với phóng viên nhật báo Người Việt: “Đại hội những năm trước có từ 6,000 đến 7,000 người tham dự, nhưng năm nay dù có ít hơn, chúng ta vẫn phấn khởi.”

“Từ Tháng Sáu, 2021, Las Vegas được mở 100% nên tất cả mọi người đều hào hứng, hăng say để chuẩn bị cho đại hội. Giữa cơn đại dịch khủng hoảng, chúng ta rất vui vì được đến với nhau bằng xương bằng thịt, chứ không phải qua màn hình như trước nữa,” linh mục cho biết thêm.

Đại hội năm nay mời được nhiều vị thuyết giảng nổi tiếng như Linh Mục Nguyễn Trường Luân – Dòng Chúa Cứu Thế, Linh Mục Vũ Thế Toàn – Dòng Tên, Linh Mục Phạm Sĩ Hanh – Đan Viện Xito Thánh Giuse, Linh Mục Ngô Thái Phong – địa phận Thái Bình, và hơn 20 linh mục từ các giáo phận ở khắp nơi trên toàn quốc.

Đoàn người đến tham dự đại hội tề tựu khá đông trong khuôn viên Đền Thánh Đức Mẹ La Vang Las Vegas từ 3 giờ 30 phút chiều.

Người tham dự với số lượng đông nhất từ California, ngoài ra là giáo dân và khách từ Illinois, Washington, Florida, New Mexico, North Dakota, Utah, Michigan, Colorado… về dự.

Các em trong đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể đứng đón chào và phát chương trình đại hội. Em Jeff Phạm, 25 tuổi, cho biết năm nay em lại được phục vụ đại hội, nên rất vui. “Em thích phục vụ cho các cô chú, anh chị người Việt từ nhiều nơi đến tham dự đại hội,” em tâm sự.

Chị Tâm Nguyễn từ Los Angeles, California đến, cũng chia sẻ niềm vui, vì phải chờ đến hai năm mới được trở lại Las Vegas để tham dự đại hội.

Vào lúc 5 giờ 30 phút chiều Thứ Sáu, Thánh Lễ khai mạc Đại Hội Mẹ La Vang và làm phép Tượng Đức Mẹ do Giám Mục George Leo Thomas, giám mục Giáo Phận Las Vegas, làm chủ tế, cùng nhiều linh mục ở các nơi đồng tế.

Tượng Đài Đức Mẹ La Vang là khối đá nặng 10,000 pound (Tượng Đức Mẹ và bệ đặt), được làm từ Tháng Năm, 2020, nhưng do đại dịch nên đến nay mới được làm phép Thánh. Toàn bộ công trình do các công ty xây dựng và giáo dân nhiều nơi đóng góp.

Sau nghi thức làm phép Tượng Đức Mẹ là hoạt cảnh Âu Cơ-Lạc Long Quân do đoàn múa, thành phố Westminster, California, trình diễn.

Sau Thánh Lễ khai mạc là buổi cầu nguyện chữa lành do Linh Mục Nguyễn Trường Luân chủ trì.

Trước đó, Linh Mục Hà Quốc Dũng cho biết Đại Hội Đức Mẹ La Vang thông thường dành cho người lớn tuổi, nhưng giới trẻ sẽ “không bị bỏ quên.”

Vì thế đại hội lần này sẽ có một hội thảo dành riêng cho giới trẻ vào tối Thứ Bảy, 16 Tháng Mười, do Linh Mục Nguyễn Nam Việt phụ trách. Linh Mục Việt sẽ nói với các bạn trẻ về tình yêu và hôn nhân gia đình. “Tôi hy vọng có khoảng 100 em thanh thiếu niên đến tham dự hội thảo của đại hội năm nay, là vui rồi,” linh mục nói.

Đại hội lần này có sự tham dự của Dòng Thánh Tâm Huế từ Việt Nam. Linh Mục Lê Văn Cường, đặc trách Trung Tâm Thánh Tâm Chúa tại Florida, cho biết ước mơ lâu nay về sự hiện diện và thi hành sứ vụ tại Hoa Kỳ của nhà dòng với dự án Trung Tâm Thánh Tâm Chúa tại Florida chỉ mới bắt đầu giữa đại dịch COVID-19. Nhân dịp có nhiều giáo dân tề tựu tại Đại Hội La Vang Las Vegas, Linh Mục Cường kêu gọi những tấm lòng rộng mở “góp một bàn tay” để trung tâm sớm hình thành.

Theo ông Nguyễn Đình Gia, chủ tịch Cộng Đoàn Đức Mẹ La Vang Las Vegas, Đại Hội Đức Mẹ La Vang tổ chức thường niên, ngoại trừ năm 2019 và 2020 vì đại dịch.

Ông cho hay, khuôn viên diễn ra đại hội năm nay “bị thu hẹp” do công trường Trung Tâm Các Thánh Tử Đạo Việt Nam đang trong quá trình xây dựng. Công trình dự trù sẽ hoàn thành vào Tháng Hai, 2022, có giá trị xây dựng khoảng $9 triệu.

Linh Mục Hà Quốc Dũng cho biết: “Nếu có thêm Trung Tâm Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, Đền Thánh Đức Mẹ La Vang Las Vegas có thể tiếp đón hàng ngàn người từ các nơi.”

“Đền Thánh Đức Mẹ La Vang tiếp đón bà con trong những chuyến hành hương không phân biệt tôn giáo. Tuy có diện tích rộng rãi để sinh hoạt, nhưng nếu các đoàn có nhu cầu ở lại, có thể liên lạc với chúng tôi để lấy code và được giảm giá 20% ở các khách sạn chung quanh,” linh mục nói thêm.

Bà Mai Lê, một trong những thiện nguyện viên phụ trách gian bán hàng lưu niệm trong khuôn viên đại hội, cho biết toàn bộ tượng và quà lưu niệm năm nay đều được hãng Victoria Collection – nơi sản xuất ở Ý giảm giá. Chính vì thế, khách đến thỉnh tượng hoặc mua quà lưu niệm sẽ được giảm giá từ 20% đến 30%.

Đền Thánh Đức Mẹ La Vang Las Vegas hình thành vào năm 2002, do Linh Mục Nguyễn Đức Trọng sáng lập. Cộng Đoàn Đức Mẹ La Vang Las Vegas có khoảng 500 giáo dân, trong tổng số khoảng 5,000 người Việt đang sinh sống tại thành phố này.

“Người Việt có câu rất hay là ‘đến Mỹ mà chưa tới Las Vegas, thì chưa phải là đến Mỹ,” Linh Mục Hà Quốc Dũng nói. “Đền Thánh Đức Mẹ La Vang Las Vegas mời gọi quý đồng hương là dân Việt ở các nơi trên thế giới đến để tận hưởng không khí ấm cúng, vì nơi đây chính là ‘ngôi nhà’ của mọi người.”

Chương trình Đại Hội Mẹ La Vang Las Vegas 2021 kỳ 14 còn tiếp diễn trong hai ngày 16 và 17 Tháng Mười, gồm Thánh Lễ cầu nguyện cho bệnh nhân, các hội thảo, văn nghệ với sự góp mặt của các ca sĩ Mai Thiên Vân, Đình Bảo, Trúc Hồ, Nguyên Khang… Và chương trình xổ số gây quỹ với giải thưởng lớn nhất là chiếc xe Lexus ES đời 2021.

Thánh Lễ bế mạc đại hội vào lúc 9 giờ sáng Chủ Nhật, 17 Tháng Mười.

