SỰ THẬT VỀ GIÁO SĨ LẠM DỤNG TÌNH DỤC
Làm rõ sự thật và nguyên nhân
NHÀ XUẤT BẢN IGNATIUS PRESS SAN FRANCISCO
PHẦN I
Phân biệt sự thật và hư cấu
2. Giáo Hội Đối Diện Với Vụ Tai Tiếng
Vị linh mục lạm dụng tình dục đầu tiên thu hút sự chú ý của công chúng là một giáo sĩ ở Louisiana, Gilbert Gauthe. Đó là vào năm 1985. Trớ trêu thay, đó là thời điểm mà nạn lạm dụng tình dục của giáo sĩ đang giảm dần, mặc dù lúc đó ít người biết điều đó. Gauthe đã nhận 11 tội danh lạm dụng tình dục và bị tống vào tù. Một linh mục khác, James Porter, đã gây xôn xao dư luận khi hành vi săn mồi của ông ta ở Fall River, Massachusetts, bị phơi bày vào đầu những năm 1990. Vào cuối những năm 1990, Rudolph Kos trở thành nhân vật của công chúng khi Giáo phận Dallas bị buộc phải trả hơn 31 triệu đô la cho các nạn nhân của ông ta. Ngay sau khi vụ việc này được tiết lộ là cáo trạng của John Geoghan ở Boston, một kẻ hiếp dâm trẻ em hàng loạt, người đã bị giết trong tù.
Gauthe bị kết án 20 năm tù vì tội lạm dụng tình dục hơn 30 bé trai; các nạn nhân của ông ta có độ tuổi từ 7 đến 15. Như Mary Eberstadt đã nói, ông ta là “một người đàn ông đồng tính hoạt động tình dục mạnh mẽ, có sở thích với trẻ em và thanh thiếu niên”. (1) Làm thế nào mà một kẻ lạm dụng tình dục hàng loạt lại không bị các linh mục, nữ tu, giáo dân và giám mục của mình phát hiện? Điều đó bất khả. Cấp trên của Gauthe đã biết việc ông ta làm trong mười năm. Sau khi lạm dụng nạn nhân đầu tiên, ông ta nhanh chóng nhận ra rằng sẽ không có chuyện gì xảy ra với mình. Giám mục của ông ta bảo ông ta xưng tội. Chỉ vậy thôi. Giám mục không bao giờ nhắc đến chuyện đó nữa. Sau khi Gauthe được chuyển đến một giáo xứ khác, việc lạm dụng vẫn tiếp diễn, và các khiếu nại cũng vậy. (2)
Đây là kiểu phản ứng khiến người Công Giáo phẫn nộ. Dù Gauthe tồi tệ đến mức nào, thì việc giám mục của ông ta cho phép ông ta tiếp tục phạm tội chống lại trẻ em mà không bị trừng phạt còn tồi tệ hơn. Tòa Thánh có biết chuyện gì đang xảy ra không? Không phải trong khi ông ta đang săn mồi các nạn nhân. Nhưng đến năm 1984, tin tức về Gauthe đã đến tai Tòa Sứ thần Vatican, và họ đã chỉ định một trong những luật sư giáo luật của mình, Cha Thomas Doyle, để giải quyết vụ việc của ông ta. Cha Doyle đã công bố một loạt báo cáo, cung cấp bằng chứng cho thấy Gauthe không phải là linh mục lạm dụng tình dục duy nhất đang hoạt động trong giáo hội.
