1. Tại đấu trường Rôma, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV kêu gọi các tín hữu hãy “sống cuộc đời mình như một cuộc hành trình” trong tình yêu của Chúa Kitô.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV kêu gọi các tín hữu “hãy sống cuộc đời mình như một cuộc hành trình” và cầu nguyện cho Giáo hội “noi theo dấu chân” của Chúa Kitô khi Ngài bước đi trên Con đường Thánh Giá vào ngày 3 tháng 4.

Đức Giáo Hoàng đích thân vác thánh giá qua mọi chặng của Đường Thánh Giá Thứ Sáu Tuần Thánh tại Đấu trường Rôma, đây là lần đầu tiên sau bốn năm hình ảnh của Giáo hoàng tối cao hiện diện tại đấu trường này.

Do vấn đề sức khỏe, lần cuối cùng Giáo hoàng Phanxicô trực tiếp tham dự sự kiện tại Đấu trường Rôma là vào năm 2022, sau đó ngài chỉ xuất hiện qua video.

Đầu tuần này, Đức Thánh Cha Lêô đã nói với giới truyền thông rằng sự kiện này “sẽ là một dấu hiệu quan trọng, xét đến những gì mà Giáo hoàng đại diện: một nhà lãnh đạo tinh thần trong thế giới ngày nay - một tiếng nói để tuyên bố rằng Chúa Kitô vẫn đang chịu đau khổ.”

“Và tôi cũng mang tất cả nỗi đau khổ này trong lời cầu nguyện của mình,” Đức Giáo Hoàng nói.

Các bài suy niệm về Đường Thánh Giá năm 2026 được viết bởi Cha Francesco Patton, nguyên Bề Trên Tỉnh Dòng Phanxicô Thánh Địa. Các bài suy niệm nhấn mạnh rằng “mọi quyền lực đều phải chịu trách nhiệm trước Chúa về cách thức sử dụng quyền lực đã nhận được”, bao gồm “quyền lực để khởi xướng hoặc kết thúc một cuộc chiến tranh” và “quyền lực để chà đạp lên phẩm giá con người hoặc bảo vệ nó”.

“Mỗi người trong chúng ta cũng được kêu gọi phải chịu trách nhiệm về quyền lực mà chúng ta sử dụng trong cuộc sống hàng ngày,” các bài suy niệm cho biết.

Kết thúc chặng đường Thánh Giá, Đức Giáo Hoàng đã trích dẫn lời cầu nguyện của Thánh Phanxicô Assisi, xin Chúa ban cho chúng con, những kẻ khốn khổ, ơn để chỉ làm cho riêng Chúa những điều chúng con biết Chúa muốn chúng con làm và luôn luôn khao khát những điều đẹp lòng Chúa.

“Được thanh tẩy từ bên trong, được soi sáng từ sâu thẳm và được bừng cháy bởi ngọn lửa của Chúa Thánh Thần, nguyện xin chúng con có thể bước theo dấu chân của Con yêu dấu của Chúa, Chúa Giêsu Kitô,” Đức Giáo Hoàng cầu nguyện.


Source:EWTN

2. Đức Giáo Hoàng hội đàm với tổng thống Israel và Ukraine trong bối cảnh xung đột ở Thánh Địa và Ukraine.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã có cuộc điện đàm với Tổng thống Israel Isaac Herzog và Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskiy vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh.

Tòa Thánh cho biết Đức Giáo Hoàng đã có cuộc điện đàm riêng với cả hai tổng thống vào ngày 3 tháng 4. Hai bên đã gửi lời chúc mừng Lễ Phục Sinh và Lễ Vượt Qua. Đức Giáo Hoàng Lêô cũng đã trao đổi với các Tổng thống Zelenskiy về các cuộc chiến đang diễn ra ở Ukraine và Trung Đông, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải tiếp tục viện trợ nhân đạo.

Trung Đông và Ukraine tiếp tục bị tàn phá bởi các cuộc xung đột vũ trang. Cuộc xung đột giữa Mỹ và Israel với Iran đã bước vào giai đoạn mới khi Tổng thống Donald Trump tuần này tuyên bố sẽ có hành động quân sự mạnh mẽ hơn chống lại Iran. Chiến tranh Nga-Ukraine tiếp tục gây thương vong và đã bước sang năm thứ tư.

Một tuyên bố từ văn phòng tổng thống Ukraine cho biết, Tổng thống Zelenskiy đã đề cập đến những khó khăn trong việc đạt được một thỏa thuận hòa bình với Nga. Khó khăn lớn nhất là Ukraine bị ép buộc phải rút quân khỏi Donbas và trao lãnh thổ này cho Nga.

Cho đến nay, Ukraine kiên quyết không chấp nhận việc từ bỏ vùng đất mà họ đã chiến đấu suốt bốn năm để giữ gìn.

Lực lượng Ukraine hiện vẫn kiểm soát khoảng 20% Donetsk, bao gồm hai thành phố được phòng thủ kiên cố là Kramatorsk và Sloviansk, mà các nhà phân tích cho rằng Nga có thể mất nhiều năm mới chiếm được. Tháng 6, 2025 Tư Lệnh quân đội Anh lúc bấy giờ là Đô Đốc Tony Radakin dự đoán rằng với tốc độ tiến quân vào thời điểm đó, Nga cần phải mất 40 năm nữa mới chiếm được toàn tỉnh Donetsk.