Ban tổ chức cho biết, Đại Hội Mẹ La Vang kỳ 15 sẽ được tổ chức trong ba ngày 20, 21, 22 Tháng Mười, 2022, với chủ đề “Cùng Mẹ, Đi Rao Giảng Tin Mừng.”
 
Hình ảnh Đại Hội Bảo Trợ Ơn Gọi DCCT Hải Ngoại tại Dallas, TX.
Trần Mạnh Trác
18:34 16/10/2021
Xem hình ảnh

Hôm nay, thứ Bảy 16/10/2021, gần 200 đại biểu và hội viên thuộc các chi hội cuả Hội Bảo Trợ Ơn Gọi DCCT Hải Ngoại, ở quanh vùng Dallas-Arlington-Ft Worth và các vùng phụ cận, đã qui tụ về Tu Viện DCCT Thánh Gioan Neumann, số 3912 S. Ledbetter Dr., Dallas, để tham dự buổi đại hội thường niện nhân dịp lễ Thánh Giêradô.

Một cuộc hội thảo đã được Lm Phaolô Nguyễn Văn Thạch, bề trên Tu Viện, tổ chức vào lúc 10g sáng.

Thánh Lễ kính Thánh Giêradô bắt đầu lúc 11g sáng, do Lm. Đa Minh Nguyễn Phi Long đại diện cho Bề Trên Phụ Tỉnh DCCT Hải Ngoại chủ tế và thành phần linh mục đồng tế gồm có quí Cha Gioan B. Vũ Thanh Sang, Cha Giuse Lê Trọng Hùng, Cha G.B Đoàn Bá Thịnh, và Cha Phaolô Nguyễn Văn Thạch.

Chúng tôi cũng ghi nhận có sự hiện diện cuả quí Sơ dòng Trinh Vương ở Dallas trong thánh lễ. Dòng Trinh Vương đã hoạt động ở Dallas từ nhiều chục năm qua, và ơn gọi cuả nhà dòng có vẻ phát triển tốt đẹp bởi vì hằng năm mỗi khi họ tới tham dự đại hội này, chúng tôi đều thấy có nhiều khuôn mặt mới cuả những Sơ trẻ.

Sau thánh lễ, Cha Long đã chủ sự một nghi thức làm phép Bánh Thánh Giêradô, là một tục lệ đã có từ lâu đời ở bên Âu Châu, để ban phát Bánh Thánh Giêradô cho các bà mẹ hiếm muộn, cho các gia đình có người thân đau ốm, và cho tất cả những ai đang cần có sự bầu cử cuả vị thánh hay làm Phép Lạ này.

Sau đó là một buổi tiệc mừng do các chi hội góp phần ẩm thực để khoản đãi, và phần văn nghệ 'cây nhà lá vườn' là do các chủng sinh DCCT trình diễn.
 
Văn Hóa
Tiểu luận III của Edith Stein về Phụ nữ: Linh đạo Phụ nữ Kitô giáo, tiếp theo
Vũ Văn An
17:16 16/10/2021

III. CÁC ƠN GỌI NỮ GIỚI

Linh hồn người phụ nữ khao khát việc đào tạo nào? Câu hỏi này có liên quan đến một câu hỏi khác: Bản chất phụ nữ kêu gọi họ vào ơn gọi nào? Ở đây, chúng ta không quan tâm đến việc thu thập các dữ kiện thống kê để chứng minh các ơn gọi trong đó người phụ nữ đương thời đang dấn thân vào. (Họ đã tham gia vào gần như mọi ơn gọi này) Thay vào đó, ý hướng của chúng ta là khám phá khuynh hướng chân thực của phụ nữ. Khi làm như vậy, số liệu thống kê giúp ích rất ít. Việc trình bày các con số liên quan đến các ơn gọi đặc thù sẽ phân loại các khuynh hướng và tài năng có liên quan; ngay cả như vậy, nó chỉ có thể thông báo một cách vụng về sự thành công của các hoạt động khác nhau. Nó thậm chí còn ít cho thấy người phụ nữ đã thích nghi ra sao với nghề nghiệp, và mặt khác, có thể biến đổi nó ra sao. Ở đây, chúng ta phải tự giới hạn vào những điều mà bản chất và số phận đòi hỏi trong các ơn gọi nữ giới đích thực. Nhưng cần phải dẫn ra những thí dụ cụ thể. Do đó, chúng ta sẽ cố gắng cho thấy người phụ nữ có thể hoạt động như thế nào trong hôn nhân, trong đời sống tu trì và trong các ngành nghề khác nhau phù hợp với bản chất của họ.



Theo Sách Sáng Thế, phụ nữ được đặt bên cạnh người đàn ông để người đàn ông không cô đơn nhưng có một người trợ giúp tương xứng với họ; nàng chủ yếu sẽ hoàn thành ơn gọi của mình trong tư cách người phối ngẫu bằng việc biến các quan tâm của chàng thành của riêng mình. Thông thường, chúng ta hiểu “các quan tâm của chàng” có nghĩa là nghề nghiệp của chàng. Sự tham gia của người phụ nữ vào nghề nghiệp của chồng có thể được thực hiện nhiều cách khác nhau. Trước nhất, nàng có nhiệm vụ lên khuôn cuộc sống gia đình của họ sao cho nó không cản trở, nhưng thăng tiến công việc chuyên môn của chàng. Nếu công việc của chàng ở trong nhà, nàng phải lo sao để giữ các phiền nhiễu càng xa chàng bao nhiêu càng tốt; nếu công việc của chàng ở bên ngoài tổ ấm, nàng phải bảo đảm để ngôi nhà mang lại sự thư giãn và hồi sức thích đáng khi chàng trở về nhà. Có thể có sự tham gia tức khắc vào việc thực hiện trợ giúp trực tiếp; thực vậy, điều này thường xảy ra trong các cuộc hôn nhân hiện đại giữa những người được đào tạo chuyên môn tương tự hoặc có liên quan, hoặc ít nhất là với những người có sở thích ăn ý nhau. Trước đây, trường hợp này xảy ra ở một phạm vi lớn, nói chung là trong đời sống nông thôn nhưng cũng thường xảy ra trong các doanh nghiệp kinh doanh (nhất là ở những doanh nghiệp quy mô nhỏ), trong các hộ gia đình bác sĩ, và cũng rất phổ biến ở các gia hộ của các mục sư Tin lành.

Tuy nhiên, “các quan tâm của người đàn ông” không những chỉ có ý nói đến nội dung khách quan của công việc của chàng mà còn liên quan đến việc cung cấp sinh kế của gia đình chàng nữa — “cuộc chiến giành việc sinh tồn”. Về mặt này, người vợ chủ yếu hành động như người giúp đỡ trong việc quản gia một cách khôn ngoan; hơn nữa, đây không những là nhiệm vụ kinh tế tư trong thời buổi này mà còn là một nhiệm vụ kinh tế quốc gia rất quan trọng nữa. Nhưng có lẽ thời nay nhiều hơn thời trước, cả vợ lẫn chồng đều cùng làm việc. Từ đó nảy sinh ra vấn đề khó khăn của ơn gọi kép: có nguy cơ công việc bên ngoài của nàng sẽ chiếm hết thời gian đến nỗi cuối cùng nó có thể khiến nàng không thể trở thành trái tim của gia đình và linh hồn của tổ ấm, điều luôn phải là nhiệm vụ thiết yếu của nàng.

