Cha Gavan Jennings vừa có bài viết nhan đề “The Iran conflict and the Church’s criteria for a just war,” nghĩa là “Cuộc xung đột Iran và các tiêu chuẩn của Giáo hội về một cuộc chiến chính nghĩa.” Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.

Câu nói “sự thật là nạn nhân đầu tiên của chiến tranh” thường được tường trình của nhà soạn kịch Hy Lạp cổ đại Aeschylus. Có lẽ ông ấy nên nói rằng sự thật là nạn nhân đầu tiên của lý trí. Không gì khuấy động cảm xúc của con người hơn là cảnh tượng những khí tài chiến tranh hiện đại nhất: máy bay chiến đấu F-35, hỏa tiễn siêu thanh, bom MOAB và những thứ tương tự, hoặc khi kẻ thù cuối cùng cũng bị đánh bại. Chính vào những lúc như thế này, lý thuyết chiến tranh chính nghĩa kinh điển, được xây dựng bởi Thánh Augustinô, Thánh Thomas Aquinas và Trường phái Salamanca của Tây Ban Nha, cùng nhiều người khác, chứng tỏ là một kho báu đối với Giáo hội, giúp chúng ta suy nghĩ thấu đáo về chiến tranh.

Lý thuyết về chiến tranh chính nghĩa này chi phối đoạn 2309 của Giáo lý Công Giáo và các 'điều kiện nghiêm ngặt' đòi hỏi 'sự cân nhắc kỹ lưỡng' trước khi lực lượng quân sự phòng vệ có thể được sử dụng một cách hợp pháp. Bốn điều kiện này về cơ bản là: chính nghĩa, biện pháp cuối cùng, khả năng thành công và tính tương xứng.

Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Hoa Kỳ và Israel phát động một chiến dịch quân sự chung chống lại Iran, được đặt tên là “Chiến dịch Cuồng nộ Vĩ đại”. Trong các cuộc tấn công ban đầu, họ đã thực hiện 900 cuộc không kích nhắm vào hỏa tiễn, hệ thống phòng không, cơ sở hạ tầng quân sự và các địa điểm lãnh đạo của Iran, giết chết nhà lãnh đạo tối cao của Iran, Ali Khamenei, cùng với các quan chức khác.

Thế giới đang trong tình trạng bất ổn. Chúng ta hy vọng rằng các nhà lãnh đạo của Hoa Kỳ và Israel biết họ đang làm gì, bởi vì, như đoạn 2309 đã nêu: “Việc đánh giá các điều kiện này về tính hợp pháp đạo đức thuộc về phán đoán thận trọng của những người có trách nhiệm đối với lợi ích chung.” Phán đoán thận trọng đòi hỏi phải cân nhắc tất cả các thông tin liên quan hiện có về một hành động được đề xuất – những thông tin mà chúng ta, những người dân thường, phần lớn không được biết đến. Với sự phức tạp đáng kinh ngạc của các vấn đề địa chính trị và quân sự xung quanh chiến tranh, rất khó để đạt được sự chắc chắn tuyệt đối về tính hợp pháp hay không hợp pháp của một hành động quân sự cụ thể, và do đó, phán đoán của chúng ta luôn bị hạn chế bởi sự thiếu hiểu biết này.

Tuy nhiên, có lẽ sẽ hữu ích nếu xem xét những gì một số nhà bình luận Công Giáo hàng đầu đã nói về cuộc chiến này, dưới ánh sáng của “các điều kiện nghiêm ngặt” được nêu trong Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo.

Về yêu cầu phải có lý do chính đáng – rằng “thiệt hại do kẻ xâm lược gây ra cho quốc gia hoặc cộng đồng các quốc gia phải là lâu dài, nghiêm trọng và chắc chắn” – thì không có gì nghi ngờ rằng Iran đã gieo rắc hỗn loạn khắp Trung Đông và xa hơn nữa thông qua các nhóm khủng bố ủy nhiệm của mình như Hamas, Hezbollah và Houthi, mặc dù nạn nhân của chúng thường là Israel chứ không phải Hoa Kỳ, và Israel hoàn toàn có khả năng tự bảo vệ mình, như Edward Feser đã chỉ ra. Tuyên bố của Tổng thống Trump rằng “mục tiêu của chúng ta là bảo vệ người dân Mỹ bằng cách loại bỏ các mối đe dọa sắp xảy ra từ chế độ Iran” dường như là hơi cường điệu.

Hồi tháng 7, George Weigel đã ủng hộ các cuộc tấn công vào cơ sở hạ tầng hạt nhân của Iran, nói rằng “việc tước đoạt khả năng hủy diệt to lớn của vũ khí hạt nhân khỏi chế độ Iran là điều bắt buộc, cả về mặt đạo đức và chiến lược. Trong trường hợp này, khi ngoại giao rõ ràng đã thất bại, nhiều hình thức gây hấn đang diễn ra, và ý định của chế độ khá rõ ràng, việc tấn công phủ đầu là có thể biện minh về mặt đạo đức, ngay cả khi kết quả trung và dài hạn của hành động chính đáng đó hiện chưa thể biết chắc chắn.”