Kyiv đã phản đối việc nhượng lại phần còn lại cho Nga, viện dẫn những lý do đạo đức và một điều khoản hiến pháp yêu cầu phải tổ chức trưng cầu dân ý. Tuy nhiên, một cuộc bỏ phiếu như thế không thể diễn ra hợp pháp trong thời kỳ thiết quân luật thời chiến.

Trung Tướng Ben Hodge nhận định rằng nếu Ukraine nghe lời các chuyên gia đàm phán của chính quyền Trump, những người không hề có chút kiến thức quân sự nào, và chịu rút quân khỏi Donetsk, họ sẽ không thể giữ nổi Thủ đô Kyiv, và cùng lắm nếu các đồng minh phương Tây can thiệp, Ukraine chỉ có thể giữ được 20% lãnh thổ tính từ Lviv đến biên giới Ba Lan.

Đương nhiên, người Ukraine và rộng ra là các đồng minh Âu Châu của họ cũng hiểu rõ điều đó. Thành ra, việc chính quyền Trump ép Ukraine triệt thoái khỏi Donetsk hầu như chắc chắn sẽ không thành công.

Một tuyên bố từ văn phòng tổng thống Israel cho biết ông Herzog đã thảo luận với Đức Giáo Hoàng về cuộc chiến giữa Mỹ và Israel chống lại Iran, bao gồm cả “mối đe dọa thường trực từ các cuộc tấn công hỏa tiễn của chế độ Iran và các lực lượng khủng bố ủy nhiệm của nước này nhằm vào người dân thuộc mọi tín ngưỡng trong khu vực”.

Thông cáo cũng cho biết ông Herzog đã nhắc lại với Đức Giáo Hoàng Lêô về các cuộc tấn công hỏa tiễn gần đây của Iran vào Giêrusalem, và khẳng định của ông rằng Hezbollah vẫn tiếp tục là mối đe dọa đối với sự ổn định ở Trung Đông.

Các cuộc thảo luận qua điện thoại diễn ra sau lời kêu gọi công khai của Đức Giáo Hoàng Lêô vào ngày 31 tháng 3, trong đó một lần nữa ngài kêu gọi ngừng bắn vô điều kiện và bày tỏ hy vọng rằng Tổng thống Trump sẽ “tìm cách giảm bớt bạo lực và các vụ đánh bom”. Trong lời kêu gọi đó, ngài cũng kêu gọi một thỏa thuận ngừng bắn vào dịp Lễ Phục Sinh cho cả hai cuộc xung đột.

Cuộc thảo luận giữa Đức Giáo Hoàng và Tổng thống Israel cũng diễn ra sau một sự việc ở Giêrusalem hôm 29 tháng 3, khi Hồng Y Pierbattista Pizzaballa, Thượng phụ Latinh, bị cảnh sát Israel từ chối cho vào Nhà thờ Mộ Thánh vào Chúa Nhật Lễ Lá.

Theo quy định của bộ chỉ huy Hậu phương Israel, các cuộc tụ họp không được quá 50 người. Tuy nhiên, vào ngày Chúa Nhật Lễ Lá, Đức Hồng Y Pizzaballa và 3 linh mục khác, tất cả chỉ có 4 người đã bị cảnh sát Israel ngăn cản không cho cử hành thánh lễ bên trong Nhà thờ Mộ Thánh. Điều này dẫn đến những lời chỉ trích gay gắt của Thủ tướng Ý, Tổng thống Pháp, Cao ủy phụ trách chính sách đối ngoại của Liên minh Âu Châu, Kaja Kallas; và Đại Sứ Hoa Kỳ tại Israel tố giác não trạng bài Công Giáo đang hoành hành tại Thánh Địa.

Sau đó, Tòa Thượng phụ Latinh Giêrusalem và Dòng Phanxicô quản thủ Thánh địa đã đạt được thỏa thuận với chính quyền Israel, cho phép các đại diện Giáo hội được phép cử hành Thánh lễ và các nghi lễ tôn giáo trong khi các hạn chế về tụ tập công cộng vẫn còn hiệu lực.

Cả văn phòng tổng thống Israel lẫn Vatican đều không bình luận về việc liệu Giáo hoàng và Herzog có thảo luận về vụ việc ở Giêrusalem hay không.


Source:EWTN

3. Kitô Hữu đón Thứ Sáu Tuần Thánh trong không khí trầm lắng tại Giêrusalem và khu vực rộng lớn hơn giữa bối cảnh chiến tranh Iran.

Con đường thương khó Chúa đã đi qua lên đồi Canvê, thường được gọi là Via Dolorosa, ở Giêrusalem, vốn thường tấp nập người hành hương và giáo sĩ vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, trở nên im lặng đến kỳ lạ khi cuộc chiến với Iran gần như đóng cửa Giêrusalem, khiến những con phố vốn nhộn nhịp của Thành phố Cổ gần như vắng bóng người.

Theo truyền thống, các tín hữu Kitô giáo ở Giêrusalem kỷ niệm ngày này bằng cách đi bộ trên con đường đá hẹp được tường trình dấu chân cuối cùng của Chúa Giêsu trước khi Ngài bị đóng đinh, thu hút hàng ngàn tín hữu từ khắp nơi trên thế giới.