Nhưng người phụ nữ “tương xứng” với người đàn ông trong tư cách người trợ giúp không những tham gia vào công việc của chàng; nàng còn bổ sung cho chàng, chống lại những nguy hiểm của bản chất đặc biệt nam giới của chàng. Công việc của nàng là bảo đảm bằng mọi khả năng của nàng để chàng không hoàn toàn miệt mài với công việc chuyên môn của mình, không để nhân tính của chàng trở nên còi cọc, và chàng không bỏ bê bổn phận gia đình trong tư cách người cha. Nàng sẽ có khả năng càng làm tốt hơn việc đó khi bản thân nàng càng trưởng thành hơn như một nhân cách; và điều quan yếu ở đây là nàng không đánh mất chính mình trong mối liên hệ với chồng mà trái lại, trau dồi các ơn phúc và năng lực của chính mình.

Nhiệm vụ làm mẹ của nàng liên quan mật thiết đến sứ mệnh làm người phối ngẫu của nàng, chỉ có điều ở đây nàng phải chủ yếu chăm sóc những đứa con và đưa chúng tói chỗ phát triển. Nàng phải hướng dẫn rồi dần dần rút lui để đạt được vai trò của một người bạn đồng hành, đối diện với con người trưởng thành. Một mặt, điều này đòi hỏi một năng khiếu biết thiện cảm tinh tế hơn vì cần phải thấu hiểu những thiên hướng và khả năng mà những người trẻ tuổi vẫn chưa ý thức được; nàng phải dò đường hướng tới điều mong muốn trở thành, nhưng chưa hiện hữu. Mặt khác, khả thể ảnh hưởng lại lớn hơn. Linh hồn trẻ vẫn đang trong giai đoạn đào tạo và tự phát biểu một cách dễ dàng và cởi mở hơn vì nó không đưa ra chống đối nào đối với các ảnh hưởng ở bên ngoài. Tuy nhiên, tất cả những điều này gia tăng trách nhiệm của người mẹ.

Để phát triển đến mức cao nhất nhân tính của chồng và con cái, người phụ nữ đòi phải có thái độ phục vụ quên mình. Nàng không thể coi người khác là tài sản của mình cũng như là phương tiện cho mục đích riêng của mình; ngược lại, nàng phải coi những người khác như những hồng ân được giao phó cho nàng, và nàng chỉ có thể làm như vậy khi nàng cũng coi họ như các tạo vật của Thiên Chúa mà nàng có bổn phận thánh thiêng phải chu toàn. Chắc chắn, việc phát triển bản chất do Thiên Chúa ban cho họ là một nhiệm vụ thánh thiện. Ở mức độ cao hơn nữa là sự phát triển tâm linh của họ, và chúng ta đã thấy ơn gọi siêu nhiên của người phụ nữ là khơi dậy trong tâm hồn chồng con những tia lửa tình yêu đối với Thiên Chúa, hoặc một khi đã nhen nhóm, thổi bùng chúng thành những tia sáng rực rỡ hơn. Điều này chỉ xảy ra nếu nàng cân nhắc và chuẩn bị cho mình thành công cụ của Thiên Chúa. Làm điều này thế nào sẽ được xem xét vào một lúc sau.

Sẽ không khó khi phải nhắc đến các phụ nữ trong các ngành nghề đa dạng nhất đã đạt được thành tích xuất sắc, nhưng điều này sẽ không chứng tỏ việc nghề nghiệp của họ là những ngành nghề đặc biệt dành cho nữ giới. Không phải mọi phụ nữ đều là hiện thân thuần túy của bản chất nữ giới. Các nét cá thể không đơn giản là các biến thể của bản chất nữ giới mà thường là những sáp gần lại (approximation) bản chất nam giới và do đó, là đặc tính của một nghề nghiệp không được coi là đặc biệt nữ giới. Nếu việc chăm sóc và phát triển sự sống con người và nhân tính là nghĩa vụ chuyên biệt của phụ nữ, thì những ơn gọi đặc biệt của nữ giới sẽ là những ơn gọi trong đó, các nỗ lực như thế cũng có thể thực hiện được ở bên ngoài hôn nhân. Ở đây, tôi không muốn nói đến vấn đề nội trợ vì nó không phải là vấn đề việc làm có tính nữ giới chuyên biệt, và trong nhiều khía cạnh, nó tạo ra những nhiệm vụ khác với những nhiệm vụ mà người phụ nữ của tổ ấm phải chu toàn. Điều quan trọng hơn là phải làm rõ tầm quan trọng của những nghề ở bên ngoài gia hộ, những nghề đã bị từ chối đối với phụ nữ trong một thời gian và dần dần chỉ được dành cho phụ nữ qua các đấu tranh của phong trào duy nữ.

Nghề y học hóa ra là một lĩnh vực phong phú cho hoạt động nữ giới chân chính, đặc biệt là nghề bác sĩ y khoa, bác sĩ phụ khoa và bác sĩ nhi khoa. Đã có nhiều ý kiến phản đối gay gắt việc thu nhận phụ nữ vào nghề này: một phụ nữ trẻ có thể gặp phải nhiều điều trong diễn trình học y khoa mà bình thường sẽ không để họ vướng vào; một phản đối nghiêm trọng là việc học sẽ đòi hỏi nhiều điều phi thường về sức mạnh cơ thể và năng lực thần kinh, và thực hành nghề nghiệp thậm chí còn đòi hỏi nhiều hơn nữa. Thật vậy, thực hành nghề nghiệp đòi hỏi một thể tạng thể chất và tinh thần đặc thù, cũng như lòng nhiệt thành nghề nghiệp cần thiết cho việc đảm nhiệm những khó khăn chỉ có trong nghề nghiệp đó. Những lo âu như vậy sẽ được xóa tan khi những quy định này được tôn trọng. Tất nhiên, người ta sẽ luôn biết ơn khi bắt gặp vẻ đẹp ngây thơ, không rắc rối làm lay động chúng ta, và hoàn toàn không biết đến mặt tồi tệ của bản chất con người. Ngày nay điều đó khó có thể xảy ra, nhưng trong thời xưa có bao nhiêu phụ nữ, vốn được bảo vệ trong trắng cho tới khi kết hôn, đột nhiên bị cướp hết mọi lý tưởng của họ, một cách tàn nhẫn nhất! Về mặt này, há người ta lại không nói rằng phương thức thực tế và khách quan, khoa học vẫn là một trong những phương pháp được chấp nhận nhiều nhất, nếu không phải là phương pháp tuyệt đối tốt nhất, để làm quen với dữ kiện tự nhiên hay sao? Vì hầu hết phụ nữ buộc phải nắm vững những dữ kiện này, thì há các phụ nữ cá thể có ơn gọi và cơ hội lại không nên làm mọi hy sinh để chu toàn lời kêu gọi này và đứng về phía chị em của họ hay sao?