Năm 1985, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã giao cho Đức Giám Mục A.J. Quinn của Cleveland điều tra vụ tai tiếng ở Louisiana. Theo Cha Doyle, ngoài một cuộc họp báo công bố thành lập một ủy ban để nghiên cứu tình hình, không có hành động nào khác được thực hiện. Trên thực tế, ủy ban này chưa bao giờ được thành lập. (3)
Luật sư của cha Doyle và Gauthe, Ray Mouton, đã chuẩn bị một báo cáo về lạm dụng tình dục của các linh mục và tìm cách trình bày báo cáo này cho các giám mục vào mùa xuân năm 1985. Họ cảnh báo về nhiều vụ tai tiếng hơn nữa, nhưng những nỗ lực của họ cũng không đi đến đâu. Giám mục William Levada của Los Angeles đã bày tỏ sự ủng hộ đối với Doyle và Mouton, nhưng cuối cùng, ngài nói với Doyle rằng công việc của họ sẽ không được trình bày cho các giám mục tại cuộc họp sắp tới của các ngài ở Collegeville, Minnesota. Sau cuộc họp của các giám mục, một thư mục vụ đã được ban hành, nhưng nó không phải về lạm dụng tình dục của giáo sĩ: mà là về nghèo đói. Bài viết này được viết bởi Tổng Giám mục Milwaukee Rembert Weakland, người sau này bị buộc phải từ chức vì hành vi sai trái về tình dục và tài chính.(4)
Trong hơn ba mươi năm tiếp theo, Cha Doyle đã làm việc trong các vụ án lạm dụng tình dục của giáo sĩ, giúp đỡ những người tố cáo các linh mục Công Giáo và các luật sư bào chữa cho họ, và dường như vai trò này đã gây ra những ảnh hưởng—cả đối với ngài và đối với Giáo hội. Năm 2019, ngài nói: “Hầu hết cuộc đời trưởng thành của tôi đều liên quan đến vấn đề này. Nó đã thay đổi tôi một cách đáng kể. Nó đã thay đổi hệ thống niềm tin của tôi. Tôi không còn tin tưởng vào Giáo hội định chế nữa.” (5) Cũng có thể nói rằng cảm giác này là có qua có lại. Ngài bị cách chức vào năm 2003 khỏi vị trí tuyên úy tại Tổng giáo phận Quân đội, một chức vụ ngài nắm giữ từ năm 1986. Người đứng đầu tổng giáo phận, Tổng giám mục Edwin F. O’Brien, cáo buộc Doyle không tuân theo mệnh lệnh, chẳng hạn như yêu cầu dâng Thánh lễ hàng ngày cho người Công Giáo tại các căn cứ quân sự. (6) Doyle hiện được biết đến là một “linh mục không hoạt động và cựu thành viên của dòng Đa Minh”. (7)
Báo Boston Globe đăng tải thông tin gây chấn động
Chỉ chưa đầy một tuần sau khi bước sang năm 2002, báo Boston Globe đã đăng tải loạt bài về lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên trong Giáo Hội Công Giáo. Điều này đã gây chấn động cả nước và làm phẫn nộ người Công Giáo. Vào thời điểm đó, người ta chưa nhận ra rằng giới truyền thông sẽ lợi dụng vụ tai tiếng để bán những tiêu đề giật gân và có lẽ để làm suy yếu một định chế mà họ bác bỏ giáo lý của nó.
Năm 2002, việc đọc một bài báo về vụ tai tiếng mà rõ ràng là không công bằng, chứ đừng nói đến việc chống Công Giáo, là một sự kiện hiếm hoi. Báo Boston Globe, Boston Herald và New York Times đã đưa tin về câu chuyện này một cách cẩn thận và chuyên nghiệp. Các phát thanh viên thời sự buổi tối trên truyền hình cũng làm đúng nhiệm vụ của họ—đưa tin, chứ không bình luận. Peter Jennings đã thực hiện một chương trình đặc biệt kéo dài một giờ về vụ tai tiếng, được xử lý rất xuất sắc. Các vấn đề chúng tôi gặp phải với giới truyền thông chủ yếu giới hạn ở các nhà bình luận, họa sĩ biếm họa và người viết kịch bản cho các chương trình truyền hình. (8)
Tôi đã viết điều đó trong Báo cáo thường niên năm 2002 của Liên đoàn Công Giáo về chủ nghĩa chống Công Giáo.
Sự tức giận và phẫn nộ làm rung chuyển người Công Giáo hướng vào Giáo hội, chứ không phải vào giới truyền thông. Một bài báo trang nhất trên tờ New York Times Chúa nhật tháng 3 năm 2002 đã trích dẫn lời tôi nói rằng, “Tôi không phải là người hầu của nhà thờ. Tôi không ở đây để bảo vệ điều không thể bảo vệ.” (9) Đó không phải là điều tôi muốn nói—tôi nổi tiếng là người kiên quyết bảo vệ Giáo hội—nhưng sự thiếu trung thực về mặt trí tuệ là điều tôi khinh ghét.