Nhưng năm nay, chỉ một số ít giáo sĩ và cư dân địa phương được nhìn thấy di chuyển dọc theo con đường này, vì nhiều nhà thờ và địa điểm linh thiêng đã đóng cửa do các hạn chế an ninh được áp đặt trong bối cảnh cuộc xung đột đang diễn ra.

Kể từ khi cuộc chiến giữa Mỹ và Israel chống lại Iran bắt đầu vào ngày 28 tháng 2, vì lý do an ninh, chính quyền Israel đã cấm bất kỳ ai ngoài cư dân và chủ cửa hàng vào khu Phố Cổ.

Các hạn chế này áp dụng cho tất cả các địa điểm linh thiêng, bao gồm Bức tường phía Tây, Thánh đường Al-Aqsa và Nhà thờ Mộ Thánh, những nơi đã đóng cửa từ ngày 6 tháng 3. Các cuộc tụ tập trên toàn quốc vẫn bị giới hạn ở 100 người trong nhà và 50 người ngoài trời, với điều kiện phải đến được nơi trú ẩn kịp thời.

Đầu tháng này, một hỏa tiễn của Iran bị đánh chặn đã bắn mảnh vỡ lên mái nhà của Tòa Thượng phụ Chính thống giáo Hy Lạp, chỉ cách Nhà thờ Mộ Thánh vài bước chân, một trong những địa điểm quan trọng nhất của Kitô giáo. Mảnh vỡ hỏa tiễn cũng rơi trúng một con đường dẫn đến Bức tường phía Tây.

Những hạn chế này đã dẫn đến một làn sóng phản đối quốc tế khi cảnh sát Israel, viện dẫn nguy cơ hỏa tiễn Iran tấn công, đã ngăn cản Đức Thượng phụ Latinh Pierbattista Pizzaballa cử hành thánh lễ Chúa nhật Lễ Lá cùng với 3 linh mục khác tại nhà thờ Mộ Thánh trong Thành phố Cổ.

Tình hình dường như đã được giải quyết khi các lãnh đạo Công Giáo chủ trì buổi cầu nguyện Thứ Năm Tuần Thánh tại Nhà thờ Mộ Thánh mà không có sự tham dự của công chúng.

Các buổi lễ Thứ Sáu Tuần Thánh tại Các Tiểu Vương quốc Ả rập thống nhất bị hủy bỏ.

Cuộc chiến cũng đã khiến các nghi lễ Thứ Sáu Tuần Thánh trên khắp khu vực bị hủy bỏ. Tất cả các thánh lễ ở Dubai đã bị hủy bỏ do chiến tranh Trung Đông, hai nhà thờ Công Giáo ở Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất thông báo trên trang web của họ vào thứ Sáu, ngay trước lễ Phục Sinh.

Theo chỉ thị của chính phủ, “tất cả các Thánh lễ tại nhà thờ của chúng tôi đều bị hủy cho đến khi có thông báo mới”, nhà thờ Thánh Phanxicô Assisi ở Jebel Ali, Dubai, thông báo.

Khu vực ven biển Jebel Ali đã nhiều lần bị trúng hỏa tiễn và máy bay điều khiển từ xa do Iran bắn vào các quốc gia vùng Vịnh lân cận để trả đũa cuộc tấn công của Israel và Mỹ phát động vào ngày 28 tháng 2.

Thông báo cho biết thêm: “Vì sự an toàn và sức khỏe cộng đồng, giáo dân được yêu cầu không đến thăm khuôn viên nhà thờ.”

Nhà thờ Công Giáo St Mary ở Dubai cũng đăng tải thông báo tương tự trên trang web của mình, cho biết thánh lễ Thứ Sáu Tuần Thánh sẽ được phát trực tiếp trên kênh YouTube của nhà thờ.

Bất chấp các thông báo, một số giáo dân vẫn cầu nguyện trên vỉa hè bên ngoài bức tường cao của khu nhà thờ St Mary vào thứ Sáu.

“Chúa ở khắp mọi nơi, nhưng chúng tôi cần đến đây để cảm nhận được sự kết nối mạnh mẽ hơn,” Karen, một phụ nữ Phi Luật Tân khoảng bốn mươi tuổi, nói. Cô ấy cho biết thêm rằng cô cũng dự định xem livestream trên YouTube.


Source:Times Of Israel

4. Hàng trăm người lớn sẽ được rửa tội ở Paris vào dịp Lễ Phục Sinh như một phần của làn sóng rửa tội trên toàn quốc.

Sự phục hưng Công Giáo mà Paris đã trải qua trong năm năm qua vẫn tiếp tục không ngừng, ngay cả trong bối cảnh thành phố này từ lâu đã được xem là biểu tượng của quá trình thế tục hóa ở Âu Châu.

Vào đêm vọng Phục Sinh, ngày 4 tháng 4, hơn 700 người lớn trên khắp thủ đô Paris được tiếp nhận vào Giáo Hội Công Giáo trong một làn sóng gia nhập đột ngột trên toàn quốc.

Trên khắp nước Pháp, hơn 13.000 người lớn sẽ được rửa tội vào lễ Phục Sinh năm nay, theo số liệu do Hội đồng Giám mục Pháp công bố — tăng 28% so với năm 2025.