Tuy nhiên, người ta tự hỏi liệu mối đe dọa hành động hạt nhân từ Iran có xa vời hơn là gần gũi hay không, trong trường hợp đó, hành động của Mỹ và Israel có vẻ mang tính phòng ngừa (loại bỏ mối đe dọa tiềm tàng trong tương lai) hơn là tấn công phủ đầu (đáp trả một cuộc tấn công sắp xảy ra), hành động sau có thể biện minh được về mặt đạo đức nhưng hành động trước lại tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến tình trạng hỗn loạn toàn cầu, như Đức Hồng Y Pietro Parolin, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh, đã chỉ ra gần đây.

Và liệu hành động quân sự này có phải là biện pháp cuối cùng hay không? Liệu nó chỉ diễn ra sau khi “tất cả các phương tiện khác để chấm dứt tình trạng này... đều được chứng minh là không khả thi hoặc không hiệu quả”, như điều kiện thứ hai quy định? Điều này còn gây tranh cãi, mặc dù Robert Royal cho rằng hành động quân sự đã được biện minh bởi sự thất bại của “hàng thập niên đối thoại với Iran” của thế giới trong việc ngăn chặn nước này “phát triển hỏa tiễn tầm xa, làm giàu uranium và tài trợ khủng bố - trong suốt nửa thế kỷ”.

Chúng ta chỉ có thể giả định rằng liên minh Mỹ-Israel đã tin chắc trước khi hành động rằng “triển vọng thành công” – đó là điều kiện thứ ba được nêu trong Giáo lý Công Giáo - thực sự tồn tại, ngay cả khi định nghĩa về “thành công” có vẻ hơi mơ hồ. Có vẻ như có một số tiêu chuẩn để đo lường thành công: phá hủy khả năng sản xuất và triển khai vũ khí hạt nhân của Iran; phá hủy chương trình hỏa tiễn đạn đạo và hải quân của Iran; làm giảm khả năng tài trợ và cung cấp cho các lực lượng ủy nhiệm của Iran; và cuối cùng là giải phóng người dân Iran khỏi ách thống trị thần quyền.

Nhưng dường như cuộc chiến này ít đáp ứng điều kiện về tính tương xứng nhất, tức là “việc sử dụng vũ khí không được gây ra những tai họa và rối loạn nghiêm trọng hơn tai họa cần phải loại bỏ”. Việc đánh giá tính tương xứng dựa trên việc xem xét những hậu quả có thể dự đoán được. Có lẽ không khó để dự đoán được ít nhất một số hỗn loạn có thể phát sinh từ hành động quân sự này.

Khi tôi viết những dòng này, chỉ hơn một tuần sau cuộc hành động quân sự chống lại Iran, Trung Đông đang trong tình trạng hỗn loạn, giá dầu thế giới tăng vọt và – một cách đáng ngại – Vladimir Putin đã tuyên bố “ủng hộ tuyệt đối” nhà lãnh đạo mới của Iran. Trong buổi đọc kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật ngày 8 tháng 3, Đức Giáo Hoàng Lêô cảnh báo rằng “ngoài những vụ bạo lực và tàn phá, cũng như bầu không khí thù hận và sợ hãi lan rộng, còn có mối lo ngại rằng xung đột sẽ lan rộng và các quốc gia khác trong khu vực, bao gồm cả Li Băng thân yêu, có thể lại rơi vào tình trạng bất ổn”.

Chúng ta không lắng nghe những lời cảnh báo đó sẽ phải trả giá đắt, và thật không may là chúng ta đã từng trải qua điều này trước đây. Việc lật đổ chế độ Saddam Hussein ở Iraq năm 2003 đã gây ra nhiều tai họa hơn là những gì giải quyết được: một cuộc nội chiến giáo phái ở Iraq (2006–2008) với hàng chục ngàn người thiệt mạng, sự trỗi dậy của ISIS, sự bành trướng ảnh hưởng của Iran ở Trung Đông và sự di cư của phần lớn người Kitô hữu khỏi Iraq – một trong những sự sụp đổ lớn nhất của các cộng đồng Kitô giáo ở Trung Đông kể từ thời cổ đại. Nổi tiếng là Tòa Thánh, dưới thời Giáo hoàng Thánh Gioan Phaolô II, đã kịch liệt phản đối cuộc xâm lược do Mỹ dẫn đầu và dự đoán được phần lớn kết quả của nó.

Sách Giáo lý Công Giáo nói đúng khi cho rằng hành động quân sự phòng thủ luôn đòi hỏi sự “cân nhắc kỹ lưỡng” trước khi tiến hành, và khi hậu quả của cuộc tấn công vào Iran bắt đầu bộc lộ, cá nhân tôi có một linh cảm không tốt rằng chúng ta có thể đang chứng kiến sự lặp lại của thảm họa năm 2003.


Source:Catholic Herald