Andrew Cusack, trong bản tin ngày 27 tháng 2, 2026 của The Catholic Herald, nhận định rằng: Chín tháng kể từ khi Hồng Y Robert Prevost bất ngờ được tấn phong làm Giáo hoàng Leo XIV đã cho Giáo hội và thế giới cơ hội hiểu rõ hơn về vị tu sĩ dòng Au-gus-ti-nô khiêm nhường này – người Mỹ đầu tiên ngồi trên ngai vàng cổ xưa của Thánh Phê-rô. Khi còn là giám mục ở vùng nông thôn Peru, Prevost đã chăm sóc giáo dân của mình một cách kín đáo, tránh xa sự chú ý của báo chí hay giới bình luận. Khi ngài xuất hiện trên ban công của Vương cung thánh đường Thánh Phê-rô để ban phước lành đầu tiên với tư cách là giám mục tối cao, những người dự đoán hầu như không có thông tin gì. Đến nay, lời nói và những khoảnh khắc im lặng của Đức Leo, hành động và sự kiềm chế có chủ ý của ngài, đã hé lộ những manh mối về con người, khả năng lãnh đạo và phong cách của triều đại giáo hoàng của ngài.

Trong việc điều hành Giáo hội, triều đại của Đức Leo cho đến nay hoàn toàn trái ngược với vị tiền nhiệm trực tiếp của ngài. Trong khi Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô luôn sẵn sàng nói năng tùy hứng và đưa ra những bình luận bâng quơ trước giới báo chí đang háo hức chờ đợi, thì vị Giáo hoàng mới lại toát lên vẻ điềm tĩnh, cân nhắc. Những lời nói ứng khẩu rất hiếm hoi, cho thấy rằng lời nói của Đức Leo được cân nhắc kỹ lưỡng chứ không phải là tùy tiện. Mặc dù ngài có nói chuyện với các phóng viên trên các chuyến bay đến và đi từ chuyến thăm chính thức tới Thổ Nhĩ Kỳ và Lebanon, nhưng nhìn chung Đức Leo đã tránh xa hình ảnh Giáo hoàng bị giới săn tin săn đón như thời Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô.

Đã có những trục trặc nhỏ trên con đường này. Tháng 9 năm ngoái, Đức Leo đã bị bất ngờ khi bị một phóng viên chất vấn về kế hoạch của Hồng Y Cupich trao giải thưởng trọn đời thành tựu cho Thượng nghị sĩ Dick Durbin, người ủng hộ mạnh mẽ việc phá thai, đến từ bang Illinois quê hương của Giáo hoàng, dựa trên những đóng góp của ông này trong cải cách nhập cư. Đức Leo rõ ràng không hề biết về giải thưởng này, thừa nhận rằng ngài "không thực sự quen thuộc với trường hợp đặc thù" và tiếp tục bày tỏ quan điểm, cho biết việc giải quyết các vấn đề liên quan đến sự sống trong chính trị có thể vô cùng phức tạp. Sau vài ngày, một giải pháp cho cuộc khủng hoảng đã được tìm ra, theo đó Thượng nghị sĩ Durbin quyết định sẽ không nhận giải thưởng, nhưng quyết định ban đầu của Cupich và câu hỏi của phóng viên rõ ràng đã khiến Đức Giáo Hoàng bối rối.

Cả Đức Leo lẫn vị tiền nhiệm của ngài đều mang nét bất nghi thức– nhưng theo những cách rất khác nhau. Tính bất nghi thức của Đức Phan-xi-cô dường như được trau chuốt với chủ đích và mục tiêu, trong khi tính bất nghi thức của Đức Leo có vẻ tự nhiên và không gượng ép. Điều này cho phép Đức Leo tái khẳng định sự dè dặt của Giáo hoàng mà không tỏ ra lạnh lùng hay xa cách, đồng thời khiến một số người theo dõi Vatican khó hiểu được ngài. Vị Giáo hoàng người Argentina đã dành trọn vẹn sức mạnh cá tính của mình cho triều đại giáo hoàng, trong khi vị kế nhiệm người Mỹ của ngài nghiêng nhiều về việc dành ưu tiên cho thẩm quyền định chế của chức vụ hơn là cá tính riêng trong các hoạt động công khai.