Kinh nghiệm cho thấy điều này từng xảy ra ở mức độ lớn. Thật là phấn khởi khi biết chắc rằng sau bất cứ sự ngờ vực ban đầu nào, phụ nữ thường thích được điều trị bởi một bác sĩ phụ nữ hơn là một bác sĩ đàn ông. Tôi tin rằng điều này được qui định không những do sự e lệ [modesty] của bệnh nhân mà còn do cách tương cảm [empathy] chuyên biệt của nữ giới vốn có nhiều hiệu quả bổ ích. Con người, đặc biệt những người tàn tật, cần thiện cảm đối với toàn bộ trạng huống của họ. Phương pháp phổ biến chuyên môn hóa hiện đại không đáp ứng được nhu cầu này trong việc điều trị một chi [limb] hoặc cơ quan trong khi không quan tâm đến những phần còn lại của người ta, mặc dù phương pháp điều trị chuyên biệt là điều thích đáng. (Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, việc chuyên môn hóa không phải là phương pháp tốt nhất vì hầu hết bệnh tật là bệnh tật của toàn bộ con người ngay cả khi chúng chỉ biểu hiện ở một cơ quan nào đó; bệnh nhân cần việc điều trị theo tính đặc thù cá nhân của mình như một cơ thể toàn bộ). Chống lại thủ tục trừu tượng này, thái độ chuyên biệt nữ tính hướng tới con người cụ thể và toàn bộ. Người nữ bác sĩ chỉ phải thực thi lòng can đảm bằng cách theo cảm hứng tự nhiên của mình và tự giải thoát bất cứ khi nào cần thiết khỏi các phương pháp đã học và thực hành theo quy tắc. (Tất nhiên, không nên phủ nhận rằng điều này cũng thường xảy ra với các nam bác sĩ chuyên khoa, mặc dù không phải nói chung - trong những thời kỳ trước đây, bác sĩ gia đình đã là điển hình của phương thức tổng thể này). Vấn đề không phải chỉ là phải vận động kiên nhẫn để lắng nghe nhiều điều tuyệt nhiên không liên quan đến chủ đề. Ý hướng là phải hiểu chính xác toàn bộ hoàn cảnh của con người, nhu cầu thiêng liêng thường lớn hơn nhu cầu thể xác, và can thiệp một cách hữu ích không phải chỉ bằng các phương tiện y khoa mà còn như một bà mẹ hoặc một người chị.

Quan niệm như thế, nghề y quả là một nghề bác ái thực sự và cùng thuộc về các ngành nghề xã hội khác. Những nghề này hầu hết chỉ được phát triển trong những năm gần đây, và chúng đặc biệt là những ơn gọi dành cho nữ giới cũng đúng như ơn gọi của bà nội trợ vậy. Trong tất cả những ơn gọi như vậy, điều quan trọng là những hành động thực sự có tính mẫu thân trong việc chăm sóc một “gia đình” lớn: các giáo dân, người nghèo hoặc bệnh tật của một giáo xứ nông thôn hoặc của một khu vực thị xã, các tù nhân của nhà tù, những người trẻ đang gặp nguy hiểm hoặc bị bỏ rơi. Luôn luôn có tiềm năng, và trong căn bản còn là sự cần thiết nữa, của việc hiểu biết và giúp đỡ toàn bộ con người cho dù thoạt đầu ta có thể gặp những người này để chăm sóc họ trong ốm đau cơ thể hoặc để hỗ trợ họ về mặt tài chính, hoặc cho họ lời khuyên pháp lý. Ở đây, các đòi hỏi được hưởng sức mạnh của tình yêu thậm chí còn lớn hơn trong chính gia đình của họ: vì họ vốn thiếu mối liên kết tự nhiên, số lượng người cần đến nhiều hơn và đặc biệt có những người từ khước thay vì được thu hút do thiên hướng tính cách và não trạng của họ.

Trong loại công việc này hơn là những loại công việc khác, đã có chứng cớ chứng tỏ rằng sức mạnh tâm hồn bình thường không đủ để thực hiện các nhiệm vụ nêu trên. Nó phải được nâng đỡ bằng quyền năng và tình yêu của Chúa Kitô. Và nơi nào được nâng đỡ như vậy, nó sẽ không bao giờ chỉ dừng lại ở việc chăm sóc nhân tính tự nhiên; nhưng ngược lại, ta sẽ luôn, cùng một lúc, hướng tới mục tiêu siêu nhiên là giành lấy những con người này cho Thiên Chúa.

Chúng ta đã đề cập đến chủ đề chức nghiệp của phụ nữ như nhà giáo và nhà giáo dục trong cuộc thảo luận của chúng ta về việc giáo dục phụ nữ. Trước hết, điều này xem ra dễ dàng và dễ chịu hơn so với các chức nghiệp xã hội vì nói chung, nó liên quan đến chất thể đào tạo con người tự nhiên, và nhiệm vụ trực tiếp của nó là đào tạo trí hiểu và tinh thần. Nhưng nay, trong thời kỳ kinh tế khó khăn hiện nay, công việc của một nhà giáo và nhà giáo dục khó có thể thành công, mà ít thành công nhất là ở trong Volksschule [nền giáo dục bắt buộc](5), nếu nó không cố gắng chống lại cuộc khủng hoảng tinh thần vốn đang đè nặng lên nhiều trẻ em do các điều kiện gia đình không thể chịu đựng được. Thành thử, giáo dục đang đương đầu với những khó khăn nghiêm trọng khi ảnh hưởng của nó bị cản trở bởi gia đình và các thành phần gây rối khác ở bên ngoài trường học.

Nơi nào có một cuộc sống gia đình lành mạnh và là nơi các bậc cha mẹ, đặc biệt là người mẹ, thực sự chu toàn ơn gọi của mình, thì nhiệm vụ của nhà trường sẽ dễ dàng trở thành nhiệm vụ kiềm chế khôn ngoan; nhiệm vụ của nó chỉ là củng cố việc giáo dục đứa trẻ ở nhà mà thôi. Nhưng đó không phải là tình hình điển hình ngày nay. Cuộc sống gia đình bị hủy hoại càng đặt lên vai nhà trường một trọng trách lớn hơn. Do đó, đúng là ngày nay việc đào tạo một lần nữa được coi là nhiệm vụ thiết yếu của giáo dục và dạy học là một phương pháp để đạt được mục tiêu đó.

Sự xem xét trên đặt ra thách thức phải khai triển việc dạy học sao cho nó có thể đào tạo người học, đồng thời cho phép họ tự phát càng nhiều càng tốt và là điều đáng mong ước. Chắc chắn khuôn khổ giáo dục đích đáng không phải tìm đâu cũng thấy; tuy nhiên, theo chiều hướng này, việc tổ chức lại các trường học một cách thực tiễn và chương trình giảng dạy hiện tại phải được thiết lập. Hệ thống cũ đã không cổ vũ công việc giáo dục. Người ta có xu hướng biến tài liệu giảng dạy thành một bức tranh toàn cảnh có tính bách khoa gồm mọi kiến thức đương thời; việc này đã dẫn đến tình trạng quá tải thông tin; các cố gắng của cả các nhà giáo lẫn người học đều tập trung vào việc tiếp thu và truyền tải kiến thức về sự kiện.

Yếu tố bản thân trong việc giảng dạy mất dần tầm quan trọng. Các nhà giáo trở thành các chuyên gia và ít chú ý hơn đến việc tiếp xúc nhân bản và bản thân rộng rãi. Tính cách vô ngã như vậy ít thích ứng với mục tiêu giáo dục và bản chất nữ giới. Thành thử, các thay đổi hiện nay có nhiều khả năng đáp ứng nhu cầu của nữ học viên. Hơn nữa, việc nhận phụ nữ vào đại học giúp họ có thể tham gia vào nghề giảng dạy, điều này đã có ảnh hưởng nhất định đến việc đào tạo và giáo dục các thiếu nữ.

Trong nhiều trường hợp ngày nay, chúng ta thấy các mối liên hệ thuận lợi giữa nhà giáo và người học. Các trường nội trú luôn tạo ra những mối liên hệ kéo dài hơn thời kỳ đi học và vẫn có tính quyết định đối với đời sống. Điều này đúng cả trong các tình huống giảng dạy khác và nhiều bà mẹ sẽ rất hài lòng nếu con cái họ sẵn sàng tìm tin tưởng và hướng dẫn nơi họ như họ làm tìm tin tưởng và hướng dẫn nơi các nhà giáo. Tất nhiên, một khả thể ảnh hưởng mạnh mẽ như vậy đòi hỏi trách nhiệm cao và hàm ẩn nguy cơ nghiêm trọng nếu nó rơi vào tay những nhân cách kém khả năng.

