Randall Smith, trong bản tin ngày 1 tháng 9 năm 2026 của tạp chí The Catholic Thing, cho hay: Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes của Công đồng Vatican II nói rằng Giáo Hội có bổn phận đáp lại “những câu hỏi muôn thuở mà con người đặt ra về đời sống hiện tại và đời sống mai sau, và về mối quan hệ giữa hai đời sống ấy,” bằng “ngôn ngữ dễ hiểu đối với mỗi thế hệ.” Tương tự như vậy, người ta thường nghe nói rằng Giáo Hội nên “đối thoại” với thế giới hiện đại. Điều này không giống như “đồng hành” với mọi người, vốn giả định không có sự bất đồng. Trong đối thoại, các bên có thể bất đồng quan điểm với hy vọng đạt được sự hiểu biết tốt hơn về nhau.
Vì vậy, chúng ta hãy tạm chấp nhận quan điểm cho rằng việc Giáo Hội đặt mục tiêu tham gia vào cuộc đối thoại với thế hệ này là điều tốt. Nhưng đối thoại với ai? Và ngôn ngữ nào sẽ dễ hiểu đối với họ? “Hiện đại” không phải là một thực thể đơn nhất. Giáo hội không chỉ có một đối tác đối thoại duy nhất, mà là rất nhiều đối tác, mỗi đối tác đều có những tiền đề và “ngôn ngữ” riêng. Vì vậy, Giáo hội phải học cách nói nhiều ngôn ngữ khác nhau với nhiều đối tượng khác nhau. Để đạt hiệu quả, phương pháp tiếp cận sẽ khác nhau tùy thuộc vào nhóm người mà họ đang hướng đến.
Ví dụ, một số đối tác đối thoại của Giáo hội vẫn chấp nhận sự phân đôi cũ của Thời kỳ Khai sáng giữa “khoa học” hợp lý và “đức tin” phi lý. Giáo hội tiếp cận nhóm này bằng cách cố gắng chứng minh tính hợp lý của đức tin. Những văn bản này thường mang tính “triết học” sâu sắc hơn.
Khi Giáo hội cố gắng chứng minh rằng các giáo lý của đức tin cũng hợp lý như bất cứ triết học nào, sẽ có những “Ki-tô hữu Kinh Thánh” cáo buộc Giáo hội đã áp đặt Kinh Thánh lên lý trí con người và tạo ra một “thần học phi Kinh Thánh”. Khi Giáo hội nỗ lực chứng minh rằng các lập trường của mình được Kinh Thánh ủng hộ mạnh mẽ, nhóm người theo Thời kỳ Khai sáng lại cáo buộc Giáo hội tin vào thẩm quyền của một văn bản lỗi thời, cổ xưa. Vì vậy, tình hình thậm chí còn phức tạp hơn cả việc phải học nói nhiều ngôn ngữ. Nói chuyện “dễ hiểu” với một nhóm người có thể khiến những người khác xa lánh.
Có những người thấy ngôn ngữ khoa học và lý trí thời Khai sáng quá hạn chế. Họ thích ngôn ngữ của đam mê và cái đẹp hơn. Đối với họ, ngôn ngữ triết học mà Giáo hội sử dụng trong cuộc đối thoại với các nhà khoa học quá “luận lý học”, quá “suy luận”, quá gắn liền với các phạm trù triết học. Họ nói rằng Giáo hội cần phải “mục vụ” hơn, ý họ là cần “cởi mở” hơn, quan tâm hơn đến cảm xúc của mọi người và “kinh nghiệm sống” của họ. Điều đó tốt, nhưng đó không phải là cách tiếp cận hiệu quả với tất cả mọi người, đặc biệt là các nhà khoa học chính thống và các nhà triết học nghiêm túc, đối với họ những “lời kêu gọi cảm xúc” như vậy dường như là sự thao túng những người thiếu hiểu biết.
Một số người, như những người theo chủ nghĩa Mác, chỉ trích Giáo hội vì quá quan tâm đến những điều thuộc về Thiên đường mà không đủ quan tâm đến những bất công trên trái đất. Họ gọi đức tin là “thuốc phiện của quần chúng” bởi vì họ tin rằng niềm hy vọng về Thiên đường làm tê liệt các tín hữu trước những sự lạm dụng mà họ đang phải chịu đựng hiện nay, đặc biệt là từ những bất công chính trị và xã hội. Rõ ràng đây là một lời chỉ trích không công bằng, vì Giáo hội chưa bao giờ ngại đấu tranh chống lại sự bất công của con người, và không nhóm nào làm nhiều hơn Giáo hội để giúp đỡ người nghèo và tầng lớp lao động. Vì vậy, Giáo hội đưa ra những tuyên bố về sự bất công chính trị, xã hội và kinh tế.