Một sự thay đổi quan trọng hơn có thể nằm ở bầu không khí tâm lý nội bộ của Giáo hội khi phản ứng lại điều đó, chứ không hẳn ở nhân cách của vị Giáo hoàng. Khi trò chuyện với các giáo sĩ ở tuyến đầu của đời sống giáo xứ, người ta liên tục bắt gặp một từ mà một năm trước đây được sử dụng rất ít: cảm thấy nhẹ nhõm. Sự bất ổn trong những năm cầm quyền của Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô đôi khi gây hoang mang cho các tín hữu và làm nhiều linh mục phải gánh chịu hậu quả khi những phát ngôn tùy hứng với các nhà báo bị soi mói và chú ý quá mức.

Tệ hơn nữa là việc in ấn những điều mà ngài hoàn toàn không nói. Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô đã nhất quyết trả lời phỏng vấn nhiều lần nhà báo Eugenio Scalfari, một người theo chủ nghĩa vô thần kỳ cựu của báo chí Ý và là một trong những người đồng sáng lập nhật báo cánh tả La Repubblica. Sau khi cuộc phỏng vấn đầu tiên được công bố, văn phòng báo chí Vatican buộc phải thừa nhận có sai sót trong ghi chép của nhà báo về cuộc gặp gỡ. Scalfari thừa nhận ông không ghi chép cũng không ghi âm trong suốt cuộc phỏng vấn. Thật khó để lý giải quyết định của Đức Phan-xi-cô khi trả lời thêm nhiều cuộc phỏng vấn (có lẽ không được ghi âm) của Scalfari – bao gồm cả một cuộc phỏng vấn trong đó phóng viên tuyên bố Giáo hoàng Phanxicô đã nghi ngờ sự tồn tại của địa ngục – là gì khác ngoài sự bất cẩn tột độ.

Cảm thức nhẹ nhõm mà giới giáo sĩ thể hiện không phải xuất phát từ chiến thắng về mặt tư tưởng mà là từ sự giảm bớt bất ổn. Những tháng đầu tiên của Đức Leo trùng với giai đoạn có thể gọi là giảm áp – hạ thấp áp lực định chế sau một thập niên sống trong cường độ hùng biện và quản lý cao độ. Sự tinh tế trong giọng điệu đóng vai trò lớn trong sự điều chỉnh lại này.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô thường nói về chức linh mục bằng những lời lẽ mang tính sửa sai với một thái độ tiêu cực, khiển trách – cảnh báo chống lại chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa giáo sĩ, sự cứng ngắc hoặc sự thế tục hóa tâm linh. Những lời chỉ trích không phải là không có cơ sở, nhưng tác động tích lũy của chúng đối với nhiều linh mục trung thành đã gây nên mệt mỏi. Đức Leo đã áp dụng một giọng điệu khác biệt rõ rệt, như được chứng minh trong bức thư tháng 2 năm 2026 gửi cho giáo sĩ Madrid, trong đó ngài so sánh chức linh mục với nhà thờ chính tòa của thủ đô Tây Ban Nha.

Đức Thánh Cha viết: “Bằng cách chiêm ngưỡng mặt tiền của nó, chúng ta đã học được một điều thiết yếu. Đó là điều đầu tiên người ta nhìn thấy, nhưng nó không nói lên tất cả: nó chỉ ra, nó gợi ý, nó mời gọi. Cũng theo cách đó, vị linh mục không sống để phô trương, nhưng cũng không sống để che giấu. Cuộc sống của ngài được kêu gọi để trở nên hữu hình, mạch lạc và dễ nhận biết, ngay cả khi không phải lúc nào cũng được thấu hiểu. Vẻ bề ngoài không tồn tại vì chính nó: nó dẫn vào bên trong. Cũng vậy, vị linh mục không bao giờ tự ngài là mục đích. Toàn bộ cuộc đời của ngài được kêu gọi quy về Chúa và đồng hành cùng con đường hướng tới Mầu nhiệm, mà không chiếm đoạt vị trí của nó.”