Người phụ nữ nào trông đợi vào ơn gọi của mình để hoàn thành toàn bộ cuộc sống mình sẽ gặp nguy hiểm nếu nàng trói buộc người trẻ vào chính mình một cách sai lầm. (Điều này tương tự với việc người phối ngẫu và bà mẹ cố gắng kềm kẹp gia đình của họ một cách thảm hại y hệt như thế).

Quả là tốt đẹp khi tình âu yếm tự nhiên phát triển một cách tự nhiên giữa thầy và trò. Tuy nhiên, tác động lành mạnh sẽ bị đe dọa nếu một trong hai người không lưu tâm tới tự do tri thức và tinh thần hoặc mục tiêu giáo dục trong chính nó, tức là nhân tính được phát triển hoàn hảo nhất theo chiều hướng tự nhiên và siêu nhiên. Điều này cũng chỉ có thể có được khi chức nghiệp giảng dạy được hiểu là Thiên Chúa giao phó, và nhân cách của người học được xem xét dưới ánh sáng sứ mệnh giáo dục.

Chúng ta quen thuộc với các dịch vụ của phụ nữ trong công tác thanh niên và giáo dục, cũng như phúc lợi cho người nghèo, người bệnh và những người gặp nguy hiểm. Chúng ta cũng hãy đề cập đến các phụ nữ làm việc trong cơ quan hành chính cấp cộng đồng hoặc quốc gia và trong Nghị viện như là “các bà mẹ của nhân dân”. Tất cả chúng ta, lúc này hay lúc khác, đều quan sát thấy hàng ngày có nhiều người tiếp xúc những người phụ nữ như vậy với những yêu cầu đa dạng nhất, hoặc trực tiếp hoặc qua thư từ; họ đang tìm kiếm các lĩnh vực đầy hứa hẹn cho công việc chân chính của phụ nữ ngoài các nhiệm vụ chính thức có sẵn ngay lập tức. Chắc chắn, có nguy cơ là người ta tìm thoả mãn cho một cái tôi tự phụ, ham muốn quyền lực hoặc tham vọng bản thân. Nhưng người ta có thể hưởng phúc nơi tay của người phụ nữ đúng đắn: nàng có thể sẵn sàng giúp người ta ngăn chặn nhiều khó khăn khác nhau và hướng dẫn đạt đến những khả thể chính đáng.

Nhưng các chức năng lập pháp và hành chính cũng đòi hỏi sự hợp tác trực tiếp của phụ nữ. Phụ nữ được cần đến để bàn luận, giải quyết và khởi xướng các luật lệ trong những vấn đề mà họ quan tâm nhất (như bảo vệ pháp lý cho phụ nữ, phúc lợi thanh niên, v.v.). Ngoài ra, quan điểm lý thuyết không phải lúc nào cũng trùng hợp với nhu cầu của con người, nhưng người phụ nữ đúng đắn biết cách nhận diện tình trạng cụ thể của con người hơn là tiến hành một cách trừu tượng và hình thức. Tất nhiên, cũng không thể bỏ qua các quan điểm chung và quan điểm chính thức, và do đó, sự hợp tác của nam giới và nữ giới có thể đặc biệt hữu hiệu ở đây.



Một nhiệm vụ to lớn, không dễ gì thực hiện được, là mô tả các thành tựu có giá trị của phụ nữ trong nghệ thuật và khoa học, cũng như cho thấy cách tiếp cận đặc biệt nữ giới có thể mang lại kết quả ra sao. Điều này không khả thi trong khuôn khổ của chúng ta. Tuy nhiên, điều tương đối đơn giản là trình bày các môn khoa học và các hình thức nghệ thuật đặc biệt phù hợp với bản chất phụ nữ. Hơn nữa, cuộc nghiên cứu đáng giá nên khảo sát xem việc xử lý hoàn toàn theo kỹ thuật các môn học đã được chấp nhận như là tiêu chuẩn sâu rộng ra sao bên trong phương pháp truyền thống. Có lẽ cuộc điều tra như vậy nên đo lường tác động của sự đóng góp của nam giới đối với việc phát triển này; ngoài ra, cả việc liệu phương thức phụ nữ có thể hoạt động, và hoạt động đầy đủ ra sao, như một sự bổ sung hữu hiệu.

Tương ứng với các lĩnh vực của môn học, cần có sự phân biệt giữa việc nghiên cứu độc đáo, công trình phụ thuộc và giảng dạy học thuật. Các thành tựu tạo thời đại của phụ nữ tương đối khan hiếm và ta có thể giải thích điều này theo bản chất của phụ nữ. Tuy nhiên, các năng khiếu nữ tính như tương cảm và thích ứng cho phép họ tham gia, hiểu và kích thích; họ hành động rất xuất sắc với vai trò phụ tá, thông dịch viên và nhà giáo.

Chắc chắn, có một loạt các chức nghiệp mà phụ nữ có thể thực hành một cách hữu hiệu, nhưng đây không phải là những hoạt động đặc biệt có tính nữ giới mà bản chất đích thực của họ đòi hỏi hoặc cho phép. Trong những chức nghiệp này— trong nhà máy, văn phòng, v.v. — điều luôn tốt cho phụ nữ là họ sẵn sàng tạm thời đứng về phía người khác: qua sự chia sẻ, giúp đỡ và cổ vũ, họ có thể duy trì được bản lĩnh phụ nữ thực sự của mình. Họ luôn có cơ hội để làm như vậy quá bên kia công việc chuyên môn — tại nơi làm việc, trong gia đình hoặc cộng đồng của họ.

Điều này đòi hỏi một sức chịu đựng [stamina] tinh thần mãnh liệt so với trạng thái thụ động của công việc máy móc hàng ngày; nhưng sức chịu đựng này, về lâu về dài sẽ mất đi nếu không được suối nguồn vĩnh cửu làm tươi mát lại. Như vậy, chúng ta có thể hiểu được việc sinh lực của phụ nữ cần bén rễ vào những cơ sở đời đời. Điều này không những đúng đối với việc thánh hiến cho Thiên Chúa bằng cách tuân giữ nghĩa vụ long trọng tham dự Thánh lễ, mà còn đúng đối với tất cả các lĩnh vực thuộc việc làm của những người phụ nữ chân chính.

Bây giờ chúng ta hãy xem xét liệu đời sống tu trì có phải là một hoạt động đích thực nữ giới hay không và như thế nào. Ở đây, chúng ta không quan tâm đến hoạt động bên ngoài mà hầu hết các hội dòng trong thời gian gần đây đều lấy làm mục tiêu đặc biệt: chăm sóc người bệnh, giáo dục, v.v. Dù trong hay ngoài một dòng tu, đây không phải là những loại công việc mới của phụ nữ. Đúng hơn, chúng ta sẽ đặt câu hỏi hoạt động của các tu sĩ khác ra sao so với hoạt động của người đồng nghiệp thế tục trong chuyên nghiệp. Cũng cần được xem xét điều này là đời sống tu trì có chức năng chuyên biệt không gì sánh được trong hoạt động nữ giới: cầu nguyện và hy sinh.

