
Trong Mười Ngày Vì Hòa Bình hàng năm của Nhật Bản, các cuộc chiến tranh đang lan rộng khắp thế giới không chỉ kêu gọi sự cảm thông mà còn kêu gọi tình liên đới, bắt nguồn từ niềm tin rằng mỗi người, bất kể quốc tịch hay tôn giáo, đều là con cái Thiên Chúa và phẩm giá của họ phải được bảo vệ.
William J Grimm, trong mục Global Catholic của hãng tin UCANews, ngày 12 tháng 8 năm 2026, cho hay: Mỗi tháng Tám, Giáo Hội Công Giáo tại Nhật Bản tổ chức Heiwa Jyunkan, Mười Ngày Vì Hòa Bình. Thời kỳ này bắt đầu vào ngày 6 tháng 8, kỷ niệm vụ ném bom nguyên tử Hiroshima, kéo dài đến ngày 9 tháng 8, kỷ niệm vụ ném bom Nagasaki, và kết thúc vào ngày 15 tháng 8, kỷ niệm ngày Nhật Bản đầu hàng kết thúc Thế chiến thứ hai.
Đây là thời kỳ mà các tín hữu Công Giáo Nhật Bản được kêu gọi tưởng nhớ cuộc chiến đó và vai trò của Nhật Bản trong đó, cầu nguyện cho hòa bình, và suy gẫm về những gì chúng ta phải làm ngày nay để trở thành những người kiến tạo hòa bình.
Tuy nhiên, mười ngày này không chủ yếu là thời gian để tưởng nhớ các sự kiện của tám thập niên trước. Có rất ít người còn sống nhớ những ngày đó, và con số này đang giảm dần mỗi ngày. Ngày nay có quá nhiều chiến tranh đến nỗi chúng ta không cần phải nhìn lại quá khứ.
Sự đầu hàng của Nhật Bản đã kết thúc cuộc chiến tranh tồi tệ nhất trong lịch sử, nhưng như Đức cố Giáo hoàng Phanxicô đã nhận xét, “Ngay cả ngày nay, sau thất bại thứ hai của một cuộc thế chiến khác, có lẽ người ta vẫn có thể nói về một cuộc chiến thứ ba, một cuộc chiến được tiến hành từng phần, với tội ác, thảm sát, tàn phá.”
Đức Hồng Y Isao Kikuchi, tổng giám mục Tokyo và chủ tịch Hội đồng Giám mục Công Giáo Nhật Bản, đã viết một thông điệp cho sự kiện năm nay, 2026 Mười Ngày vì Hòa bình: Xây dựng một thế giới hòa bình trong tình liênn đới.
“Chiến tranh và xung đột đang lan rộng khắp thế giới, bao gồm Ukraine, Sudan, Myanmar và Trung Đông, trong đó có Gaza. Trên những chiến trường này, mỗi người bị thương hoặc mất mạng một cách bạo lực đều là con người giống như chúng ta, được tạo ra theo hình ảnh Thiên Chúa,” ngài viết.
“Điều nghiêm trọng hơn nữa là bạo lực như vậy được biện minh là ‘không thể tránh khỏi’, bỏ qua những nguyên tắc phổ quát như luật nhân đạo quốc tế và phẩm giá con người. Khuôn khổ của chủ nghĩa đa phương đang bị lung lay sâu sắc. Lời thề ‘không bao giờ nữa’ của nhân loại, được sinh ra như một tiếng kêu từ nỗi kinh hoàng của các cuộc chiến tranh trong quá khứ, đã đi về đâu rồi?”
Những người cho rằng chiến đấu là “không thể tránh khỏi” thường là những người lựa chọn gây ra bạo lực bằng cách xâm lược người khác ngay từ đầu. Vladimir Putin ở Ukraine, Donald Trump ở Iran và Benjamin Netanyahu ở Gaza là những ví dụ rõ ràng về những kẻ gây hấn, vì lý do cái tôi hoặc sự cuồng nộ mà đã châm ngòi cho những cuộc chiến tranh mà chúng ta đang sống và chết cùng ngày nay.
Đức Hồng Y Kikuchi trích dẫn lời của Đức Giáo Hoàng Leo: “Tôi tiếp tục lên tiếng mạnh mẽ chống lại chiến tranh, tìm cách thúc đẩy hòa bình, đối thoại và chủ nghĩa đa phương giữa các quốc gia để tìm ra giải pháp cho các vấn đề. Quá nhiều người đang đau khổ ngày nay, quá nhiều sinh mạng vô tội đã bị mất đi, và tôi tin rằng ai đó phải đứng lên và nói rằng có một con đường tốt hơn.”