Bài báo của tờ Times đã mô tả chính xác lập trường của tôi: “Ông ấy cũng nêu lên điều đã trở thành chủ đề nổi bật trong phản ứng của phe bảo thủ đối với vụ tai tiếng: rằng các nạn nhân của lạm dụng tình dục chủ yếu là các cậu bé vị thành niên—chứ không phải trẻ nhỏ hơn—và có mối liên hệ giữa lạm dụng và số lượng người đồng tính nam trong hàng giáo sĩ.” Tôi nói với tờ báo rằng chức tư tế đã “trở nên mềm yếu”, cho phép “một cuộc nổi loạn công khai chống lại đạo đức tình dục của Giáo hội”. Tôi cũng lưu ý rằng “một sự thiếu nam tính nhất định đã diễn ra”. (10) Điều này không được những người Công Giáo được gọi là tiến bộ đón nhận tốt.
Vào tháng 4 năm 2002, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã triệu tập các Hồng Y người Mỹ và các nhà lãnh đạo hội đồng giám mục đến gặp ngài trong cái gọi là “Hội nghị thượng đỉnh Vatican”. Đức Thánh Cha nói rằng “không có chỗ trong đời sống tu sĩ cho những kẻ lạm dụng”. (11) Lời nói của ngài không chỉ mang trọng lượng của người đứng đầu Giáo Hội Công Giáo, mà còn được đưa ra chỉ hai tháng trước cuộc họp thường niên của các giám mục Hoa Kỳ, những người đã hội họp năm đó tại Dallas.
Những gì Đức Giáo Hoàng nói đã được người Công Giáo đánh giá cao. Tuy nhiên, khi được hỏi vào thời điểm đó tôi nghĩ gì về tình trạng của Giáo hội, tôi không thể thừa nhận mình đã được xoa dịu. “Tôi không biết một linh mục hay giáo dân Công Giáo nào không phẫn nộ về vụ tai tiếng lạm dụng tình dục xét về sự dung thứ mà họ [hàng giáo phẩm] đã dành cho những hành vi không thể chấp nhận được, và cái cách họ chơi trò "giành ghế [music chairs]" với những linh mục bất hảo này. Tôi chưa từng thấy sự giận dữ nào lớn đến thế.” (12)
Khi hội nghị Dallas đến gần, người Công Giáo tỏ ra thận trọng. Tôi đã nói điều đó khi được tờ New York Times hỏi về niềm tin của tôi vào hàng giáo phẩm của Giáo hội trong việc khắc phục vấn đề: “Tôi không biết liệu họ có thể giải quyết ổn thỏa hay không. Vấn đề nằm ở những gì mà những người này đã thiếu từ trước đến nay—lẽ thường và lòng can đảm. Giờ đây, họ đang mất kiên nhẫn.” Người Công Giáo Mỹ sẽ không chờ đợi mãi mãi để Giáo hội này thay đổi.” (13) Tôi không phải là người duy nhất cảm thấy bất an. Những người theo chủ nghĩa tự do như Cha Richard McBrien và những người theo chủ nghĩa bảo thủ như Phil Lawler đều viện dẫn sự cần thiết của việc các giám mục phải thiết lập lại niềm tin của người Công Giáo; họ hoài nghi về triển vọng này. (14) Vài ngày trước cuộc họp, Ủy ban Đặc biệt về Lạm dụng Tình dục của các giám mục Hoa Kỳ đã công bố bản dự thảo tài liệu đề xuất sẽ được bỏ phiếu tại hội nghị. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm và nói vào thời điểm đó, “Bản dự thảo là một tài liệu hợp lý, có thể xoa dịu những nỗi sợ hãi tồi tệ nhất của giáo dân hoài nghi. Nó chu đáo, thẳng thắn và công bằng với tất cả các bên.” (15)
