1. Một quan chức Vatican khuyên các giám mục mới nên tránh những "thái độ cực đoan" trong việc hội nhập văn hóa phụng vụ.

Một trong hai thứ trưởng của Bộ Phụng vụ và Kỷ luật các Bí tích đã khuyên 49 giám mục mới được bổ nhiệm nên tránh việc hội nhập văn hóa phụng vụ "cực đoan".

Đức Giám Mục Aurelio García Macías cho biết vào ngày 4 tháng 9:

Chúng ta không được sợ hãi các nền văn hóa, nhưng cũng không được lý tưởng hóa chúng. Chúng ta không được sợ hãi sự đa dạng, cũng không được hy sinh sự hiệp thông. Chúng ta không được kìm hãm sự sáng tạo đích thực của Thánh Linh, cũng không được nhầm lẫn nó với sự tùy tiện. Chúng ta không được biến phụng vụ thành một bảo tàng của những hình thức bất biến, cũng không được biến nó thành một phòng thí nghiệm vĩnh viễn.

Đức Cha García cũng khuyên các giám mục mới nên tránh những sự đổi mới không cần thiết, sự pha trộn tín ngưỡng và văn hóa dân gian. Ngài nói rằng sự pha trộn tín ngưỡng là một "vấn đề đặc biệt nhạy cảm ở những khu vực mà các tôn giáo truyền thống vẫn còn tồn tại mạnh mẽ về mặt văn hóa".

Ngài kết luận rằng hội nhập văn hóa có thể trở thành một trong những hình thức truyền giáo đẹp nhất, "khi nó giúp một dân tộc nhận ra rằng Chúa Kitô không hề xa lạ với họ".

Cũng trong tuần này, tờ Quan Sát Viên Rôma của Vatican đã đưa ra một bình luận tích cực về cuốn sách mới của Đức Hồng Y Sarah, cựu tổng trưởng Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích, về thánh ca Grêgôriô, hay còn gọi là Bình Ca.

Nhà phê bình, Francisco de Jesús Maria Espinosa Garay, OSB Oliv., nói rằng "đối với Đức Hồng Y Sarah, thánh ca Grêgôriô đến từ Chúa, và sự tĩnh lặng cho phép nó được tạo ra bởi vì nó bắt nguồn từ sự tĩnh lặng và dẫn trở lại với nó, dẫn đến sự chiêm ngắm. Thật vậy, không giống như tiếng ồn hay âm nhạc lớn, thánh ca Grêgôriô hướng người ta vào bên trong và mang lại hạnh phúc, hạnh phúc ‘trong Chúa’."


Source:FIDES



2. Đức Hồng Y Burke: Một số sự kiện trong Giáo Hội "quá tà ác" đến nỗi chỉ có thể đến từ Satan.

Trong một cuộc phỏng vấn với một người dẫn chương trình podcast nổi tiếng của Mỹ, Hồng Y Raymond Burke nhận xét rằng hôn nhân đồng tính là một điều dị giáo chống lại "chính lý trí", đồng thời cũng lưu ý đến sự gia tăng hoạt động của ma quỷ trong xã hội và Giáo hội.

Trong một podcast hai phần được mong đợi từ lâu, Đức Hồng Y Burke đã cùng cựu đặc nhiệm Hải quân Mỹ Shawn Ryan trả lời các câu hỏi về Cựu Ước và Tân Ước. Ryan sở hữu lượng khán giả khổng lồ: chỉ riêng trên YouTube, anh đã có 6,5 triệu người ghi danh và đứng thứ ba trong danh sách podcast phổ biến nhất của Mỹ trên Spotify. Anh ngày càng hướng về Kitô giáo và cũng đã mời cha Chad Ripperger, một người nổi tiếng trong giới trừ tà, tham gia hai tập gần đây của podcast.

Các cuộc trò chuyện đa dạng đề cập đến nhiều chủ đề, từ hoạt động của ma quỷ – mà Ryan cho biết ông ngày càng rất quan tâm đến sự sáng tạo, Nô-ê, Sô-đôm và Gô-mô-ra, những điểm mốc lịch sử quan trọng của Cựu Ước và Tân Ước, cuộc hôn nhân của Đức Mẹ Maria với Thánh Giuse, Bí tích Thánh Thể và những ngày cuối cùng của thế giới.

Chủ yếu mang tính chất giáo lý về Kinh Thánh, cuộc trò chuyện cũng chuyển sang các vấn đề giáo lý và đạo đức trong bối cảnh các yếu tố lịch sử trong Kinh Thánh.