Đức Giáo Hoàng đã phát triển chủ đề của ngài hơn nữa, mô tả các đặc điểm kiến trúc khác nhau của nhà thờ chính tòa và cách chúng phù hợp với bản chất của chức linh mục và đời sống của Giáo hội. Khi nói về các linh mục, Đúc Leo có xu hướng nói với thái độ khích lệ hơn là khiển trách – trình bày vẻ đẹp của ơn gọi mà không ngây thơ về những nguy hiểm của nó.

Việc cân bằng lại giọng điệu này rất quan trọng bởi vì chức linh mục vốn dĩ đã là một ơn gọi dễ bị tổn thương. Các giáo sĩ sống cuộc đời hy sinh công khai trong những nền văn hóa mà ở mức tốt nhất là thờ ơ và ở mức tệ nhất là công khai thù địch với vai trò của họ. Khi các linh mục cảm thấy mình bị lãnh đạo giáo hội nghi ngờ về mặt ngôn từ, tinh thần sẽ nhanh chóng suy giảm. Một linh mục mà tôi đã nói chuyện mô tả hiện tượng này tương tự như những thất bại trong hôn nhân: sự khinh miệt, chứ không phải xung đột công khai, là dấu hiệu chắc chắn nhất của sự đổ vỡ. Ngay cả những nhận xét đôi khi của Giáo hoàng dường như chế giễu động cơ của các linh mục cũng có tác động tâm lý không cân xứng trong thời đại kết nối tốt đẹp của chúng ta. Ngược lại, ngôn ngữ của Đức Leo đã khôi phục lại giả định về thiện chí và chức linh mục như một điều đáng trân trọng và tôn vinh.

Điều này không có nghĩa là Đức Leo không quan tâm đến cải cách hoặc mù quáng về những sai phạm của giáo sĩ, nhưng dường như ngài tin rằng sự đổi mới linh mục bắt đầu bằng sự tin tưởng hơn là sự trừng phạt. Theo nghĩa này, ngài ít giống một nhà thuyết giáo chẩn đoán hơn là một nhà thuyết giáo đào luyện. Ngài không sở hữu sự uyên bác về thần học sâu sắc như Đức Bê-nê-đic-tô XVI, nhưng ngài thể hiện một chiều sâu suy tư đáng chú ý.

Phần lớn Giáo hội tiếp tục đối diện với thách thức về số lượng thấp dai dẳng khi nói đến việc thu hút và nuôi dưỡng ơn gọi linh mục. Tây Âu và Bắc Mỹ tiếp tục trải qua sự suy giảm, trong khi một số khu vực ở Châu Phi và Châu Á cho thấy khả năng dễ phục hồi hoặc tăng trưởng. Các triều đại giáo hoàng trước đây đã tạo ra những hiệu ứng tinh thần rõ rệt - một “hiệu ứng Bê-nê-đic-tô” khiêm tốn ở một số giáo phận, tiếp theo là “hiệu ứng Phan-xi-cô” phức tạp hơn, tiếp thêm năng lượng cho diễn ngôn truyền giáo nhưng đôi khi làm xáo trộn các con đường đào tạo chủng viện truyền thống. Còn quá sớm để xác định “hiệu ứng Leo”, nhưng các giám đốc ơn gọi và hiệu trưởng chủng viện sẽ theo dõi sát sao. Cần thời gian để hình thành và nuôi dưỡng ơn gọi linh mục. Có thể hiểu được, sự tự tin về ơn gọi thường chậm hơn so với giọng điệu của giáo hoàng vài năm, và trong thời kỳ của Đức Phan-xi-cô, các dòng tu thường thành công hơn các giáo phận trong việc tuyển mộ người trẻ.