Ba ngày sau, tôi cảnh báo về một vấn đề mới sắp xảy ra: việc lợi dụng vụ tai tiếng bởi “các luật sư chạy đua vượt chướng ngại vật”. Cho dù được thúc đẩy bởi tiềm năng kiếm được lợi nhuận khổng lồ, sự khinh miệt đối với Giáo Hội Công Giáo, hay cả hai, những luật sư như vậy có thể gây tổn hại nghiêm trọng đến sứ mệnh của Giáo hội. Vào thời điểm đó, tôi đặt câu hỏi tại sao chỉ có các linh mục Công Giáo bị các luật sư nhắm đến, trong khi các mục sư, giáo sĩ Do Thái, giáo viên, nhân viên xã hội và nhà trị liệu lại được bỏ qua. Những luật sư này, cùng với các nhóm nạn nhân, muốn bãi bỏ thời tiêu trong các trường hợp lạm dụng tình dục của linh mục nhưng lại không quan tâm đến việc áp dụng điều này cho tất cả những người khác. Tôi nói: “Không có hành vi sai trái nào của Giáo hội biện minh cho những nỗ lực cướp bóc nguồn lực của Giáo hội bằng cách viết lại luật. Đây là việc làm của những tên cướp đội lốt luật sư.” (16)
Vào ngày 7 tháng 6 năm 2002, tờ New York Times đã đăng một bài bình luận mà tôi đã viết, “Tất cả mọi ánh mắt đều đổ dồn về Dallas”. Tôi bày tỏ mối lo ngại rằng “ngay cả những hướng dẫn được viết tốt nhất cũng không thể chấm dứt vụ tai tiếng.” Tôi nói rằng điều cần thiết chính là điều mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã kêu gọi tại “Hội nghị thượng đỉnh Vatican” hồi tháng Tư – cụ thể là, “các mục tử của Giáo hội cần phải công khai thúc đẩy giáo huấn đạo đức đúng đắn của Giáo hội và khiển trách những cá nhân gieo rắc sự bất đồng chính kiến.” Tôi nói thêm rằng, “Không ngoa khi nói rằng không gì tạo điều kiện cho sự lệch lạc về hành vi hơn là sự bất đồng về thần học.” (17)
Quá trình chuẩn bị cho sự kiện Dallas kết thúc với một điềm báo chẳng lành. Chính vào đêm trước hội nghị các giám mục, chương trình 60 Minutes của đài CBS đã giới thiệu cho người Mỹ về những hành vi kinh hoàng của Gilbert Gauthe và về sự phạm tội kinh hoàng không kém của các viên chứcGiáo hội. Các giám mục đã bị dồn vào chân tường. Phần chương trình 60 Minutes về Gauthe đã đặt nền móng cho những gì sắp xảy ra.
Các Cải cách Dallas và các Linh mục Bị buộc tội
Hiến chương Dallas (Hiến chương Bảo vệ Trẻ em và Thanh thiếu niên) là một danh sách toàn diện các cải cách đã làm giảm bớt sự phẫn nộ của hầu hết người Công Giáo. Nó thành lập một Hội đồng Đánh giá Quốc gia để tiến hành đánh giá hàng năm về cách các giáo phận và giáo phận Đông phương giải quyết vấn nạn lạm dụng tình dục của giáo sĩ. Văn phòng Bảo vệ Trẻ em và Thanh thiếu niên cũng được thành lập để theo dõi vấn đề này. Nó đã phát triển các chuẩn mực cho các giáo phận và giáo phận Đông phương, bao gồm các hội đồng đánh giá sẽ điều tra các cáo buộc lạm dụng ở cấp địa phương. Điều quan trọng cần lưu ý là các điều khoản bảo mật trong thỏa thuận dàn xếp với nạn nhân bị cấm (trừ khi nạn nhân yêu cầu). Giáo Hội Công Giáo không được ghi nhận xứng đáng về việc cấm các thỏa thuận bảo mật. Điều này hoàn toàn trái ngược với thông lệ phổ biến ở những nơi khác. Ví dụ, các ngôi sao Hollywood bị cáo buộc hành vi sai trái tình dục thường xuyên sử dụng các thỏa thuận bảo mật. Những thỏa thuận bí mật như vậy đã cho phép Bill Cosby và Harvey Weinstein thoát tội với hành vi săn mồi của họ trong nhiều thập niên. (18) Một trong những người giúp Weinstein đàm phán các thỏa thuận bí mật là luật sư nữ quyền Gloria Allred. (19) Có vẻ như trong nhiều năm, nhiều phụ nữ chuyên nghiệp tự coi mình là người theo chủ nghĩa nữ quyền đã im lặng hoặc thậm chí đồng lõa với hành vi sai trái tình dục ở cấp cao nhất của xã hội, cho đến khi phong trào Me Too bắt đầu.