Sự “bùng nổ” số lượng người lớn được rửa tội ở Pháp là một hiện tượng tương đối gần đây. Hiện tượng này đã gia tăng mạnh mẽ trong thập niên qua, với sự tăng tốc đáng kể sau đại dịch COVID-19, đạt mức kỷ lục kể từ năm 2024.

Trong bức tranh quốc gia này, Paris nổi bật như một trái tim của sự đổi mới đó. Theo số liệu do tổng giáo phận cung cấp, 788 người lớn dự tòng sẽ được rửa tội tại thành phố trong đêm vọng Phục Sinh, tăng 17% so với năm trước.

Các lễ rửa tội này sẽ diễn ra tại 94 giáo xứ và một số cộng đồng, huy động hơn 1.000 người tham dự, chủ yếu là giáo dân. Độ tuổi tham gia chủ yếu là người trẻ, với gần một phần ba dưới 25 tuổi, khoảng một nửa từ 26 đến 40 tuổi, và 1/5 trên 40 tuổi, độ tuổi của các ứng viên dao động từ 18 đến 73 tuổi.

Phụ nữ vẫn chiếm đa số trong số những dự tòng, với tỷ lệ 58% tại Paris, một tỷ lệ phù hợp với xu hướng toàn quốc.

Danh sách các giáo xứ ở Paris có số lượng người dự tòng đặc biệt cao cho thấy một bức tranh đa dạng, vượt qua cả những quan điểm tôn giáo và địa lý xã hội. Các giáo xứ thường xuyên cử hành Thánh lễ Latinh truyền thống, chẳng hạn như Saint-Roch ở quận 1 hoặc

Nhiều cộng đồng này, thường được dẫn dắt bởi các linh mục trẻ và năng động, đã trở thành những trung tâm sôi động của đời sống giáo xứ.

Robin, một người 30 tuổi được rửa tội tại nhà thờ Saint-Ambroise vào thứ Bảy Tuần Thánh, là hiện thân của xu hướng này. Lớn lên trong một gia đình không có nền tảng tôn giáo, anh bắt đầu hành trình tâm linh của mình thông qua quá trình dần dần đặt câu hỏi về mục đích cuộc sống.

“Trong một thế giới mà mọi thứ diễn ra quá nhanh, nơi chúng ta đánh mất đi những điều quan trọng, Giáo hội đã giúp đỡ tôi rất nhiều,” anh nói với EWTN News. “Nó đã giúp tôi đặt lại câu hỏi 'tại sao' vào trung tâm của mọi việc.”

Con đường của anh được định hình bởi khát vọng ngày càng lớn về sự tĩnh lặng và chiêm nghiệm, cũng như nỗi khao khát cái đẹp. “Tôi thường đến nhà thờ để tìm kiếm một khoảnh khắc bình yên, nơi thời gian dường như ngừng lại,” anh giải thích. “Tôi đang tìm kiếm một nơi mà bạn có thể lắng nghe chính mình và suy ngẫm về những gì bạn muốn làm với cuộc đời mình.”

Anh nói thêm: “Điều khiến tôi xúc động sâu sắc là vẻ đẹp bao quanh nhà thờ của tôi - kiến trúc, âm nhạc... đó là nơi tôi cảm nhận được điều gì đó mạnh mẽ.”

Giống như nhiều người dự tòng khác, Robin đã mô tả một trải nghiệm được chào đón nồng nhiệt, điều đã mang tính quyết định. Ngay từ giai đoạn đầu của hành trình, anh đã gặp một vị linh mục trẻ của giáo xứ, người dù bận rộn vẫn dành thời gian nói chuyện với anh.

“Chúng tôi đã nói chuyện với nhau suốt một tiếng đồng hồ. Điều đó thật sự làm tôi rất an tâm,” anh nhớ lại. Sau đó, anh được giới thiệu với một nhóm giáo dân, những người đã đồng hành cùng anh trong suốt thời gian học giáo lý, tạo nên điều mà anh mô tả là “mối liên kết nhân văn sâu sắc”.

Khía cạnh cộng đồng này dường như là yếu tố then chốt trong sự gia tăng hiện nay. Trong khi mô hình giáo lý dự tòng của Pháp truyền thống mang tính cá nhân hơn, số lượng ứng viên ngày càng tăng đang thúc đẩy các giáo xứ xem xét lại đường lối của mình, thường ưu tiên các hoạt động nhóm nhằm nuôi dưỡng cảm giác thuộc về ngay từ đầu.

Nhiều người dự tòng đến từ những gia đình có ít hoặc không có nền tảng Kitô giáo, phản ánh một sự chuyển dịch rộng rãi hơn từ Công Giáo văn hóa sang một đức tin có chủ đích hơn, dựa trên niềm tin vững chắc. Trên phạm vi toàn quốc, số lượng người dự tòng tự nhận mình không có truyền thống tôn giáo hiện nay chiếm tỷ lệ tương đương với những người xuất thân từ gia đình Kitô giáo.

Quy mô của hiện tượng này hiện đang thúc đẩy các nhà lãnh đạo Giáo hội Pháp suy ngẫm nghiêm chỉnh. Trước sự gia tăng liên tục số lượng người trưởng thành được rửa tội, tám giáo phận của vùng Île-de-France, cùng với Giáo phận Quân đội, đã triệu tập một hội đồng cấp tỉnh dự kiến khai mạc vào ngày 31 tháng 5 tại Nhà thờ Đức Bà Notre-Dame.