Song song với việc giảm bớt lo lắng của giới giáo sĩ là sự giảm bớt căng thẳng phe phái trong Giáo hội. Trong thập niên qua, lòng trung thành với Giáo hoàng đóng vai trò như một sự thay thế cho bản sắc Giáo hội. Người Công Giáo nói, chỉ nửa đùa nửa thật, về “những người Công Giáo theo Phanxicô” và những người phản đối họ. Đức Leo định nghĩa triều đại giáo hoàng của ngài không như sự tiếp nối của người tiền nhiệm trực tiếp cũng không phải là sự bác bỏ nó. Hành động như một “người cha trung dung” điềm tĩnh của các giáo hoàng đã phủ nhận cả sự phân cực đối với những người ngưỡng mộ và chỉ trích Đức Phan-xi-cô, điều làm suy yếu sức khỏe và sự hiệp nhất của Thân Thể Chúa Kitô.

Điều này thể hiện rõ nhất trong việc xử lý các căng thẳng phụng vụ. Vấn đề về Hình thức Ngoại thường, vốn gây tranh cãi gay gắt trong những năm gần đây, vẫn chưa biến mất, nhưng nó cũng không chi phối triều đại ban đầu của Đức Leo. Không có sự tái xem xét kịch tính nào về các hạn chế, cũng không có mong muốn leo thang về mặt pháp lý. Nhiệt độ chỉ đơn giản là được phép giảm xuống. Một số giám mục đã giải thích điều này không phải như sự thờ ơ mà là lời mời gọi hướng đến một cách quản lý vấn đề mang tính mục vụ hơn là ý thức hệ.

Hội Thánh Piô X vẫn là vấn đề chưa được giải quyết gây nhiều tranh cãi nhất. Triều đại của Đức Phanxicô đã chứng kiến cả tiến bộ và thụt lùi trong nỗ lực xóa bỏ tình trạng bất thường và không chính thống của Hội. Sự bất thường đó vẫn chưa được giải quyết, và những phản đối liên tục của họ đối với phụng vụ hậu Công đồng Vatican II làm phức tạp thêm bất cứ sự dàn xếp nào. Bản năng của Đức Giáo Hoàng Leo dường như mang tính hòa giải – về bản chất, ngài là người xây dựng cầu nối – nhưng viễn cảnh các cuộc tấn phong giám mục bất hợp pháp tiếp theo của Hội là một thách thức nghiêm trọng đối với triều đại giáo hoàng mới. Cách ngài hành động ở đây sẽ cho thấy rõ nhất mô hình giải quyết xung đột của ngài: liệu sự thống nhất được theo đuổi thông qua sự nhượng bộ từng bước, sự rõ ràng về mặt pháp lý, lòng quảng đại không dè dặt hay sự bế tắc kiên nhẫn.

Việc lựa chọn Erik Varden – tu sĩ dòng Trappist và Giám mục Trondheim – để dẫn dắt các buổi tĩnh tâm Mùa Chay năm nay cho Giáo triều Rôma là một trong những dấu hiệu tiết lộ rõ ràng nhất cho đến nay về khuynh hướng phụng vụ của Đức Giáo Hoàng Leo. Là người Na Uy bản xứ, Varden gia nhập Giáo hội khi còn là thiếu niên đang theo học tại Cambridge, nơi ông ở lại để hoàn thành bằng tiến sĩ thần học trước khi gia nhập Đan viện Trappist Mount Saint Bernard ở Leicestershire vào năm 2002.