Có lẽ cải cách gây tranh cãi nhất được thực hiện tại hội nghị Dallas là việc áp dụng chính sách “không khoan dung”: nó cho phép loại bỏ vĩnh viễn một linh mục hoặc phó tế khỏi chức vụ nếu người đó thừa nhận lạm dụng tình dục hoặc bị kết tội. Tuy nhiên, chính sách này không áp dụng cho các giám mục (sau đó Vatican đã áp dụng). Việc “không khoan dung” đối với bất cứ ai lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên, thoạt nhìn, nghe có vẻ là một phản ứng hoàn toàn chính đáng đối với một tội ác kinh hoàng. Tuy nhiên, vẫn có nguy cơ đẩy con lắc đi quá xa, và điều này khiến một số người Công Giáo ngần ngại. “Nhưng có một vấn đề liên quan đến quyền của người bị buộc tội”, tôi nói. “Có vẻ như hiến chương có thể bỏ qua một số quyền tố tụng công bằng.” (20)
Không ai chỉ trích mạnh mẽ hơn Hồng Y Avery Dulles về việc thiếu thủ tục tố tụng công bằng đối với các linh mục bị buộc tội. Ngài nói rằng văn kiện của các giám mục “đặt một mối quan hệ rất đối kháng giữa giám mục và linh mục. Linh mục không còn có thể tâm sự với giám mục của mình về vấn đề mà ông gặp phải nữa. Ông phải rất cẩn thận với những gì mình nói với giám mục vì giám mục có thể đuổi ông ra khỏi chức vụ suốt đời.” (21)
Dulles đã nêu ra những lo ngại của mình về Hiến chương Dallas trên các trang của America, tạp chí Dòng Tên có ảnh hưởng. Đề cập đến “quy tắc không khoan dung”, ngài viết, “Các giám mục đã áp dụng chính những nguyên tắc mà họ đã lên án trong lời chỉ trích của họ đối với hệ thống tư pháp thế tục.” Ngài đau lòng trước viễn cảnh một linh mục bị buộc tội bị loại khỏi chức vụ mà không quan tâm đến các quyền tố tụng công bằng của ông; ngoài sự bất công đối với vị linh mục, động thái này sẽ khiến các tín hữu tin rằng ông ta có tội, mà không cần phải chứng minh điều đó. Dulles cũng lo ngại về sự mơ hồ trong ngôn ngữ của hiến chương và việc nó không phân biệt giữa các tội nhẹ và các tội nghiêm trọng hơn. Sau đó là vấn đề xét xử các vụ án cũ. Điều này không dễ thực hiện khi người ta xem xét rằng “ký ức phai nhạt hoặc bị bóp méo, nhân chứng chết hoặc rời khỏi khu vực, và bằng chứng vật lý trở nên khó thu thập hơn”. Ngài đặc biệt phẫn nộ vì các giám mục đã không đưa vào hiến chương điều mà Giáo hoàng đã khẩn cầu họ xem xét: “sức mạnh của sự hoán cải Kitô giáo”. (22)
Dulles không phải là người duy nhất bày tỏ sự dè dặt về chính sách “không khoan dung”. Trên thực tế, bốn tháng trước khi Hiến chương Dallas được ban hành, Học viện Giáo hoàng về Sự sống của Vatican đã công bố một báo cáo của các bác sĩ tâm thần và nhà tâm lý học không phải người Công Giáo, những người nói rằng chính sách “không khoan dung” là sai lầm. (23) Ngay cả tờ New York Times cũng thừa nhận rằng mặc dù họ ủng hộ “không khoan dung”, nhưng họ vẫn cảnh báo chống lại việc phản ứng thái quá. “Chúng tôi không ủng hộ việc tước bỏ chức vụ của những người phạm tội một lần đã tự cải tạo”, một bài xã luận viết. “Giống như các giám mục, chúng tôi tin vào sự phục hồi và chuộc tội.” Quan điểm của tờ báo được công bố ngay trước khi hội nghị Dallas triệu tập. (24)