Đức Hồng Y Burke đã so sánh câu chuyện về Sodom và Gomorra trong Cựu Ước với "sự nổi loạn" trong xã hội hiện đại, tập trung vào "ý tưởng rằng tôi là người tự tạo nên bản thể của mình, rằng tôi có quyền quyết định mình có nên sống hay không, và rằng tôi có quyền thay đổi danh tính được ban cho mình từ khi sinh ra. "

"Cái ác được tôn vinh như cái thiện," ngài nói, "bất chấp luật pháp của Chúa." Điều này được thể hiện trong "chương trình nghị sự đồng tính luyến ái," vị Hồng Y nói thêm, đồng thời mô tả hôn nhân đồng giới là sự vi phạm không chỉ đức tin mà còn cả trật tự tự nhiên và lý trí:

"Có những quốc gia, giống như đất nước của tổ tiên tôi ở Ái Nhĩ Lan, đã đưa vào Hiến pháp của họ điều khoản cho phép kết hôn giữa hai người cùng giới tính," ngài than thở. "Tôi cho rằng đây là điều lạc giáo, không chỉ trái với đức tin và những gì Kinh Thánh dạy, mà còn trái với lý trí. Rõ ràng là Chúa đã tạo ra người đàn ông cho người phụ nữ và người phụ nữ cho người đàn ông."

Đức Hồng Y đặc biệt nhắc đến trường hợp ở Đức, nơi các nhóm cấp tiến thúc đẩy hoặc tổ chức các nghi thức chúc lành công khai cho các cặp đồng giới bất chấp các chỉ thị truyền thống của Vatican (ví dụ như sáng kiến "Liebe gewinnt" – nghĩa là Tình yêu chiến thắng).

Tuy nhiên, ngài cũng lưu ý rằng có các nhóm linh mục trẻ hơn hoặc có quan điểm bảo thủ hơn—chẳng hạn như 26 linh mục thuộc Tổng giáo phận Munich và Freising—đã lên tiếng phản đối các nhà lãnh đạo địa phương như Hồng Y Reinhard Marx. Họ lập luận rằng các hướng dẫn cấp khu vực nhằm thúc đẩy hoặc quy định việc chúc lành cho các cặp đôi đồng giới tạo ra một tình thế tiến thoái lưỡng nan về lòng trung thành: phải lựa chọn giữa việc tuân theo giám mục địa phương và việc tuân thủ các chỉ thị chung của Vatican, chẳng hạn như văn kiện *Fiducia Supplicans*. Trong một trường hợp bi thảm được cảnh sát Đức báo cáo, một linh mục đã bị dọa giết sau khi ngài chúc lành cho một cặp bất quy tắc. Người chồng cũ đã mưu toan bắn chết vị linh mục đang chúc lành cho người vợ cũ của mình và tình nhân mới của cô ta. Giáo Hội không nên đẩy đưa các linh mục của mình vào tình thế nguy hiểm khi phải chúc lành cho các cặp đồng giới và các cặp đang có vấn đề. Đó không phải là một thái độ khôn ngoan.

Đức Hồng Y Burke chỉ trích vai trò của giới y khoa trong việc tiếp tay lan truyền ý thức hệ đó, đặc biệt đề cập đến các ca phẫu thuật chuyển giới đang lan rộng như một phương tiện để hỗ trợ phong trào chuyển giới. "Giới y khoa đã đảm nhận nhiệm vụ thực sự làm tổn thương cơ thể con người để họ nhận ra rằng giới tính được tự nhiên gán cho họ là sai trái. Tất nhiên, chẳng ai có thể hạnh phúc với điều đó."

Khi bàn về Thánh Gia và thiên chức làm mẹ của Đức Mẹ Maria, Đức Hồng Y Burke đã bác bỏ quan điểm phổ biến cho rằng Đức Mẹ Maria là một ví dụ trong Kinh Thánh về một người mẹ chưa kết hôn. Luật Do Thái quy định hai giai đoạn của hôn nhân, với "một khoảng thời gian trước khi người chồng dẫn người vợ vào nhà mình và hoàn thành hôn nhân, nhưng việc hoàn thành hôn nhân không tạo nên hôn nhân, hôn nhân đã tồn tại từ trước."

"Đức Mẹ Maria đã kết hôn với Thánh Giuse" ngay từ thời điểm Truyền Tin, điều này chứng tỏ - theo lời Đức Hồng Y Burke - rằng Thiên Chúa đã định sẵn kế hoạch cứu rỗi của Ngài thông qua gia đình: "Ngài đang ban phước cho gia đình ngay từ những bước đầu tiên trong công cuộc cứu rỗi của Ngài."