Với chủ đề “Những người dự tòng và tân tín hữu: Những triển vọng mới cho đời sống Giáo cộng đoàn ta”, công đồng sẽ tìm cách phân định xem các cấu trúc địa phương và các hoạt động mục vụ nên thích ứng như thế nào với sự tăng trưởng bất ngờ này.


Source:EWTN

5. Bài Giảng của Cha Roberto Pasolini trong Nghi Thức Tưởng Niệm Cuộc Thương Khó Chúa Thứ Sáu Tuần Thánh 2026

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã chủ sự Nghi Thức Tưởng Niệm Cuộc Thương Khó Chúa vào lúc 5g chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, 03 Tháng Tư, tại Đền Thờ Thánh Phêrô, trong đó vị giảng thuyết của phủ giáo hoàng đã kêu gọi các tín hữu Kitô giáo “hãy đến gần thập giá Chúa mà không sợ hãi”.

Nghi thức phụng vụ bắt đầu bằng việc Đức Giáo Hoàng phủ phục trước bàn thờ, sau đó diễn ra theo ba phần: Phụng vụ Lời Chúa, tôn kính thánh giá và Thánh Thể.

Cha Roberto Pasolini, dòng Phanxicô Viện Tu giảng thuyết viên của Phủ Giáo hoàng, đã giảng sau bài thương khó.

'Hành động yêu thương vĩ đại nhất'

“Trong thời đại của chúng ta, vẫn còn bị chia rẽ bởi hận thù và bạo lực, khi ngay cả danh xưng của Chúa cũng bị lợi dụng để biện minh cho chiến tranh và những quyết định chết chóc, chúng ta, các Kitô hữu, được kêu gọi đến gần Thánh Giá của Chúa mà không sợ hãi — thực sự, với lòng tin tưởng trọn vẹn — biết rằng đó là một ngai vàng mà trên đó người ta ngồi và học cách trị vì cùng Ngài bằng cách hiến dâng cuộc đời mình để phục vụ người khác,” Cha Pasolini nói.

“Nếu chúng ta có thể giữ vững niềm tin này, thì những ngày của chúng ta cũng sẽ có thể cất lên những khúc ca của cả niềm vui và nỗi đau, bản nhạc huyền nhiệm của Thập tự giá, trong đó những nốt nhạc của tình yêu vĩ đại nhất có thể được nhận ra rõ ràng,” ngài nói.

Vị giảng thuyết nhắc lại rằng phụng vụ ngày hôm nay mời gọi người Công Giáo suy niệm về Cuộc Khổ nạn: “Tuy nhiên, Thánh Giá của Chúa Kitô có nguy cơ trở nên khó hiểu nếu chúng ta chỉ nhìn nhận nó như một sự kiện riêng lẻ, như một biến cố đột ngột. Trên thực tế, đó là đỉnh cao nhất của một hành trình, sự viên mãn của cả một cuộc đời mà Chúa Giêsu đã học cách lắng nghe và đón nhận tiếng nói của Chúa Cha, để cho mình được hướng dẫn từng ngày cho đến hành động yêu thương vĩ đại nhất.”

“Chúa Giêsu là người chịu nhiều đau khổ, người hiểu rõ sự đau đớn — không bạo lực, không dùng vũ lực, không cám dỗ phá hủy mọi thứ và bắt đầu lại từ đầu. Chúng ta biết việc đón nhận sứ mệnh như vậy khó khăn đến mức nào. Chúng ta bị cám dỗ dùng sự hung hăng và bạo lực, nghĩ rằng nếu không có chúng thì không thể giải quyết được vấn đề gì. Nhưng chỉ có sự hiền lành mới là sức mạnh thực sự để đối mặt với bóng tối của cái ác”.

Trong bài giảng của mình, Cha Pasolini đã đề cập đến Bài ca về Người Tôi Tớ, bốn văn bản thơ được tìm thấy trong Sách Tiên tri Isaiah (42, 49, 50, 52–53), mô tả một nhân vật bí ẩn — “Người Tôi Tớ” — người hoàn thành ý muốn của Chúa thông qua sự đau khổ.

“Để hiểu được hành trình này trong những ngày Tuần Thánh, phụng vụ đã cho chúng ta lắng nghe những bài ca được gọi là Bài ca về Tôi tớ Chúa. Đó là những văn bản thơ ca mà trong đó tiên tri Isaiah đã phác họa hình ảnh một người tôi tớ bí ẩn, qua đó Thiên Chúa có thể cứu thế giới khỏi điều ác và tội lỗi. Truyền thống Kitô giáo đã nhận ra trong những bài ca này một điềm báo nổi bật và đầy kịch tính”.

“Trong bài hát thứ ba, một bất ngờ mới xuất hiện: Người Tôi Tớ muốn giúp đỡ, nhưng mọi người lại phản ứng bằng sự giận dữ và bạo lực. Những người sống trong bóng tối không phải lúc nào cũng chào đón ánh sáng, bởi vì ánh sáng cũng phơi bày những gì chúng ta muốn che giấu — những vết thương, những mâu thuẫn của chúng ta.”