Vào tháng 10 năm 2002, Vatican đã bổ nhiệm một ủy ban chung gồm các giám mục, bốn từ Hoa Kỳ và bốn từ Tòa Thánh, để sửa đổi một số điều khoản của Hiến chương Dallas; những thay đổi đã được trình lên các giám mục Hoa Kỳ tại cuộc họp tiếp theo của họ vào tháng 11. Vatican đã phản đối một cách chính đáng một số điểm mơ hồ trong hiến chương và việc thiếu các quyền tố tụng công bằng cho các linh mục bị cáo buộc. Một số người đã chỉ trích ủy ban chung, nhưng không ai chỉ trích hơn Cha Andrew Greeley. Không có bất cứ bằng chứng nào, ông nói rằng các Hồng Y xem xét hiến chương “tin chắc rằng cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục được tạo ra bởi các phương tiện truyền thông do người Do Thái kiểm soát để trừng phạt nhà thờ vì sự ủng hộ của nhà thờ đối với một nhà nước Palestine”. (25)
Cha Thomas G. Guarino, một giáo sư thần học tại Đại học Seton Hall, là một người bảo vệ xuất sắc các quyền của các linh mục. Cha lập luận rằng “hầu như mọi cáo buộc đều được coi là ‘đáng tin cậy’ trừ khi người bị cáo buộc có thể chứng minh rằng ba mươi năm trước (và hầu hết các cáo buộc đều từ nhiều thập niên trước) ngài đang ở một lục địa khác khi vụ lạm dụng bị cáo buộc xảy ra. Nói cách khác, ‘đáng tin cậy’ giờ đây có nghĩa là ‘không hoàn toàn bất khả hữu.’” (26) Nhìn lại những gì đã xảy ra ở Dallas, Guarino không hài lòng. “Các giám mục đã bị lừa trong Hiến chương, do các chuyên viên quan hệ công chúng và luật sư bịa đặt ra nhưng không có nền tảng thần học Công Giáo vững chắc. Và giờ đây họ quá bị khiếp sợ—bởi các tổng chưởng lý, giới truyền thông, luật sư, các nhóm vận động và giáo dân bất mãn—đến không thể tìm kiếm công lý.” (27)
Thật đáng buồn khi lưu ý rằng gần hai thập niên sau khi vụ tai tiếng được công khai, Hồng Y Daniel DiNardo, người lúc đó là chủ tịch hội đồng giám mục, thừa nhận rằng các luật sư vẫn đang nghiên cứu xem thế nào là bị “buộc tội một cách đáng tin cậy”. (28) Điều đáng lo ngại hơn nữa là gánh nặng chứng minh đã bị đảo ngược: thay vì một linh mục vô tội cho đến khi được chứng minh là có tội, thì giờ đây ngài bị coi là có tội cho đến khi được chứng minh là vô tội. Không ai hiểu điều này rõ hơn Hồng Y George Pell, người đã bị bỏ tù vì một tội ác mà ngài không phạm phải. Mặc dù cuối cùng ngài đã được minh oan, nhưng trong nhiều năm, ngài đã phải chịu đựng sự lên án của các nhà hoạt động, luật gia và chuyên gia, những người chấp nhận các cáo buộc chống lại ngài mà không có bằng chứng khi họ tiến hành các thủ tục pháp lý thông qua hệ thống tư pháp Úc. (29)
Tình hình thật đáng ngại. Tôi nhận được thư từ các linh mục, bao gồm cả các giám mục, lo ngại về cách thức xác định tội lỗi đang được thực hiện—ở một số giáo phận, chỉ cần rất ít bằng chứng là đủ để bồi thường cho các nạn nhân bị cáo buộc, ngay cả những người có câu chuyện rất mơ hồ. Một linh mục 85 tuổi đã liên hệ với tôi vì ngài bị một người nghiện ma túy cáo buộc về một tội danh được cho là đã xảy ra cách đây 40 năm, và lời bào chữa vô tội của ngài chẳng có ý nghĩa gì—tên ngài bị đăng trên báo của giáo phận với tư cách là một linh mục bị cáo buộc. Người đàn ông này đang bị tước đoạt quyền được coi là vô tội; danh tiếng của ngài đang bị hủy hoại trước khi tội lỗi của ngài được chứng minh. Ngay cả khi ngài có tội, cách đối xử này cũng vi phạm các nguyên tắc công lý của đất nước chúng ta. Nếu ngài vô tội, đây là một sự bất công. Và ngài không phải là người duy nhất. Ngay cả những linh mục bị cáo buộc và được tuyên bố vô tội vẫn có tên được đăng trên các trang web của giáo phận trong số những người bị cáo buộc.
