
R. R. Reno, chủ bút tạp chí First Things, ngày 24 tháng 7 năm 2026, cho hay: Trong bài “Sự kết thúc của thời đại Hitler” (tháng 11 năm 2024), Alec Ryrie nhận xét rằng, khi chủ nghĩa thế tục phát triển trong những thập niên gần đây, Thế chiến II đã thay thế Tân Ước trở thành nguồn định hướng đạo đức của chúng ta. Cuộc xung đột lớn này đã trở thành “cơ sở cho những niềm tin cơ bản nhất của chúng ta về điều gì là tốt và điều gì là xấu”. Ryrie suy đoán rằng sức mạnh huyền thoại của cuộc chiến đang suy yếu. Tôi hy vọng là vậy, bởi vì hơn tám mươi năm sau khi chiến tranh kết thúc, những bài học của nó, được thế hệ Baby Boomers coi như chân lý tuyệt đối, giờ đây lại gây hại nhiều hơn là có lợi.
Thế chiến II khuyến khích một tư duy nhị nguyên, một tư duy vội vàng mô tả các cuộc xung đột như những cuộc đụng độ lịch sử thế giới giữa cái ác không thể dung thứ và cái thiện không thể chê vào đâu được. Có lẽ quan niệm này phù hợp trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa Quốc xã. Winston Churchill đã cảnh báo rằng, nếu Hitler không bị ngăn chặn, thế giới sẽ phải chịu đựng một “Thời kỳ đen tối mới, trở nên nham hiểm hơn và có lẽ kéo dài hơn bởi ánh sáng của khoa học bị bóp méo”. Những tiết lộ về tội ác diệt chủng của Đức Quốc xã đã chứng minh lời tiên tri đen tối của Churchill là đúng.
Nhưng công việc của con người hiếm khi mang bản chất như vậy. Alexander Solzhenitsyn, người không xa lạ gì với những điều ác của chủ nghĩa toàn trị, đã nhận xét: “Ranh giới phân chia thiện và ác không đi qua các quốc gia, cũng không giữa các giai cấp, hay giữa các đảng phái chính trị—mà đi xuyên qua mỗi trái tim con người—và xuyên qua tất cả trái tim con người”. Nhà văn vĩ đại người Nga đã mô tả ý nghĩa của câu nói nổi tiếng của Chúa Giê-su: “Ai không có tội lỗi thì hãy ném đá trước”. Câu nói này không nhằm mục đích tước vũ khí của chúng ta và ngăn cản hành động vì những chính nghĩa. Chúa Giê-su muốn khuyến khích sự tự xét mình, điều này tạo ra nhận thức rằng những chính nghĩa của chúng ta không bao giờ thuần khiết và không tì vết, cũng như nhận ra rằng những người theo đuổi những chính nghĩa bất chính cũng có những động cơ lẫn lộn. Bởi vì chúng ta không phải là thiên thần, sự công chính và sự gian ác của con người không bao giờ hoàn toàn trong sạch.
Một nhà sử học tỉnh trí nhận ra rằng Thế chiến II phản ánh sự mơ hồ về mặt đạo đức không thể tránh khỏi của thân phận con người. Mặc dù Franklin Roosevelt chưa bao giờ nói thẳng ra điều đó, nhưng những quyết định thời chiến của ông được thúc đẩy bởi mong muốn Hoa Kỳ thay thế các cường quốc châu Âu trở thành trọng tài trong các vấn đề hoàn cầu. Hơn nữa, tại Hội nghị Yalta, Franklin Roosevelt đã nhượng toàn bộ các dân tộc cho sự thống trị của Liên Xô ở Đông Âu. Và các cuộc ném bom tiêu diệt dân cư của phe Đồng minh, tuyệt đỉnh là việc sử dụng bom nguyên tử, đã giết chết hàng trăm nghìn thường dân vô tội. Phe chính nghĩa đã thắng, đúng vậy, nhưng họ cũng không tránh khỏi những sai phạm.