Ở đây, chúng ta thấy như chân lý mọi điều đã được lời tác giả Thánh vịnh đúc kết: opera Mea regi — tất cả những gì tôi làm là làm cho Đức vua. Nữ tu đã hiến dâng bản thân và cả cuộc đời của mình cho Chúa Kitô Vua. Bằng lời thề khiết trinh của mình, trái tim và toàn bộ cuộc sống của Sơ được dâng hiến cho Người và mọi dây ràng buộc con người đều được tháo bỏ. Bởi lời thề vâng lời của mình, ý chí của Sơ bị từ bỏ: bây giờ Sơ không thể làm gì khác ngoài những gì Chúa truyền cho Sơ; Sơ phải sẵn sàng đảm nhiệm mọi công việc mà Người yêu cầu nơi Sơ, thi hành mọi điều để phụng sự Người.

Người đàn ông cũng làm tất cả những điều ấy một cách tự do với tư cách là thành viên của một dòng tu. Đây có phải là trường hợp trong đó sự khác biệt giới tính không đóng vai trò gì hay không? Hay đây là bậc sống mà người nam hoặc người nữ thích hợp hơn? Liệu ta có thể thấy sự dị biệt hóa trong việc thủ diễn thực tế? Sự phó thác hoàn toàn trọn cả con người nhất thiết phải như nhau đối với cả hai giới tính vì nó là bản chất độc nhất của đời sống tu trì. Con đường tiến tới việc hoàn thiện bản chất cá nhân là sùng kính yêu thương và phó mình cho Thiên Chúa, Đấng vốn là tình yêu. Sự phó mình này cũng thể hiện sự thành toàn cao nhất mọi khát vọng của phụ nữ liên quan đến ơn gọi của họ. Nói một cách chính xác, đó là sự thành toàn cao nhất của ơn gọi làm người của chúng ta; nhưng điều này được người phụ nữ cảm nhận một cách sống động hơn và trực tiếp hơn vì nó phù hợp với bản chất chuyên biệt của họ.

Về phương diện này, có thể nói cùng một thái độ căn bản của người đàn ông quyết định phó mình cho Thiên Chúa và mưu tìm sự hoàn thiện làm đường đi và ý nghĩa cho cuộc sống giống như thái độ của người phụ nữ. Bản chất nam giới không nhất thiết phải bộc lộ bởi điều này ngoại trừ một số kiểu nam tính nào đó giống với phụ nữ. Đúng hơn, điều này dường như cho thấy một sự mở rộng hướng tới nhân tính trọn vẹn vượt quá các giới hạn của nam tính.

Điều nhất thiết phát xuất từ tình yêu phu thê (bridal) dành cho Chúa Kitô cũng tương tự đối với cả hai giới: biến công việc của Người thành công việc của riêng mình; trước hết, điều này có nghĩa người ta bị lôi cuốn vào tình yêu thần linh. Được thúc đẩy bởi tình yêu của Người và thực hiện thiên chức mẹ thiêng liêng, người ta cố gắng thu phục con người cho Thiên Chúa, mang Người vào các linh hồn, sinh sản và bảo quản con cái của Người. Điều này đôi khi có thể xảy ra qua lời giảng dạy, cử hành các bí tích, linh hướng trực tiếp— phương cách độc đáo của linh mục — hoặc qua lời cầu nguyện và dâng hiến.

Nhưng cùng với những khía cạnh chủ yếu có tính nữ giới trong tinh thần người tu sĩ, có những khía cạnh khác có thể được coi là đặc biệt thuộc nam tính. Phó mình cho Thiên Chúa đồng thời là một việc từ bỏ mình đầy yêu thương và một sự vâng lời ngoan ngoãn. Nó có nghĩa là bước đi trong việc phục vụ Chúa. Đây có thể là hành động như người ủy nhiệm của Người, ra lệnh, dạy dỗ, hướng dẫn nhân danh Người. Muốn biến các giáo huấn của Thiên Chúa thành của riêng mình không những chỉ là giành được phần nào tình yêu thương của Người; nó còn có nghĩa: phải chiến đấu chống lại kẻ thù của Người cho vương quốc của Người. Tất cả những điều này tương ứng với bản chất nam giới; và, bao lâu điều này cũng được thể hiện trong cuộc đời của người phụ nữ được thánh hiến cho Thiên Chúa, cũng có thể nói về họ rằng họ xem ra giống hình thái nam hoặc vượt quá giới hạn của chính họ. Thông thường, người ta có thể giải quyết vấn đề một cách tốt nhất theo cách sau: với đan sĩ hay tu sĩ, loại hình “Chúa Kitô khác” chiếm ưu thế; với nữ tu, loại hình đó là “Người phối ngẫu của Chúa Kitô”.

Tuy nhiên, nhiệm vụ của chúng ta là tìm hiểu xem liệu đây có phải là việc chưa đạt được lý tưởng hay không hay liệu có sự phân giới chính yếu nào hay không. Để bắt đầu, đây chỉ là vấn đề chứng minh rằng chúng ta có thể coi đặc điểm đặc thù của đời sống tu trì như là phù hợp với việc làm của người phụ nữ chân chính.

Còn tiếp
 
VietCatholic TV
Vụ án chấn động: Người đàn bà Tầu làm giả công chứng thư phá hoại quốc sách tiêm chủng của Úc
Giáo Hội Năm Châu
08:04 16/10/2021


Một người phụ nữ gốc Tầu sẽ bị đưa ra tòa vào ngày 28 tháng 10 tới đây vì làm các chứng thư giả liên quan đến coronavirus. Đây là vụ án gây xôn xao dư luận tại Úc Đại Lợi.

Tử vong tại Úc đã lên đến 1,507 người, trong số 138,720 trường hợp nhiễm coronavirus. Con số tuy không nhiều như một số các quốc gia khác, nhưng nền kinh tế của Úc chịu ảnh hưởng nghiêm trọng sau nhiều đợt lockdown. Cho đến nay, Melbourne là thành phố bị lockdown một thời gian dài nhất trên thế giới. Trong khi đó, New South Wales bị thiệt hại nặng đến mức tân thủ hiến Dominic Perrottet quyết định mở cửa bằng mọi giá vào ngày 1 tháng 11 tới đây.

Cảnh sát lo ngại rằng người đàn bà Tầu làm giả công chứng thư này có thể phá hoại quốc sách tiêm chủng của Úc.

Hôm 14 tháng 10, tờ Brisbane Times có bài tường thuật nhan đề “Fears 600 Australians had fake exemptions from ‘anti-COVID, anti-vax’ woman”, nghĩa là “Những lo sợ về 600 người Úc đã có giấy miễn trừ giả từ người phụ nữ ‘phủ nhận-COVID, chống vắc xin’”. Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Đình Trinh.

Cảnh sát đang rà soát điện thoại và máy tính của một người tự xưng là bác sĩ và đã bán các giấy chứng nhận miễn trừ y tế giả cho khoảng 600 người Úc với giá 150 Úc Kim một tờ chứng nhận.

Người phụ nữ 45 tuổi, tên là Maria Carmel Pau, tên tiếng Tầu của bà ta phiên ra tiếng Việt là Ca Mai Nhĩ Bảo La (卡梅尔*保罗), đã bị bắt tại Gold Coast hôm thứ Tư, và bị buộc tội giả danh bác sĩ để đưa ra các giấy chứng nhận miễn xét nghiệm COVID-19, tiêm chủng và đeo khẩu trang.

Maria Bảo La bị cáo buộc đóng giả bác sĩ y khoa và bán giấy chứng nhận miễn trừ giả mạo.

Chúng tôi xin mở ngoặc để giải thích thêm như sau:

Trong tiếng Anh, một người có bằng tiến sĩ về bất cứ ngành khoa học nào đều được gọi là “Doctor”. Bác sĩ cũng gọi là “Doctor”.