Tổn thương về mặt tinh thần trong những trường hợp như thế này không chỉ giới hạn ở các linh mục. “Tên chú tôi xuất hiện trong danh sách các linh mục bị cáo buộc lạm dụng tình dục do Tổng giáo phận Baltimore công bố tuần trước. Tôi muốn gọi cho chú ấy và hỏi tôi nên nghĩ gì về điều này, nhưng chú ấy đã mất năm 1981. Công bằng ở đâu khi bôi nhọ những người không còn ở đây để tự bào chữa?” Tuyên bố này được đăng tải trong một bức thư gửi cho tờ Washington Post vào năm 2019. (30)
Điều đáng lo ngại hơn nữa là những yêu cầu công khai cho rằng các linh mục không được hưởng bất cứ quyền tố tụng nào. Một số người muốn các linh mục bị loại bỏ khỏi chức vụ ngay lập tức khi có cáo buộc. “Chúng tôi hiểu rằng đó là sự vi phạm quyền tố tụng của linh mục – bạn vô tội cho đến khi bị chứng minh là có tội – nhưng chúng ta đang nói về những người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội của chúng ta và đó là trẻ em.” (31) Nếu đây chỉ là những suy nghĩ của một blogger, nó sẽ không có ý nghĩa gì nhiều. Nhưng đây là quan điểm của Anne Burke, người từng đứng đầu Hội đồng Đánh giá Quốc gia đầu tiên được các giám mục ủy nhiệm để giải quyết vấn nạn lạm dụng tình dục của giáo sĩ. Vào thời điểm đó, bà là thẩm phán Tòa phúc thẩm Illinois; sau đó bà được thăng chức lên chánh án của tòa án.
Trong một cuộc phỏng vấn tôi đã thực hiện tại văn phòng với một nữ phóng viên của CNN, cô ấy đã chỉ trích gay gắt Giáo hội vì không đăng tên các linh mục bị cáo buộc trên các trang web của giáo phận. Tôi nhấc điện thoại lên và, cầm nó trong tay, hỏi cô ấy tên và số điện thoại của sếp cô ấy. Khi cô ấy hỏi Tôi nói rằng tôi sẽ tố cáo cô ta tội quấy rối tình dục. Tôi nói thêm rằng tôi muốn xem CNN có đăng tên cô ta lên trang web của họ hay không. Cô ta nói, "Tôi hiểu rồi." Tôi cúp điện thoại.
Không một tổ chức nào ở Hoa Kỳ được yêu cầu công bố tên của các nhân viên bị cáo buộc có hành vi sai trái về tình dục, ngoại trừ Giáo Hội Công Giáo. Yêu cầu này thật vô lý và không công bằng, và không thuyết phục được ai. Giáo hội không nên làm điều này. Thay vào đó, Giáo hội nên kiên quyết đòi hỏi sự công bằng và bảo vệ quyền lợi của các linh mục bị cáo buộc, giống như mọi tổ chức khác trong nước bảo vệ nhân viên của mình.
Phạm vi của vụ tai tiếng
Vào tháng 2 năm 2004, các nhà nghiên cứu tại Trường Cao đẳng Tư pháp Hình sự John Jay đã công bố báo cáo "Bản chất và phạm vi lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên bởi các linh mục và phó tế Công Giáo ở Hoa Kỳ từ năm 1950 đến năm 2002". Theo báo cáo này, khoảng 4% giáo sĩ Công Giáo trong giai đoạn nghiên cứu đã bị cáo buộc lạm dụng tình dục trẻ em dưới 18 tuổi. Người ta phát hiện ra rằng 75% các vụ lạm dụng xảy ra từ năm 1960 đến năm 1984. (32) Những người khác đã xem xét dữ liệu, chẳng hạn như tờ New York Times, kết luận rằng "hầu hết các vụ lạm dụng xảy ra vào những năm 1970 và 1980" và rằng con số linh mục bị cáo buộc “giảm mạnh vào những năm 1990”. (33) Mọi người đều đồng ý rằng những năm 1970 là thập niên tồi tệ nhất.
Có bao nhiêu trẻ vị thành niên bị cáo buộc lạm dụng? Năm 1993, Cha Andrew Greeley, một nhà xã hội học, đã suy đoán rằng có “hơn 100,000” nạn nhân. (34) Tuy nhiên, các nhà khoa học xã hội của Đại học John Jay lại đưa ra con số là 10,667. (35) Tại sao Greeley lại sai lệch nhiều như vậy? Bởi vì ngài cho rằng trung bình cứ mỗi linh mục lạm dụng thì có 50 nạn nhân. (36) Con số chính xác là một. (37)
Các nạn nhân là ai? “Đa số nạn nhân (81%) là nam giới, trái ngược với sự phân bố theo giới tính nạn nhân của các tội phạm tình dục ở Hoa Kỳ.” Điều quan trọng là, nghiên cứu của Đại học John Jay đã phát hiện ra rằng ấu dâm không phải là vấn đề, mặc dù giới truyền thông liên tục nhắc đến "các linh mục ấu dâm". Thật vậy, nghiên cứu này cho thấy 78% nạn nhân đã qua tuổi dậy thì. (38) Khoảng một nửa số nạn nhân tố cáo bị lạm dụng đã giao tiếp với các linh mục bên ngoài nhà thờ, và các linh mục thường được mời đến nhà của gia đình họ. (39)
Có bao nhiêu lời tố cáo được chứng thực? Một bản dự thảo báo cáo của nghiên cứu John Jay được gửi cho các giám mục ước tính rằng 61% lời tố cáo đã được chứng thực. (40) Vì một lý do không rõ, khi báo cáo được công bố, con số này đã tăng lên 80%. (41) Ấn tượng mà công chúng có được là hầu như tất cả các linh mục bị buộc tội đều có tội.