Vị đan sĩ đa tài này sau đó đã giảng dạy tiếng Syriac, lịch sử đan viện và nhân học Kitô giáo tại Viện Anselmianum ở Rome, cũng như nghiên cứu âm nhạc dưới sự hướng dẫn của chuyên gia thánh ca Gregorian quá cố Mary Berry. Năm 2015, ngài được bầu làm viện phụ của Mount Saint Bernard, nhưng đã được triệu hồi về quê hương vào năm 2019 để phục vụ với tư cách là giám mục của giáo phận Trondheim. Trong vai trò đó, cũng như trong sự nghiệp đan viện của ngài, Varden đã chứng tỏ là một người ủng hộ thân thiện cho các tín hữu gắn bó với các nghi lễ truyền thống của phụng vụ Giáo hội.

Varden không phải là một người bảo thủ theo chủ nghĩa thắng thế. Ngài dễ dàng hòa nhập vào các vòng tròn đại kết và năm ngoái đã có một bài suy niệm Mùa Chay về sự đau khổ theo lời mời của Nhà thờ Thánh Phaolô thuộc Giáo hội Anh ở London. Các giám mục anh em của ngài trên khắp Scandinavia cũng chứng thực tính hiệp đoàn của ngài, khi bầu Varden làm chủ tịch Hội đồng Giám mục Bắc Âu. Việc một nhân vật công khai ủng hộ những người theo chủ nghĩa truyền thống lại được chọn để thuyết giảng những suy tư cho các giáo sĩ cấp cao nhất của Vatican là điều đáng chú ý – đồng thời cũng phản ảnh phong cách cai trị ôn hòa và ngoại giao hơn của vị giáo hoàng đương nhiệm.

Nếu lập trường tu từ của Đức Leo không hề mang tính đối đầu, thì vẫn là một sai lầm khi nhầm lẫn sự ôn hòa trong giọng điệu với sự linh hoạt về giáo lý. Những người thân cận với ngài mô tả một người không thích những màn kịch chiến tranh văn hóa nhưng hoàn toàn sẵn sàng bảo vệ các ranh giới giáo lý khi bị thúc ép.

Trong việc diễn giải Công đồng Vatican II, Đức Leo đã áp dụng một phương pháp giải thích phù hợp chặt chẽ với luận điểm về tính liên tục của Đức Bê-nê-đic-tô XVI. Ngài trích dẫn vị giáo hoàng người Bavaria thường xuyên hơn Đức Phan-xi-cô trong các bối cảnh nói về công đồng, gợi lên sự phát triển hơn là sự đứt gãy. Những trích dẫn này và tư duy đằng sau chúng có tiềm năng phát triển thành một sáng kiến giáo lý nhằm khôi phục Công đồng Vatican II khỏi cả sự bác bỏ phản động và sự mở rộng quá mức theo hướng tiến bộ, neo giữ Công đồng trong vòng cung giáo lý dài hạn hơn của Giáo hội.

Đức vẫn là chiến trường tiềm tàng nhạy cảm nhất về mặt cấu trúc. Các đề xuất của “Con đường đồng nghị” của Đức – liên quan đến quản trị, tình dục và thần học bí tích – không chỉ đặt ra các vấn đề kỷ luật mà còn cả các vấn đề giáo hội học. Những đề xuất trước đây được đưa ra bởi tiến trình này – và được một số giám mục chấp thuận – bao gồm việc cho phép những người Công Giáo ly hôn và tái hôn, cũng như những người Tin Lành kết hôn với người Công Giáo, được rước lễ; chúc phúc cho các “kết hợp” không truyền thống không đủ tính hợp lệ của hôn nhân; và thậm chí xem xét lại việc cho phép phụ nữ tham gia vào chức vụ linh mục.