Lợi dụng điều này, một người phụ nữ, có bằng tiến sĩ về phương pháp nghiên cứu, đã xưng mình là y khoa bác sĩ.

Thám tử Quyền Thanh tra trưởng Damien Powell cho biết cô ta phải đối mặt với khoản tiền phạt lên đến 10,000 đô la và có thể phải ngồi tù, nếu bị kết tội.

“Từ những gì tôi đã đọc trong các tài liệu do cô ta soạn thảo, về cơ bản cô ta là người phủ nhận COVID, và cô ta không tin rằng mọi người nên bị buộc phải tiêm chủng”

“Cô ta tin rằng cô ta có quyền cấp những chứng chỉ đó, nhưng cô ta không có bằng y khoa bác sĩ”.

“Cô ta không tin rằng mình đã làm bất cứ điều gì sai trái. Cô ta tin rằng trình độ và cách hiểu của mình về luật pháp cho phép cô ta cấp những chứng chỉ này.”

Người phụ nữ đã bán với giá $150 Úc Kim cho mỗi chứng chỉ.

Cơ quan Quản Lý Hành nghề Y Khoa của Úc không có danh sách bà Bảo La là một người hành nghề y tế đã ghi danh ở Úc.

Thanh tra Powell cho biết cuộc điều tra được bắt đầu sau báo cáo của một người dùng Internet và các nhà điều tra đang làm việc để xác minh xem thực tế người phụ nữ đã bán bao nhiêu chứng chỉ giả.

“Những gì chúng tôi có thể nói cho đến nay là những người đã mua chứng chỉ giả của cô ấy đến từ khắp nước Úc - tất cả các tiểu bang đại lục - và chúng tôi sẽ làm việc với các cơ quan chị em của chúng tôi trên khắp nước Úc để xác định những người đó và bảo đảm họ biết chứng chỉ của họ là không hợp lệ.”

Powell cho biết nếu những ai mua chứng chỉ giả mà biết chúng là giả và người bán không có bằng cấp y tế, họ sẽ bị buộc tội giả mạo công chứng thư.

“Nếu những tài liệu đó được xuất trình cho những người sử dụng nhân công lao động như là chứng chỉ được miễn tiêm chủng, thì điều đó khiến anh chị này có nguy cơ nhiễm COVID và chịu những hậu quả tai hại vì đã không được tiêm chủng. Điều đó cũng khiến đồng nghiệp của anh chị ấy gặp rủi ro.”

Bà Bảo La dự kiến sẽ xuất hiện tại Tòa sơ thẩm Southport vào ngày 28 tháng 10.

Vấn đề nhiều người quan tâm là Bà Bảo La hành động một mình như con sói đơn độc hay đây là tội phạm có tổ chức của cả một nước Tầu hùng mạnh đang có nhiều tranh chấp với Úc Đại Lợi.


Source:Brisbane Times
 
Quá điên: Thần học gia kiêu ngạo hô hào tất cả các Giám Mục Pháp từ chức để bà ta lãnh đạo Giáo Hội
Thế Giới Nhìn Từ Vatican
08:07 16/10/2021


1. Tổng trưởng Bộ Giáo lý đức tin kêu gọi các tín hữu giáo dân, tham gia tích cực hơn vào đời sống Giáo hội.

Trong cuộc phỏng vấn dành cho tuần báo Alfa và Omega, xuất bản tại thủ đô Madrid, Tây Ban Nha, Đức Hồng Y Ladaria, 77 tuổi thuộc dòng Tên người Tây Ban nha, nhấn mạnh đến sự quan tâm chăm sóc nhiều hơn giữa các phần tử Giáo hội đối nhau. Ngài nhắc đến lời thánh Irênê, Giám mục thành Lyon bên Pháp, theo đó Giáo Hội Công Giáo giống như một bản hợp ca gồm nhiều giọng khác nhau: mỗi ngươi có thể làm cho Giáo hội được phong phú nhờ đức tin của mình, đức tin chiếm chỗ ưu tiên hơn thần học: “Nếu thần học không nhắm làm tăng trưởng đức tin và lòng yêu mến Thiên Chúa thì nó vô ích”.

Trả lời câu hỏi của nhà báo về thái độ của Đức Giáo Hoàng Phanxicô đối với những cặp đồng phái, Đức Hồng Y Ladaria nhận xét rằng trong một cuộc phỏng vấn dành cho các ký giả trên chuyến bay, từ Slovakia về Roma, hôm 15/9 vừa qua, Đức Thánh Cha nhấn mạnh tầm quan trọng của hôn nhân Kitô giáo. Đồng thời, Đức Hồng Y nói thêm rằng tất cả chúng ta đều phải tôn trọng những người đồng tính luyến ái vì Chúa cũng yêu thương họ.

Theo Đức Hồng Y Tổng trưởng Bộ giáo lý đức tin, phụ nữ không thể bị loại khỏi thừa tác vụ trong Giáo hội. “Tôi xác tín rằng trong tương lai sẽ có những hình thức mới để phụ nữ can dự vào Giáo hội và các Hội đồng Giám mục có thể thiết lập cho họ các tác vụ, theo nhu cầu của Giáo hội. Vai trò của phụ nữ đang gia tăng trong Giáo hội và điều này cũng đang diễn ra tại Vatican, nhiều trách vụ quan trọng được ủy thác cho phụ nữ”.

Trong cuộc phỏng vấn, Đức Hồng Y Ladaria cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải phân phối công bằng các tài nguyên trên thế giới, lương thực, thuốc men, kể cả vắcxin.

2. Ba khuôn mặt hoang tưởng tại Pháp đang cố đẩy Giáo Hội tại Pháp đến chỗ diệt vong

Sáu ngày sau khi báo cáo lạm dụng tính dục trong hàng giáo sĩ ở Pháp được công bố, ba khuôn mặt hoang tưởng tại Pháp đã lên tiếng kêu gọi “các giám mục Công Giáo từ chức tập thể” và vận động mạnh mẽ trên mạng xã hội các tín hữu Công Giáo đừng đến nhà thờ cho đến khi các Giám Mục đồng loạt từ chức.

Tờ Le Monde cho biết ba nhân vật, này bao gồm cả biên tập viên Christine Pedotti của “Témoignage Chrétien”, nghĩa là “Chứng Tá Kitô”, đã kêu gọi “đổi mới”, sáu ngày sau khi ủy ban độc lập về lạm dụng tình dục trong Giáo hội công bố báo cáo của mình.

Ngoài ra còn có đồng sáng lập hiệp hội các nạn nhân bị lạm dụng tính dục, La Parole libérée, François Devaux, và nhà thần học Anne Soupa. Họ đã đưa ra tuyên bố trên hôm thứ Hai 11 tháng 10, trong đó yêu cầu các Giám Mục Pháp “từ chức tập thể”, sau kết luận của ủy ban Sauvé về lạm dụng tính dục trẻ em trong Giáo Hội Công Giáo.

Thông qua các mạng xã hội, nhóm này đưa ra các hashtag như #MyChurchToo, nhằm kêu gọi những người Công Giáo bày tỏ sự phẫn nộ, và đòi phải cải tổ Giáo Hội.

Bắt chước nhóm Maria 2.0, nhóm này kêu gọi các tín hữu Công Giáo đừng đến nhà thờ cho đến khi các Giám Mục đồng loạt từ chức.

Lời kêu gọi của họ mang tên “Đối mặt với phá sản, sự từ chức của các giám mục là kết quả danh dự duy nhất”.