Tuy nhiên, khi Giáo hội làm như vậy, các nhóm khác sẽ chỉ trích Giáo hội là “quá chính trị”, khăng khăng rằng Giáo hội nên tập trung vào việc “đưa mọi người lên Thiên đàng”. Và khi Giáo hội bảo vệ người nghèo và những người yếu thế nhất trong xã hội, những người theo Friedrich Nietzsche lại cáo buộc Giáo hội ủng hộ “đạo đức nô lệ”, làm suy yếu sức mạnh, động lực và “tính nam tính” của nền văn hóa.
Giáo hội cần đối thoại với tất cả các nhóm khác nhau này. Nhưng “ngôn ngữ” và cách tiếp cận mà Giáo hội sử dụng để nói chuyện với một nhóm không nhất thiết sẽ hiệu quả với những nhóm khác. Đối với một số người, các văn kiện của Giáo hội dựa quá nhiều vào Kinh Thánh. Đối với những người khác, Kinh Thánh lại không đủ. Đối với một số người, sự quan tâm đến xã hội chưa đủ. Đối với những người khác, lại có quá nhiều. Một số người chỉ trích Giáo hội là “phi dân chủ” và “quân chủ”. Những người khác lên án Giáo hội là “xã hội chủ nghĩa”. Một số người phàn nàn rằng cần phải lên án các chính trị gia nhiều hơn. Những người khác lại khăng khăng rằng không nên có sự lên án nào cả.
Bạn đã bao giờ tham gia một cuộc trò chuyện riêng với ai đó mà người thứ ba, không hiểu bối cảnh và ngữ cảnh của cuộc trò chuyện, lại xen vào bằng một lời bình luận, chỉ trích hoặc câu hỏi chẳng liên quan gì đến cuộc trò chuyện đang diễn ra chưa? Bạn có thấy điều đó khó chịu không? Bạn đã bao giờ muốn nói: “Này, hãy tìm hiểu xem cuộc trò chuyện đang diễn ra như thế nào trước khi xen vào; bạn hoàn toàn hiểu sai những gì chúng tôi đang nói”?
Nếu vậy, thì có lẽ bạn có thể nói với chính bạn khi bạn đọc một văn kiện của Giáo hội mà phong cách và giọng điệu không hợp ý bạn, một điều như thế này: “Có lẽ văn bản này không dành cho mình. Có lẽ mình không phải là người mà văn bản này đang hướng đến. Có lẽ nó dành cho người khác với những mối quan tâm khác.” Suy cho cùng, trên thế giới này còn nhiều người khác, và không phải ai cũng giống bạn. Giáo hội cố gắng hướng đến tất cả mọi người. Nhưng Giáo hội không thể lúc nào cũng hướng đến tất cả mọi người trong cùng một văn bản, bằng cùng một ngôn ngữ và cách tiếp cận.
Ngoài ra còn điều này. Tôi đã học được khi còn là sinh viên rằng khi một người thầy thông thái nói, bạn phải lắng nghe. Tôi có những người thầy là những học giả xuất sắc và những giảng viên tuyệt vời, và những người khác cũng xuất sắc nhưng không phải là những giảng viên giỏi. Một số người rất giỏi trong việc đặt câu hỏi theo phương pháp Socrates, nhưng hầu hết thì không. Và có một người ngồi lẩm bẩm nhỏ nhẹ ở bàn làm việc, nhưng nếu bạn lắng nghe kỹ, bạn sẽ phát hiện ra không chỉ kiến thức của ông ấy đáng kinh ngạc mà ông ấy còn có khiếu hài hước khô khan rất tuyệt vời.
Điều quan trọng là, nếu bạn biết họ có món quà trí tuệ đó, bạn sẽ lắng nghe bằng cả tâm trí và trái tim mình, bất kể họ truyền đạt bằng cách nào. Nếu không, điều đó giống như việc ai đó dọn cho bạn bữa ăn ngon nhất, bổ dưỡng nhất mà bạn từng được ăn trong đời, nhưng bạn lại từ chối chỉ vì không thích kiểu dáng của chiếc đĩa đựng thức ăn.
Bạn sẽ không được nuôi dưỡng theo cách đó.