“ Trong bài hát thứ tư, một điều vô cùng đáng lo ngại đã xảy ra: Bạo lực giáng xuống Người Tôi Tớ dữ dội đến mức làm biến dạng khuôn mặt anh ta. Anh ta không còn hình dạng con người, nhưng Người Tôi Tớ đã học được cách không trả thù bằng những điều ác mà mình đã nhận lấy”

Vị giảng thuyết giải thích: “Người tôi tớ không cam chịu theo lối tư duy bạo lực này; anh ta gánh chịu mọi thứ mà không trả đũa. Vì lý do đó, anh ta đã gánh lấy tội lỗi của nhiều người.”

Chúa Giêsu “không chỉ đơn thuần lắng nghe những bài ca này; Ngài đã sống trọn vẹn theo chúng, với niềm tin tuyệt đối vào Chúa Cha.”

“Chúng ta thấy điều đó liên tục trong chiến tranh, trong sự chia rẽ, trong những vết thương: cái ác cứ tiếp tục lan truyền vì nó luôn tìm thấy người sẵn lòng truyền bá. Chúa Giêsu đã phá vỡ chuỗi này bằng cách chấp nhận những gì xảy ra với Ngài. Trong cuộc Khổ nạn, Ngài đã nhận ra bản nhạc của những bài ca yêu thương và phục vụ mà Chúa Cha đã giao phó cho Ngài. Bằng cách này, Ngài đã học được sự vâng phục khó khăn nhất — đó là sự vâng phục yêu thương người khác”.

Vị giảng thuyết cảnh báo rằng “Tiếng nói của Chúa không còn dẫn dắt chúng ta nữa — không phải vì nó đã biến mất, mà vì nó chỉ trở thành một trong nhiều tiếng nói khác, những tiếng nói khác hứa hẹn sự an toàn và hạnh phúc”.

“Điều còn thiếu là một từ ngữ, một bài hát có khả năng dẫn dắt bước chân chúng ta đến một thế giới công bằng hơn. Tuy nhiên, nếu nhìn kỹ, chúng ta có thể thấy một đám đông im lặng chọn một tiếng nói khác – một tiếng nói không la hét, không áp đặt bằng vũ lực, một bài hát nhẹ nhàng và bền bỉ mời gọi chúng ta yêu thương và không bao giờ lấy ác trả ác. Họ không thực hiện những việc làm phi thường, nhưng mỗi ngày họ đều cố gắng sống không chỉ vì bản thân mà còn vì người khác nữa.”

'Hãy hạ vũ khí xuống'

Lấy cảm hứng từ hành động tôn kính thánh giá, Cha Pasolini khuyến khích những người có mặt hãy tận dụng cơ hội này để “hạ vũ khí” mà họ đang cầm trên tay.

“Chúng có vẻ không nguy hiểm như những vũ khí mà những kẻ quyền lực trên thế giới này sử dụng. Tuy nhiên, chúng cũng là những công cụ gây chết chóc, bởi vì chúng đủ sức làm suy yếu, gây tổn thương và tước đoạt ý nghĩa cũng như tình yêu thương khỏi các mối quan hệ hàng ngày của chúng ta”

“Ơn cứu rỗi sẽ không từ trên cao giáng xuống, cũng không thể được bảo đảm bằng các quyết định chính trị, kinh tế hay quân sự. Thế giới liên tục được cứu rỗi bởi những người sẵn lòng đón nhận những Bài ca của Người Tôi Tớ Chúa như là hình mẫu cho cuộc sống của chính họ”

“Đây là điều Chúa Giêsu đã làm. Ngài đã nghiêm chỉnh đón nhận ý muốn của Cha, chấp nhận nó như một nhiệm vụ phải hoàn thành đến cùng, với những tiếng kêu than và nước mắt.”

“Tối nay, chúng ta cũng nhận lấy gánh nặng của thập tự giá. Chúng ta có thể tự do đón nhận nó nếu chúng ta thừa nhận rằng không có khó khăn nào là không thể vượt qua, không có kẻ nào đáng trách, không có kẻ thù nào có thể ngăn cản chúng ta yêu thương và phục vụ.”

“Chỉ có chính chúng ta – những người bằng cách chọn không đáp trả điều ác, bằng cách kiên nhẫn trong thử thách, bằng cách tin vào điều thiện ngay cả khi bóng tối dường như nuốt chửng mọi thứ – mới có thể trở thành những tôi tớ mà Chúa cần để mang ơn cứu rỗi đến cho thế giới mỗi ngày,” ngài nói.

6. 40 Bài Tĩnh Tâm Mùa Chay: Chúa Nhật Lễ Phục sinh. Suy niệm trên bức tranh “Những người phụ nữ thánh thiện bên mộ hoặc Ba người phụ nữ tên Maria bên mộ” ra đời năm 1890 của họa sĩ William-Adolphe Bouguereau sinh năm 1825 mất năm 1905

Đá và sỏi có giá trị biểu tượng rất lớn trong Kinh Thánh. Chắc chắn các tác giả Kinh Thánh đã tận dụng cảnh quan đá sỏi của Palestine để sử dụng đá như những ẩn dụ về quyền lực và sức mạnh. Giacốp dùng một hòn đá làm gối; Môisê đập vào một tảng đá và nước phun ra làm dịu cơn khát của dân chúng. Chúa chúng ta đã nói về người khôn ngoan xây nhà trên nền đá. Ngài gọi Simôn là tảng đá sau lời tuyên xưng đức tin của Thánh Phêrô. Và khi những người Pharisêu vào Chúa nhật Lễ Lá bảo Chúa Giêsu hãy kiềm chế những người theo Ngài đang reo hò, Ngài đáp: “Ta nói cho các ngươi biết, nếu những người này im lặng, thì đá sẽ kêu lên” (Lc 19:40).

