Tiến sĩ George Weigel là thành viên cao cấp của Trung tâm Đạo đức và Chính sách Công cộng Washington, và là người viết tiểu sử Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Ông vừa có bài viết nhan đề “A modern martyr in the Roman curia”, nghĩa là “Một vị thánh tử đạo thời hiện đại trong giáo triều Rôma”. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.
Khi Đức Tổng Giám Mục Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận, Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, bước vào phòng khách trong văn phòng của ngài tại Palazzo S. Calisto, vị giám mục người Việt Nam nói năng nhỏ nhẹ này không tạo ra hào quang anh hùng — ít nhất là theo cách hiểu của thế giới hiện đại về chủ nghĩa anh hùng. Ngài không phải là Bruce Willis, cũng không phải là Sean Connery. Mọi thứ về con người ngài đều rất khiêm tốn. Tuy nhiên, Đức Tổng Giám Mục là một vị tử đạo đích thực, người thừa kế di sản của thánh Cyprianô và các vị giám mục hiển thánh khác của Giáo hội sơ khai.Trong tám năm, Đức Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận là Giám mục Nha Trang ở miền Trung Nam Việt Nam. Tháng 4 năm 1975, đúng lúc Hoa Kỳ nhượng bộ trước những vi phạm Hiệp định Hòa bình Paris của Bắc Việt Nam, Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục đã bổ nhiệm ngài làm Tổng Giám Mục phó của Sài Gòn. Thành phố nhanh chóng rơi vào tay cộng sản sau đó, và những kẻ chinh phục ngay lập tức cáo buộc rằng việc bổ nhiệm vị Tổng Giám Mục Phó là một phần của âm mưu Vatican-Washington nhằm tổ chức kháng chiến chống lại chế độ mới. Bị bắt vào ngày lễ Đức Mẹ Lên Trời năm 1975, Đức Cha Nguyễn Văn Thuận đã trải qua 13 năm tiếp theo trong tù và trại cải tạo.
Chín năm trong số đó là những năm bị giam giữ biệt lập, chỉ có hai lính canh làm bạn – và họ bị cấm nói chuyện với tù nhân. Chín năm trong một phòng giam bẩn thỉu, hôi hám, ẩm ướt đến nỗi nấm mọc trên giường của tù nhân. Chín năm, như ngài đã viết trong hồi ký, là “sự tra tấn tinh thần, trong sự trống rỗng tuyệt đối, không có việc làm, đi lại trong phòng giam từ sáng đến 9 giờ 30 tối để không bị bệnh viêm khớp hành hạ, ngài đứng bên bờ vực của sự điên loạn.”
Đó là một chế độ được thiết kế để nghiền nát con người, cả về tinh thần lẫn thể xác. Nhưng Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã từ chối bị nghiền nát. Thay vào đó, ngài biến thời gian biệt giam của mình thành một cuộc tĩnh tâm dường như vô tận, và một cơ hội truyền bá Phúc Âm. Ngài cử hành Thánh lễ với ba giọt rượu (một chai rượu được đưa cho ngài như thuốc chữa đau dạ dày) và một bánh thánh được những người ngoài cảm thông lén mang vào. “Đó là những Thánh lễ đẹp nhất trong đời tôi.”
Trước khi bị giam giữ biệt lập trong trại cải tạo, vị Tổng Giám Mục Phó đã cử hành Thánh lễ cho các tù nhân khác trên giường. “Chúng tôi được chia thành từng nhóm 50 người. Chúng tôi ngủ chung giường, mỗi người chỉ được chiếm 50 cm. Chúng tôi sắp xếp sao cho có năm người Công Giáo ngủ cùng tôi. Lúc 9 giờ 30, đèn tắt và mọi người phải đi ngủ. Tôi cuộn tròn trên giường để cử hành Thánh lễ, học thuộc lòng, và tôi ban Thánh Thể, đưa tay xuống dưới màn chống muỗi. Chúng tôi làm những chiếc hộp nhỏ từ giấy gói thuốc lá để đựng Thánh Thể. Chúa Giêsu trong Thánh Thể luôn ở bên tôi trong túi áo. “
Khi cuối cùng ngài cũng thuyết phục được các lính canh bắt chuyện, ngài bắt đầu truyền bá Phúc Âm cho họ. Điều duy nhất họ không hiểu là tình yêu thương. “Ở đây không có lòng tốt, cũng chẳng có tình yêu thương,” một người nói. “Chỉ có trách nhiệm mà thôi.” Nhưng người lính canh đã sai. Dần dần, lòng tốt và tình yêu thương trong sáng đã hun đúc nên Thánh Phanxicô Vi-vít Nguyễn Văn Thuận bắt đầu phá vỡ rào cản của sự thù hận. Ngài dạy các lính canh ngoại ngữ. Ngài bắt đầu dạy giáo lý cho họ. Ngài đã cải đạo: cải đạo về nhân tính, và cải đạo về Kitô giáo.
Cho đến khi đã sang đến Rôma, Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận vẫn đeo một kỷ vật từ thời gian bị giam cầm, có lẽ là chiếc thánh giá đeo ngực gây ấn tượng nhất thế giới. Bản thân chiếc thánh giá được làm từ gỗ mà Đức Tổng Giám Mục đã thuyết phục một người lính canh cho phép ngài đẽo ra từ một khúc gỗ. “Dây xích” của nó được làm từ những đoạn dây điện, loại dây thường được dùng để giăng lưới điện quanh hàng rào trại giam và giúp ngăn chặn vượt ngục. Nhưng Đức Tổng Giám Mục khẳng định, thánh giá và dây xích không chỉ là những kỷ vật gợi nhớ về nhà tù mà còn là biểu tượng cho “niềm tin sâu sắc của tôi… rằng chỉ có tình yêu thương của người Kitô hữu mới có thể thay đổi trái tim con người.”
Do trùng hợp về mặt thời gian, tôi và Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận có cùng một ngày sinh nhật. Nhưng mối liên kết tôi cảm nhận được với ngài vượt lên trên những điều phù phiếm đó. Khi tôi rời khỏi văn phòng của ngài, tôi đã xin ngài ban phước lành. Sau khi ban phước cho tôi, ngài nói: “Giờ thì chúng ta đã thực sự gặp nhau rồi.”
Đức Tổng Giám Mục đã đúng.
Khi lần đầu bắt tay, chúng tôi là hai người đàn ông, một người Việt Nam và một người Mỹ, gắn kết bởi mối quan hệ phức tạp giữa hai quốc gia và cùng chung mối quan tâm đến giáo lý xã hội Công Giáo. Giờ đây, chúng tôi gặp nhau như anh em trong Chúa Kitô, trong một cuộc gặp gỡ báo trước về Nước Trời.
Source:George Weigel