Tuy nhiên, tư duy nhị nguyên gần như không thể cưỡng lại được đối với thế hệ Baby Boomer, những người nhìn Thế chiến II qua lăng kính huyền thoại hơn là một chuỗi sự kiện thực tế phức tạp và ở nhiều khía cạnh là không may mắn, như những người đã sống qua những năm tháng khốc liệt của cuộc chiến tranh tổng lực đó đã biết rất rõ. Nhiều người thuộc thế hệ Baby Boomer đã thể hiện sự trong sạch về mặt đạo đức của mình bằng cách phản đối chiến tranh khi còn trẻ. Trong những năm cuối đời, khi đã nắm giữ quyền lực và các vị trí trách nhiệm, họ luôn háo hức tô vẽ công lao của mình bằng những lời lẽ cao cả, mà những quan niệm lý tưởng hóa về Thế chiến II là nền tảng.
Hãy xem xét cuộc chiến ở Ukraine. Sau lễ nhậm chức, Donald Trump đã khởi xướng các cuộc đàm phán với Moscow, hy vọng tìm được một giải pháp chấm dứt chiến tranh. Christian Caryl trên tạp chí Foreign Policy đã đăng một bài viết chỉ trích mạnh mẽ, so sánh nỗ lực của Trump với Neville Chamberlain, người đã thỏa thuận với Hitler vào năm 1938. Thomas Friedman trên tờ New York Times cũng có quan điểm tương tự, trao cho Trump "Giải thưởng Hòa bình Neville Chamberlain". Họ đã dựa trên huyền thoại về Thế chiến II, trong đó nỗ lực của Neville Chamberlain tại Munich năm 1938 nhằm ngăn chặn (hoặc ít nhất là trì hoãn) chiến tranh với Hitler không chỉ là một tính toán sai lầm về ngoại giao mà còn là một sự phản bội ghê tởm và kinh hoàng, một sự thất bại thiển cận khi không nhận ra rằng người ta không bao giờ được đàm phán với cái ác.
Nhưng điều đó thật vô lý. Vladimir Putin không phải là Adolf Hitler. Sự gây hấn thiếu suy nghĩ của nhà lãnh đạo Nga đã không mang lại những chiến thắng lớn. Nỗi hoài niệm về sự thống trị đế quốc Nga của ông ta rất nguy hiểm và cần phải được chống lại, nhưng nó không xuất phát từ những ý niệm viển vông về đặc quyền vô hạn của một chủng tộc thượng đẳng, cũng không phải do hệ tư tưởng hư vô về sự tối thượng của ý chí.
Tôi e rằng chúng ta sẽ phải chịu đựng những sự tương đồng với Thế chiến II khi Trump tìm kiếm một giải pháp hòa bình với Iran. Sau vụ tấn công ngày 11 tháng 9, Christopher Hitchens đã phổ biến thuật ngữ “chủ nghĩa Hồi giáo phát xít”. Douglas Murray gần đây đã mô tả sự kiện ngày 7 tháng 10 và phản ứng của Israel như một cuộc đấu tranh với một “giáo phái tử thần”, mà tương lai của nền văn minh phụ thuộc vào đó. Chúng ta liên tục được khuyến khích nhìn các cuộc xung đột ngày nay qua lăng kính của năm 1939.
Việc nâng cao mức độ nghiêm trọng của vấn đề theo cách này khuyến khích việc theo đuổi chiến thắng tuyệt đối, sự thất bại hoàn toàn của kẻ thù. Tại Hội nghị Casablanca của phe Đồng minh năm 1943, Franklin Roosevelt đã nhấn mạnh chính sách đầu hàng vô điều kiện đối với các nước phe Trục. Chính sách này có nghĩa là các cường quốc Đồng minh (trên thực tế là Hoa Kỳ) sẽ có một quyền tự do nhất định. Chúng ta đã góp phần vào việc tái thiết nước Đức và Nhật Bản.