Christine Pedotti, Anne Soupa và François Devaux cho rằng: “Không chỉ là thất bại, báo cáo của CIASE nêu bật một vụ phá sản thực sự”. Theo họ, “bất kỳ tổ chức, hiệp hội, công ty nào trong trường hợp như thế cũng đều gặp phải hậu quả cần thiết là loại bỏ những người lãnh đạo của mình”.

“Chúng tôi yêu cầu sự từ chức tập thể của tất cả các giám mục tại vị như một dấu chỉ của hy vọng và đổi mới”. Pháp có khoảng 120 giám mục.

Theo họ, từ chức “là cử chỉ duy nhất tương xứng với thảm họa và sự mất niềm tin của chúng ta. Đó là một hành động hối lỗi cụ thể, đầu tiên đối với các nạn nhân. Đó là thái độ duy nhất có thể làm khôi phục lại ngôi nhà của Hội Thánh”.

Cả ba lập luận rằng việc các giám mục từ chức tập thể đã từng xảy ra sau những sự kiện tương tự :

“Trong Giáo Hội Công Giáo, tiền lệ này tồn tại: các giám mục Chí Lợi đã đệ đơn từ chức tập thể cho Đức Thánh Cha Phanxicô sau khi một vụ án khổng lồ về tội phạm trẻ em bị phanh phui. Tại Đức, Đức Hồng Y Marx, Tổng Giám mục của Munich, cũng đã trình đơn từ chức lên Đức Giáo Hoàng nhân danh trách nhiệm mà ông cho là phải gánh liên quan đến lạm dụng tình dục, mặc dù bản thân ông đã không phạm sai lầm”.

Họ nói thêm “Chúng tôi không nghi ngờ rằng không phải tất cả các giám mục Pháp đều che đậy tội ác, nhưng chính cấu trúc của hệ thống phẩm trật Công Giáo cho thấy sự liên tục và liên đới giữa mỗi giám mục và vị tiền nhiệm. Như thế, nếu tất cả đều không trong sạch thì tất cả đều phải chịu trách nhiệm”.

Cuối cùng, họ đề nghị Đức Thánh Cha Phanxicô bổ nhiệm một đặc sứ đại diện chính thức của Đức Giáo Hoàng, và họ đề nghị nữ tu Véronique Margron, chủ tịch của Liên Hiệp Các Dòng Tu tại Pháp vào vị trí đó, trong khi chờ đợi hình thành một hàng giáo phẩm mới.

François Devaux là người sáng lập ra La Parole libérée nhằm thưa kiện Giáo Hội đòi bồi thường. Nạn nhân đầu tiên của hắn ta là Đức Hồng Y Philippe Barbarin, nguyên Tổng Giám Mục Lyon. Vị Hồng Y đã được minh oan. Thất bại trong vụ đó, hắn cáu tiết gọi Đức Thánh Cha Phanxicô là “căn nguyên của mọi tội lỗi” vì thái độ bênh vực cho Đức Hồng Y Barbarin của ngài.

Anne Soupa, 73 tuổi, là nhà báo và học giả Kinh thánh, một trong những nhà hoạt động nổi tiếng của Pháp chuyên đấu tranh để đòi hỏi các vai trò lớn hơn cho phụ nữ trong Giáo Hội Công Giáo. Hôm 25 tháng Năm, 2020, giữa tình cảnh dịch bệnh bùng phát mạnh, bà ta đã gửi một lá thư đến Sứ thần Tòa Thánh ở Paris nói rằng bà muốn lãnh đạo tổng giáo phận Lyon, là một tổng giáo phận đã có từ rất lâu trong lịch sử Giáo Hội.

Bên cạnh lá thư xin việc rất chi tiết, bà còn đính kèm một sơ yếu lý lịch của mình.

Soupa là người đồng sáng lập tổ chức “Hội Nghị Những Người Nói Tiếng Pháp Đã Được Rửa Tội”, gọi tắt là CCBF.

Đơn xin ứng cử chức vụ Tổng Giám Mục của bà đã nhận được hỗ trợ từ nhóm Parole Libérée của François Devaux, là nhóm đã quyết liệt đưa Đức Hồng Y Philippe Barbarin ra tòa về tội “không tố cáo hành vi đối xử tệ bạc với trẻ vị thành niên” của cha Bernard Preynat. Hôm thứ Năm 30 tháng Giêng, 2020, Tòa Phúc Thẩm ở Lyon đã tuyên bố ngài vô tội. Tuy nhiên, sau vụ này Đức Hồng Y đã xin Đức Thánh Cha cho ngài từ chức Tổng Giám Mục Lyon vì theo Đức Hồng Y, ngài muốn anh chị em giáo dân “có thể được nên một”.

Christine Pedotti là khuôn mặt có lẽ mới mẻ. Riêng François Devaux và Anne Soupa thì sự hoang tưởng của họ thiết nghĩ đã quá rõ ràng.


Source:Le Monde

3. Sứ điệp gửi Giáo Hội Công Giáo tại Nga của Đức Thánh Cha Phanxicô

Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi cộng đồng tín hữu Công Giáo tại Nga ngày càng tăng trưởng theo tinh thần Tin mừng, ngoan ngoãn đối với Lời Chúa, được niềm hy vọng linh hoạt và được sức mạnh an ủi của Chúa Thánh Linh nâng đỡ.

Ngài bày tỏ lập trường trên đây, trong sứ điệp gửi Giáo Hội Công Giáo tại Nga, hôm 10/10 vừa qua, nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập bốn miền Giám quản Tông tòa cho các tín hữu Công Giáo Latinh, với tông chiếu ngày 13/4 năm 1991 của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II.

Đức Thánh Cha nhận định rằng: “Điều mà anh chị em cử hành không phải là kỷ niệm những văn kiện pháp lý và những thực tại hình thức, nhưng đúng hơn là nhớ lại với lòng khiêm tốn và biết ơn vì những thiện ích đã nhận được từ Chúa và từ bao nhiêu anh chị em, nâng đỡ trong hành trình.

Đức Thánh Cha cầu mong rằng “việc kỷ niệm này khích lệ toàn thể cộng đoàn Công Giáo tại Liên bang Nga trở thành một hạt giống Tin mừng, trong vui mừng và khiêm tốn, cống hiến một sự trong sáng minh bạch của Nước Chúa. Tôi cầu chúc toàn thể anh chị em là một cộng đoàn tìm kiếm theo ơn gọi hướng đến sự hiệp thông với tất cả, để đơn sơ và quảng đại làm chứng về hồng ân đã nhận lãnh, trong đời sống gia đình và mọi môi trường của cuộc sống hằng ngày”.

Bốn miền Giám quản Tông tòa được Tòa Thánh thành lập năm 1991, sau khi chế độ cộng sản tại Nga sụp đổ là: Mascơva, Novosibirk, Irkutsk và Saratov. Sau đó bốn miền này được nâng lên hàng Tổng giáo phận Mẹ Thiên Chúa ở Mascơva, giáo phận San Clemente ở Saratov nam Nga, giáo phận Chúa Hiển Dung ở Novosibirk, và sau cùng là giáo phận thánh Giuse ở Irkusk, miền đông Nga. Tên của các giáo phận này không được đặt theo địa danh để tránh đụng chạm với Giáo hội Chính thống Nga.

Số tín hữu Công Giáo vào khoảng 790,000 người trên tổng số 145 triệu dân Nga, với tổng cộng 300 giáo xứ và 270 linh mục, đa số là là người nước ngoài.


Source:Catholic News Agency