Và khi buộc tội các thành viên của Hội Đồng Công Tọa sau khi Chúa phục sinh về sự đồng lõa của họ trong cái chết của Chúa Kitô, Phêrô tuyên bố, trích dẫn Thánh Vịnh 118: “Đây là hòn đá mà các ông, những người xây dựng, đã loại bỏ, nhưng đã trở thành tảng đá góc tường” (Cv 4:11).

Có lần, khi kẻ thù của Chúa Giêsu cố ném đá Ngài, Ngài đã thoát chết mà không hề hấn gì. Nhưng rồi ngày tàn của chúng cũng đến. Sau khi Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá, chúng chôn cất Ngài và bịt kín lối vào mộ bằng một tảng đá lớn, hy vọng điều này sẽ xóa bỏ ký ức về Ngài mãi mãi. Hành động ngu xuẩn này đã được lặp đi lặp lại nhiều lần trong lịch sử. Một ví dụ là trong Cách mạng Pháp, khi đám đông người dân Paris kéo đến Cluny và phá hủy nhà thờ tu viện Bênêđíctô vĩ đại, rồi dùng đá của nhà thờ đó để lát đường phố khắp nước Pháp.

Nhưng vào buổi sáng Phục Sinh đầu tiên ấy, tảng đá niêm phong mộ Chúa Giêsu đã được một thiên thần lăn ra, như Thánh Mátthêu kể lại: “Một thiên thần của Chúa, từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra và ngồi trên đó” (Mt 28:2). Nếu có một “bài giảng được khắc trên đá”, thì chắc chắn đây chính là nó. Một ngôi sao trên trời từng báo hiệu sự ra đời của Ngài; giờ đây một tảng đá trên đất báo hiệu sự tái sinh của Ngài.

Chúng ta có thể bị chôn vùi trong mộ rất lâu trước khi chết. Chắc hẳn bạn đã từng nghe câu nói mỉa mai về một người chưa bao giờ thực sự đạt được tiềm năng của mình: “Chết năm 30 tuổi, chôn cất năm 60 tuổi.” Một trong những vị thánh trẻ nhất và mới nhất của chúng ta, Carlo Acutis, người qua đời ở tuổi 15 và được phong thánh trong Đại lễ năm ngoái, đã có một nhận xét thú vị về chính điểm này. Ngài nói: “Tất cả mọi người sinh ra đều là bản gốc, nhưng nhiều người chết đi như những bản sao.” Trong Mùa Chay, tiên tri Êdêkien đã khẩn cầu chúng ta thay thế trái tim bằng đá bằng trái tim bằng thịt. Chúng ta đã làm được điều đó nếu chúng ta chú ý đến thông điệp của Mùa Chay.

Vậy thông điệp đó là gì? Thánh Cyrilô thành Alexandria đã cho chúng ta câu trả lời: “Khi Chúa Kitô thấy nhân loại bị hủy diệt bởi cái chết, Ngài đã trở thành người biện hộ cho chúng ta trước mặt Chúa Cha. Ngài đã hiến dâng chính mình vì chúng ta, và tự nguyện chịu chết, làm cho kẻ hủy diệt phải bối rối bằng cách nói rằng tội lỗi là của Ngài” (Sự tôn thờ và thờ phượng Thiên Chúa trong tinh thần và trong chân lý).

Thánh Phaolô đã viết rằng, trong Chúa Kitô, Thiên Chúa đã hòa giải thế giới với chính Ngài, “không trách cứ ai về lỗi lầm của họ” (2 Cr 5:19).

Ông không thể đòi hỏi gì hơn từ Chúa. Và nếu chúng ta thực sự nhận ra lòng quảng đại vô bờ bến này, thì, như Thánh Phaolô nói, chúng ta có nghĩa vụ phải truyền bá sứ điệp. “Ngài đã giao phó cho chúng ta tin mừng rằng chúng ta đã được hòa giải. Vậy nên, chúng ta là sứ giả của Chúa Kitô” (2 Cr 5:19-20).

Tiên tri Isaia đã tuyên bố: “Hãy đến đây, chúng ta hãy bàn bạc điều này, Chúa phán. Dù tội lỗi các ngươi đỏ như son, chúng sẽ trở nên trắng như tuyết; dù chúng đỏ như màu đỏ thẫm, chúng sẽ trở nên trắng như len” (Isaia 1:18).

Đó là lẽ thường tình, và Ngài đang nói chuyện với chúng ta gần như ngang hàng với Ngài. Ngài không mong muốn gì hơn ngoài hạnh phúc vĩnh cửu của chúng ta. Chính vì điều này mà Ngài đã tạo ra chúng ta; chính vì điều này mà Ngài đã sai Con Một của Ngài đến dựng lều giữa chúng ta - theo cách diễn đạt của Thánh Gioan trong lời mở đầu Phúc Âm của ông.