Mô hình lịch sử này được lặp lại trong những lời kêu gọi đánh bại hoàn toàn Iran và loại bỏ các lực lượng ủy nhiệm của nước này. Một tham vọng tương tự đã đặc trưng cho Cuộc chiến chống khủng bố, được thể hiện rõ nhất qua những nỗ lực thất bại ở Iraq và Afghanistan. Một số nhà bình luận khẳng định rằng chúng ta đã thất bại vì không nỗ lực đủ; Mỹ đã không “kiên trì” và đạt được những điều kiện cho phép chúng ta thành công ở Đức và Nhật Bản. Giờ đây, chúng ta được cho biết rằng chúng ta phải học hỏi từ những thất bại đó và sử dụng càng nhiều sức mạnh và quyết tâm chống lại Iran càng tốt để chấm dứt khả năng gây rối của quốc gia này ở Trung Đông.
Tham vọng này có vẻ lý tưởng, lập trường của những người coi trọng cái ác và tìm kiếm một thế giới tốt đẹp hơn. Tôi nghĩ thực tế lại khác. Khoảng 10% dân số Đức đã chết trong Thế chiến II, và đất nước bị san phẳng. Để đạt được mức độ tàn phá này, cần phải huy động toàn bộ lực lượng của Hoa Kỳ, điều đã làm thay đổi căn bản đất nước, như những người bảo thủ như Russell Kirk và Richard Weaver đã than thở. Quân đội Mỹ đã chiếm đóng Đức, và họ vẫn còn ở đó cho đến ngày nay. Và dĩ nhiên, việc đảm bảo Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện đòi hỏi phải sử dụng vũ khí hạt nhân.
Có những lập luận xác đáng cho mọi quyết định chiến lược và chiến thuật được các nhà lãnh đạo Mỹ đưa ra trong và sau Thế chiến II. Nhưng chúng ta nên nhận ra rằng, xét về tổng thể, cuộc chiến là một thảm họa đối với nền văn minh phương Tây. Chính sự tàn bạo của nó – các nhà sử học ước tính số người chết từ 70 triệu đến 85 triệu người – đã dẫn đến chủ nghĩa hư vô ăn mòn tâm hồn, thứ đang đe dọa tương lai của phương Tây một cách sâu sắc hơn cả kẻ thù bên ngoài của chúng ta ngày nay. Những người hiện đang viện dẫn tiền lệ của cuộc chiến đó để định hướng chính sách đối ngoại của Mỹ là sai lầm và đang gây hiểu lầm. Nếu Hoa Kỳ làm với Iran những gì đã làm với Đức và Nhật Bản, chiến thắng quân sự có thể đạt được, nhưng cái giá phải trả về mặt đạo đức sẽ đánh đổ bất cứ nền tảng nào còn sót lại trong sự tự tin của nền văn minh chúng ta.
Cuộc chiến ở Ukraine và cuộc đối đầu với Iran (và cuộc Chiến tranh Lạnh đang hình thành với Trung Quốc) không phải là những cuộc đấu tranh khổng lồ giữa các hệ tư tưởng hiện đại tranh giành quyền thống trị toàn cầu, như huyền thoại về Thế chiến II khuyến khích chúng ta tin tưởng. Chúng ta cần phải quên đi một cách sáng tạo những bài học được cho là rút ra từ cuộc xung đột đã qua từ lâu. Bởi vì lối suy nghĩ cứng ngắc, mang tính thần thoại cản trở một trong những nhiệm vụ quan trọng của các chính khách: tìm ra những thỏa hiệp khả thi, tất yếu là không hoàn hảo và không bao giờ vĩnh viễn, cũng như các giải pháp cho những xung đột giữa các quốc gia, để con người không bị nghiền nát một cách vô ích trong chiến tranh.