Nhưng tiếng kêu than ở đâu? Những “ai đó” kêu gọi một con đường tốt hơn ở đâu? Cái chết và thương tích bừa bãi, sự tàn phá sinh kế và xã hội của người dân, sự phá hủy cơ sở hạ tầng, sự suy thoái môi trường, sự lãng phí nguồn lực kinh tế và khả năng leo thang xung đột đã nhận được sự chú ý rất hạn chế.
"Là Giáo Hội nghĩa là phải liên đới. Tại sao chúng ta không nhấn mạnh đức tính đó trong giáo lý, trong bài giảng, trong lời cầu nguyện của mình?"
Ở Hoa Kỳ, dường như những cảm xúc tiêu cực duy nhất mà mọi người bày tỏ thường liên quan đến giá cả tăng cao tại các trạm xăng và siêu thị do tình hình ở eo biển Hormuz. Cho đến khi cuộc chiến tranh thế giới thứ ba nhỏ lẻ này ảnh hưởng đến họ tại các trạm xăng, ít ai tỏ ra quan tâm. Họ dường như không nhận ra rằng mỗi quả bom phát nổ đều xuất phát từ túi tiền của chính họ.
Làm sao những người tử tế lại có thể thờ ơ với những gì đang xảy ra với anh chị em của họ, đôi khi nhân danh chính họ?
Một vị tu sĩ thông thái từng nói với tôi rằng chừng nào tôi còn cảm thấy thương xót những người đau khổ, tôi vẫn chưa phải là một Kitô hữu trọn vẹn. “Khi anh chị em của bạn đau khổ, bạn không chỉ cảm thấy tồi tệ, mà bạn còn hành động.”
Vấn đề của chúng ta là chúng ta không nhìn nhận người khác như những người con của Thiên Chúa mà chúng ta cùng cầu nguyện kinh “Lạy Cha chúng con”.
Giải pháp mà Hồng Y Kikuchi đưa ra là tình liên đới, nhân đức hiệp thông với người khác.
Chúng ta đang trong một cuộc khủng hoảng của sự phân mảnh, xây dựng những bức tường ngăn cách người khác với chúng ta và chúng ta với người khác. Thay vì ôm lấy người khác trong tình bạn, chúng ta lại thận trọng nhìn qua những bức tường phòng thủ của mình.
Cả trong Cựu Ước và Tân Ước, Kinh Thánh nói về cộng đồng tín hữu nhiều hơn là về cá nhân. Trong Tân Ước, ekklesia, từ mà chúng ta dịch là “giáo hội”, có nghĩa là một hội chúng. Trở thành giáo hội có nghĩa là sống trong tình liên đới. Tại sao chúng ta không nhấn mạnh nhân đức đó trong việc dạy giáo lý, trong việc giảng đạo, trong lời cầu nguyện của mình?
Thay vào đó, chúng ta lại nhấn mạnh vào đạo đức cá nhân và sự cứu rỗi cá nhân. Chúng rất quan trọng, nhưng không quan trọng đến mức cho phép chúng ta quên rằng nền tảng của đức tin chúng ta là niềm tin vào tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa.
Những người khác, bất kể họ là ai trên thế gian này, cũng giống như tôi, đều là con cái Thiên Chúa. Cuối cùng, chúng ta không phải như vậy vì một lịch sử tiến hóa chung thực sự không có ý nghĩa gì, mà vì Thiên Chúa đã tạo ra chúng ta như vậy.
Mối quan hệ duy nhất tôi có thể có với Thiên Chúa là với tư cách là một thành viên trong gia đình mà Thiên Chúa là Đấng ban sự sống. Và gia đình đó bao gồm mọi người.
Đức Hồng Y Kikuchi nói: “Mọi sự sống là một món quà quý giá từ Thiên Chúa. Bất kể quốc tịch, dân tộc hay tôn giáo, mọi người đều được Thiên Chúa ban cho phẩm giá. Bảo vệ phẩm giá đó là điểm khởi đầu của hòa bình. Chúng ta hãy cầu nguyện và hành động vì hòa bình. Chúng ta hãy truyền lại ký ức về sự quý giá của sự sống. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta hãy chọn những lời yêu thương hơn là những lời quyền lực, và nuôi dưỡng một nền văn minh của tình yêu thương. Chúng ta hãy lan tỏa cho những người thân yêu của chúng ta Tin Mừng sự sống của Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã phán: ‘Bình an cho anh em.’”