Chúa Giêsu nói rằng Ngài đến để kêu gọi những người tội lỗi ăn năn, chứ không phải người công chính, và rằng không phải người khỏe mạnh cần thầy thuốc, mà là người bệnh. Ngài tuyên bố rằng Ngài đến để tìm kiếm con chiên lạc, và trong dụ ngôn về đồng bạc, Ngài cho chúng ta biết rằng mục đích của sự đến của Ngài là để lấy lại bức tượng hoàng gia đã bị vấy bẩn bởi tội lỗi. Trong một dụ ngôn khác, Ngài tuyên bố rằng chính Ngài là người Samari nhân hậu, đến để đổ rượu và dầu của các bí tích vào những vết thương do tội lỗi chúng ta gây ra. Và Ngài kể về việc Cha Ngài, Đấng toàn thiện, cảm động vì thương xót chúng ta, những đứa con hoang đàng của Ngài, khi chúng ta trở về với Ngài - về việc Ngài muốn ôm lấy chúng ta và mặc cho chúng ta những bộ quần áo đẹp đẽ xứng đáng với phẩm giá của chúng ta, và Ngài sẽ không trách móc chúng ta về bất kỳ tội lỗi nào của chúng ta.

Nếu chúng ta thực sự tin vào thông điệp này, thì chúng ta sẽ không sợ hãi khi đến gần Chúa Kitô, ngai vàng của lòng thương xót. Chúng ta sẽ không do dự khi chấp nhận ách của Ngài - tức là lối sống mà Ngài đã dạy chúng ta trong các Phúc Âm. Nếu chúng ta có thể làm được điều này, thì sự Phục Sinh đã diễn ra trong chính cuộc đời chúng ta rồi.

Bức tranh “Những người phụ nữ thánh thiện bên mộ” được William-Adolphe Bouguereau vẽ năm 1890. Đây là tác phẩm ông tham dự triển lãm tại Salon ở Paris, sau đó được trưng bày tại Stuttgart, Berlin và Chicago trước khi gây ấn tượng mạnh mẽ với khách tham quan tại Hội chợ Thế giới ở Antwerp năm 1894. Giới nghệ sĩ Pháp đã dành tình cảm đặc biệt cho Bouguereau và mời ông trang trí các tòa thị chính và nhà thờ. Tuy nhiên, phong cách hội họa này đã bị bác bỏ.

Ban đầu, tranh của Bouguereau được các nghệ sĩ trẻ khám phá ra một phong cách mới - trường phái ấn tượng. Tuy nhiên, kể từ cuối thế kỷ 20, sự quan tâm và đánh giá cao đối với kỹ thuật điêu luyện và vẻ đẹp thẩm mỹ của tranh Bouguereau đã trỗi dậy trở lại.

Bức tranh “Những người phụ nữ bên mộ” của ông được thực hiện vô cùng tinh tế đến nỗi người xem cảm thấy như mình là một phần của khung cảnh. Đó là một miêu tả mạnh mẽ về chương cuối cùng của Phúc Âm Thánh Máccô (Mc 16:1-8): “Khi ngày Sabát kết thúc, Maria Mađêla, Maria mẹ của Giacốp và Salômê đem hương liệu đến xức dầu cho Ngài. Họ đã nói với nhau rằng: 'Ai sẽ lăn hòn đá ra khỏi cửa mộ cho chúng ta?' Nhưng khi nhìn thì thấy hòn đá—rất lớn—đã được lăn ra rồi. Khi vào trong mộ, họ thấy một người thanh niên mặc áo trắng.”

Lối vào lăng mộ được bao quanh bởi những khối đá lớn, gợi lên sự vững chắc. Phòng chờ tối tăm, trái ngược hoàn toàn với những khuôn mặt được chiếu sáng của những người phụ nữ và thiên thần. Thiên thần được bao phủ bởi ánh sáng thần thánh, bàn tay phải giơ lên tượng trưng cho sự Phục Sinh.

Những người phụ nữ mặc áo choàng tối màu, tượng trưng cho sự tang thương. Nét mặt và cử chỉ của họ truyền tải nhiều cung bậc cảm xúc. Người phụ nữ ở chính giữa đang chìm đắm trong suy tư, một tay đưa lên mặt như đang lau nước mắt. Quỳ bên cạnh, người bạn đồng hành của bà thể hiện sự kinh ngạc và có lẽ là nhận ra điều đã xảy ra. Khuôn mặt bà dường như được chiếu sáng bởi chính ánh sáng phát ra từ ngôi mộ.

Chiếc áo dài đỏ bên trong áo choàng đen của bà cho thấy một niềm tin mãnh liệt giữa những nỗi buồn của bà. Người phụ nữ bên phải dường như do dự không muốn tiến sâu hơn. Tay phải bà nắm chặt tảng đá khổng lồ đã được lăn đi, còn tay trái nắm chặt chiếc bát đựng dầu thơm dùng để thanh tẩy và xức dầu cho thi thể Chúa Giêsu.

Ba nhân vật của Bouguereau thể hiện hoàn hảo lời mô tả của Thánh Mark: “Và các phụ nữ đi ra và chạy khỏi mộ vì họ quá sợ hãi” (Mc 16:8). Đây là một tác phẩm nghệ thuật sùng kính đầy sức mạnh.

Đức Ông Graham Schmitzer


Source:VietCatholic