Theo một cuộc khảo sát của tờ Washington Post được công bố năm 2002, chưa đến 1.5% trong số khoảng 60,000 người đàn ông trở lên phục vụ trong hàng giáo sĩ Công Giáo bị cáo buộc lạm dụng tình dục trẻ em. (42) Một cuộc khảo sát của tờ New York Times báo cáo rằng 1.8% trong số tất cả các linh mục được thụ phong từ năm 2002 đến nay đã phạm tội ấu dâm. Từ năm 1950 đến năm 2001, một số linh mục bị cáo buộc lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên. (43) Thomas Kane, tác giả của cuốn sách "Linh mục cũng là con người", ước tính vào năm 2002 rằng có từ 1 đến 1.5% linh mục bị buộc tội. (44) Cũng trong năm 2002, hãng thông tấn AP (Associated Press) phát hiện ra rằng khoảng 0.67% linh mục đương thời đang bị điều tra. (45)
Mọi người đều đồng ý rằng không một linh mục nào được phép lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên. Nhưng cũng cần phải nhấn mạnh rằng bằng chứng cho thấy hầu hết các linh mục chưa bao giờ bị buộc tội lạm dụng người trẻ tuổi. Sự thật này không nhận được sự chú ý xứng đáng. Tại sao? Bởi vì nó không phù hợp với câu chuyện mà nhiều phương tiện truyền thông đã chấp nhận. Cha Greeley đã rất bức xúc với giới truyền thông vì không nhấn mạnh rằng hầu hết các linh mục đều là "những người đàn ông trưởng thành, hạnh phúc" đến nỗi ngài kết luận, "Cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục đã trở thành dịp để chỉ trích người Công Giáo và những người sống độc thân." Ngài vô cùng phẫn nộ với tờ New York Times vì những bài báo tiêu cực, nói rằng tờ báo đã “vượt qua ranh giới thù địch và xâm phạm lãnh địa của chủ nghĩa bài Công Giáo cực đoan”. (46)
Hành vi phổ biến nhất mà các linh mục bị cáo buộc là sờ mó qua quần áo của nạn nhân (52.6%). Tuy nhiên, tương đối ít linh mục bị cáo buộc chỉ thực hiện hành vi này. (47) Mặt khác, hầu hết những kẻ lạm dụng không có hàng trăm nạn nhân, như một số người đã cáo buộc.
“Đa số linh mục (56%) bị cáo buộc lạm dụng một nạn nhân, gần 27% bị cáo buộc lạm dụng hai hoặc ba nạn nhân, gần 14% bị cáo buộc lạm dụng từ bốn đến chín nạn nhân và 3.4% bị cáo buộc lạm dụng hơn mười nạn nhân.” Thống kê tiếp theo này hiếm khi được báo cáo: “149 linh mục (3.5%) có hơn mười cáo buộc lạm dụng được cho là chịu trách nhiệm lạm dụng 2,960 nạn nhân, do đó chiếm 26% số cáo buộc. Do đó, chỉ một tỷ lệ rất nhỏ các linh mục bị buộc tội chịu trách nhiệm cho một tỷ lệ đáng kể các cáo buộc” (tôi nhấn mạnh). (48)
Điều này thật đáng kinh ngạc. Trong số 4,393 linh mục bị cáo buộc từ năm 1950 đến năm 2002 (không phải tất cả đều được chứng minh), chỉ có 149 người trong số họ chiếm hơn một phần tư số cáo buộc. Dữ liệu như vậy bác bỏ quan niệm thông thường rằng hầu hết các linh mục đều là những kẻ săn mồi. Đó là một lời nói dối độc ác.