Công bằng mà nói với Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô, phản ứng của ngài đối với những đề xuất này rất khác nhau, từ việc bác bỏ rõ ràng đến việc phản đối kiên quyết và thẳng thừng. Sự lãnh đạo của Giáo hoàng dường như không tạo ra được sự rõ ràng hơn trong suy nghĩ của giáo dân tự do tham gia vào tiến trình đồng nghị của Đức và các giám mục ủng hộ họ. Mặc dù Tổng Giám mục Woelki của Cologne tuyên bố rằng, đối với ngài, Con đường đồng nghị đã “kết thúc”, nhưng đại hội cuối cùng của dự án đã bỏ phiếu thành lập một hội đồng thường trực mới gồm giáo dân và giám mục để củng cố tiến trình này vào cấu trúc tổ chức của Giáo hội tại Đức. Đề xuất này đang chờ sự chấp thuận hoặc bác bỏ của Vatican.

Đức Giáo Hoàng Leo đã cho thấy sự sẵn sàng nói thẳng thắn một cách bất thường khi tính toàn vẹn về giáo lý được cho là đang bị đe dọa. Trong bài phát biểu trên chuyến bay trở về từ phía đông Địa Trung Hải, ngài đã nói về sự cần thiết phải đảm bảo rằng Con đường đồng nghị “không… tách rời khỏi những gì cần được coi là con đường của Giáo hội hoàn vũ” – ngôn ngữ thẳng thắn hơn so với cách nói thường thấy của ngài. Điều này báo hiệu rằng mặc dù ngài thích giảm leo thang căng thẳng, nhưng ngài sẽ không dung túng cho sự phân mảnh giáo lý.

Cải cách hành chính, đặc biệt là tính minh bạch tài chính, vẫn là một kỳ vọng gắn liền với việc xuất thân là người Mỹ của Đức Giáo Hoàng Leo. Danh tiếng về sự nghiêm khắc trong quản lý thường – nhưng không phải lúc nào cũng – đi kèm với giới lãnh đạo giáo hội Mỹ vẫn chưa được chuyển thành những cải cách nổi bật. Quản trị tài chính dường như xếp sau các ưu tiên khác, và những người ủng hộ tính minh bạch trước đây như cố Hồng Y Pell đã bị những người có điều gì đó che giấu làm cho tổn hại nghiêm trọng.

Một thách thức khác có thể nảy sinh trong những năm tới của triều đại Giáo hoàng Leo là vấn đề bản sắc định chế Công Giáo. Từ thời gian ở Peru, Đức Giáo Hoàng Leo hẳn đã biết đến trường hợp của Đại học Công Giáo Giáo hoàng Peru ở Lima. Vào những năm 2010, trường đại học với 20,000 sinh viên này đã bị thanh tra vì không thực hiện tông huấn Ex Corde Ecclesiae năm 1991 của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Trường đã bị tước bỏ tư cách giáo hoàng và Công Giáo trong bốn năm, cho đến năm 2016, và những tranh chấp cơ bản vẫn chưa được giải quyết hoàn toàn.

Tại Hòa Lan, Đại học Radboud – được thành lập vào những năm 1920 với tư cách là trường đại học Công Giáo đầu tiên của Hòa Lan kể từ cuộc Cải cách – cũng phải đối mặt với sự giám sát về bản sắc Công Giáo của mình. Năm 2020, các giám mục Hòa Lan đã xung đột với trường đại học này về việc bổ nhiệm thành viên hội đồng quản trị. Các giám mục cho rằng những tổ chức này không đủ tính Công Giáo, vì lo sợ sự xói mòn của một thể chế mà họ đã bảo trợ từ lâu. Khi đối thoại thất bại, các giám mục đã tước bỏ tư cách Công Giáo của định chế này, mặc dù một kháng cáo lên Rome đã giúp khôi phục lại danh hiệu này vào năm 2022.

Ở cả Peru lẫn Hòa Lan, các thỏa thuận chính thức đã che giấu những căng thẳng chưa được giải quyết, cho thấy danh hiệu Công Giáo trở nên mong manh như thế nào khi trách nhiệm giải trình về giáo lý suy yếu. Nếu những trường hợp này hoặc các trường hợp khác xảy ra, Vatican của Đức Leo sẽ phải đối diện với một tình thế khó xử quen thuộc: thực thi bản sắc và đối diện với nguy cơ đổ vỡ, hoặc dung thứ cho sự trôi dạt và đối diện với nguy cơ pha loãng. Nếu không có trường hợp thử nghiệm nào phát sinh, các địnhh chế có thể phải giữ lại danh xưng Công Giáo trong khi tiếp tục làm suy yếu bản chất của chúng.

Các trường học phải đối diện với một cuộc khủng hoảng liên quan, thực tế hơn: sự thiếu hụt giáo viên và lãnh đạo Công Giáo có khả năng truyền đạt Đức tin một cách thuyết phục. Đức Leo đã định hình giáo dục chủ yếu theo các thuật ngữ nhân học hơn là ý thức hệ, khẳng định lại trong một tông thư năm ngoái rằng gia đình là nơi hình thành chính yếu. Tuy nhiên, nhiều trường học và các định chế giáo dục khác thuộc Giáo hội vẫn được tôn trọng rộng rãi nhưng được coi là đối tác của cha mẹ trong việc nuôi dạy thế hệ Công Giáo tiếp theo. Tầm nhìn tương lai đầy rẫy những điểm nóng tiềm tàng trên khắp các châu lục: kiện tụng về tự do tôn giáo, quyền tự chủ giáo dục, quy định về đạo đức sinh học và các tranh chấp chính trị về giới tính.

Tại Giáo triều La Mã, Đức Giáo Hoàng Leo phần lớn vẫn giữ nguyên nhân sự mà ngài thừa hưởng từ Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô. Từng giữ chức vụ trưởng Bộ Giám mục, ngài đã bổ nhiệm Tổng Giám mục Filippo Iannone – một luật sư giáo luật và luật gia kỳ cựu của Vatican – làm người kế nhiệm, cho thấy sự sẵn sàng dựa vào những người có năng lực trong nội bộ.

Ngài cũng tiếp tục thông lệ của Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô trong việc nâng cao vị thế của phụ nữ trong đời sống tu sĩ lên các chức vụ cao cấp trong Giáo triều, bổ nhiệm Sơ Tiziana Merletti làm thư ký Bộ Các Viện Tu viện, làm việc cùng với Sơ Simona Brambilla.

Hầu hết các chức vụ quan trọng vẫn nằm trong tay những người được Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô bổ nhiệm: Hồng Y Parolin tại Phủ Quốc vụ khanh; Hồng Y Fernández tại Bộ Giáo lý Đức tin; Hồng Y Roche tại Bộ Phụng vụ Thánh; và Hồng Y Czerny tại Bộ Phát triển Con người Toàn diện. Ngồi cạnh họ là Matteo Bruni, người gốc Anh, đứng đầu văn phòng báo chí của Vatican – một người nói tiếng Anh bản ngữ, sự hiện diện của ông mang lại những lợi thế thiết thực cho một vị Giáo hoàng người Mỹ.

Theo Tông hiến Praedicate Evangelium, các lãnh đạo Giáo triều sẽ đệ đơn từ chức khi họ đạt đến tuổi 75. Czerny sắp bước sang tuổi 80 và Roche đã đạt đến ngưỡng này vào năm ngoái, trong khi Parolin và Fernández trẻ hơn. Cách Đức Leo xử lý các vai trò này – có thể sau kỳ nghỉ hè tại Castel Gandolfo – sẽ cho thấy dấu hiệu ban đầu về bản năng lãnh đạo của ngài.

Quốc vụ viện vẫn là thế lực mạnh nhất của Giáo triều. Parolin được hỗ trợ bởi phó thư ký Edgar Peña Parra và bộ trưởng ngoại giao, Tổng giám mục Paul Gallagher. Parolin đã giúp xây dựng thỏa thuận năm 2018 giữa Vatican và Bắc Kinh về việc bổ nhiệm giám mục, một thỏa thuận không rõ ràng dự kiến sẽ được gia hạn vào năm 2028. Lập trường của Đức Leo đối với Trung Quốc vẫn còn khó đoán, mặc dù việc thực hiện sớm một cuộc tái cấu trúc giáo phận ở Trung Quốc được lên kế hoạch trong nhiệm kỳ Giáo hoàng của Đức Phan-xi-cô cho thấy sự tiếp nối vào lúc này.

Những bổ nhiệm cấp trung gần đây trong Quốc vụ viện – được cho là thực hiện mà không có sự ủng hộ của Peña Parra hay Gallagher – đã làm dấy lên những đồ đoán về những thay đổi trong tương lai. Những người kế nhiệm họ sẽ giúp định hình hướng đi của bộ phận quyền lực nhất của Vatican.

Về mặt ngoại giao và quốc tế, kế hoạch đi lại của Giáo hoàng sẽ có trọng lượng. Một chuyến thăm Argentina sẽ là một cử chỉ thể hiện sự tiếp nối mục vụ đối với quê hương của Đức Phan-xi-cô và có lẽ là một hành động hòa giải tinh tế với các nhóm tín hữu ở đó, những người cảm thấy bị vị Giáo hoàng quá cố bỏ quên. Ngược lại, một chuyến thăm sớm tới Hoa Kỳ đã bị loại trừ, có lẽ để tránh làm lu mờ các lễ kỷ niệm 250 năm Tuyên ngôn Độc lập, nhưng cũng để tránh việc Giáo hoàng bị coi là nghiêng về mặt địa chính trị đối với quê hương của người đương nhiệm.

Nhìn chung, những điều này cho thấy năm đầu tiên của Đức Giáo Hoàng Leo không hề mang tính cách mạng – hay phản động – về nội dung, nhưng mọi việc đang diễn ra chậm rãi và lặng lẽ. Không có sự đảo ngược giáo lý sâu rộng, không có cuộc thanh trừng định chế kịch tính, không có thông điệp tuyên ngôn nào định nghĩa lại hướng đi của Giáo hội. Thay vào đó, đã có sự thay đổi về tâm trạng và giọng điệu: thẩm quyền được thực thi một cách lặng lẽ và xung đột được xoa dịu thay vì bùng lên.

Có thể dễ dàng nhầm lẫn điều này với sự trì trệ, đặc biệt là đối với các nhà bình luận đã quen với thời kỳ năng động của Giáo hoàng. Tuy nhiên, lịch sử của Giáo hoàng cho thấy rằng các giai đoạn ổn định thường đi trước cải cách cấu trúc. Trước khi một vị Giáo hoàng có thể hành động quyết đoán, ngài phải làm cho Giáo hội dễ quản lý. Đức Leo dường như hiểu điều này theo bản năng. Ngài đã làm chậm nhịp độ không nhất thiết vì ngài thiếu tầm nhìn, mà vì ngài nhận ra rằng chính nhịp độ đó đã trở nên gây bất ổn.

Những năm tới sẽ thử nghiệm xem liệu “triều đại giáo hoàng chậm rãi” này có thể chuyển hóa bầu không khí thành kiến trúc của đời sống Giáo hội hay không. Việc các thành viên giáo triều nghỉ hưu và việc lựa chọn người kế nhiệm sẽ cho thấy bản năng nhân sự của ngài. Cách xử lý Hội Thánh Pi-ô X sẽ chứng minh mô hình giải quyết xung đột của ngài. Tính đồng nghị của Giáo hội Đức gần như chắc chắn sẽ kiểm tra những giới hạn giáo lý của ngài.

Sau một thập niên trong đó Giáo hội thường cảm thấy như đang sống trong trạng thái căng thẳng, Đức Leo đã tái thiết lập nhịp điệu, sự dè dặt và một chút không gian để suy gẫm. Liệu sự yên tĩnh đó chỉ là tạm thời hay là nền tảng cho điều gì đó bền vững hơn sẽ quyết định cách lịch sử cuối cùng đánh giá triều đại giáo hoàng của ngài.