Xuyên suốt bản tường thuật về cuộc đời và cái chết của Chúa Kitô trong Tân Ước, Đức Hồng Y Burke đã đề cập đến cuộc khổ nạn và sự phục sinh, cùng với việc thiết lập các bí tích và tầm quan trọng của Thánh Thể đối với Giáo hội. Về vấn đề này, cựu Chánh án Tòa án Tối cao của Tòa Thánh cũng bác bỏ những lập luận chống lại chức linh mục của các nhà hoạt động giáo dân, những người kêu gọi cử hành Thánh Thể mà không cần linh mục. "Không, Chúa Kitô đã muốn như vậy, rằng phải có một người đàn ông được thánh hiến để dâng Thánh Thể cho chúng ta, hầu cho chúng ta được củng cố bằng hồng ân sự sống của chính Chúa Kitô và đó cũng là lời hứa về sự sống đời đời."

Đức Hồng Y cũng đề cập đến việc sử dụng rộng rãi nội dung khiêu dâm, liên hệ nó với những khó khăn mà các bậc cha mẹ trong xã hội ngày nay phải đối mặt. Cả linh mục và những người đàn ông đã lập gia đình đều phải hướng đến mục tiêu tâm linh của những người mà họ chăm sóc, "vì vậy, chúng ta không tìm kiếm sự thỏa mãn tức thời của một đứa trẻ khi nó nói, ‘Ồ, con yêu bố,’ mà chúng ta đang tìm kiếm lợi ích lâu dài cho đứa trẻ đó."

"Điều quan trọng," ngài nói thêm, "là chúng ta đã hoàn thành trách nhiệm của mình trước mặt Chúa và trong Chúa để trở thành người cha của một gia đình."

Tiếp tục đề cập đến chủ đề hoạt động của ma quỷ, Đức Hồng Y Burke nói về việc trừ tà và sự gia tăng nhu cầu can thiệp như vậy. "Có vẻ như hiện nay – và tôi biết điều này qua các cuộc trò chuyện với các giám mục anh em và các nhà trừ tà – có rất nhiều hoạt động của ma quỷ."

Ngài đưa ra giả thuyết rằng điều này một phần là do sự thờ ơ hoặc thậm chí là sự tự phụ của nhiều người tin rằng "không có gì phải lo lắng" về Satan. "Satan không bao giờ vui hơn khi chúng ta nghĩ rằng hắn không có mặt, bởi vì khi đó hắn thực sự có thể gây ra thiệt hại."

Đức Hồng Y Burke nhận định rằng thế giới và Giáo hội đang bị chi phối bởi những hành động mà chỉ có thể quy cho Satan. "Chúng ta phải mở to mắt và nhận ra rằng đây là điều tà ác. Và thật đáng buồn là trong thế giới ngày nay, thậm chí đôi khi ngay cả trong Giáo hội, chúng ta thấy những điều tà ác, chúng độc ác đến mức chỉ có thể đến từ chính kẻ ác."


Source:Catholic Herald



3. Buổi gặp mặt tại Rimini, thứ trưởng Gambino nói: Hôn nhân là một ơn gọi cần được loan báo cho giới trẻ.

Làm thế nào chúng ta có thể loan báo cho giới trẻ ngày nay về vẻ đẹp của một lời hứa trường tồn mãi mãi? Tại Hội nghị Hữu nghị giữa các Dân tộc, bà Gabriella Gambino, Thứ trưởng Bộ Giáo dân, Gia đình và Đời sống, đã đưa ra một số câu trả lời.

Trong bài nói chuyện với chủ đề "Vì Con người và Vì Vĩnh cửu: Tình yêu sinh sôi nảy nở", bà đã đề cập đến cuộc khủng hoảng hôn nhân đương đại và những khó khăn mà thế hệ trẻ phải đối mặt trong việc cam kết trọn đời. Bài suy niệm của bà nhấn mạnh sự cần thiết phải tái khám phá hôn nhân không chỉ như một sự lựa chọn riêng tư của đôi bạn, mà còn như một thực tế với ý nghĩa gia đình, xã hội và pháp lý cụ thể, và đối với người Kitô hữu, như một ơn gọi và một bí tích. Trọng tâm của bài nói chuyện nằm ở chứng ngôn của các gia đình: đối với giới trẻ, thực tế là chỉ nghe người khác nói về hôn nhân thôi thì chưa đủ đâu; thay vào đó, họ cần gặp gỡ những cặp vợ chồng có khả năng chứng minh, thông qua chính cuộc sống của họ, rằng lòng chung thủy, sự tận tâm và sự hiến dâng vẫn còn khả thi.

Làm thế nào chúng ta có thể một lần nữa tuyên bố hôn nhân cho giới trẻ?

Câu hỏi này xuyên suốt toàn bộ bài suy ngẫm. Trong một xã hội nơi các mối quan hệ trở nên mong manh hơn và hôn nhân thường được coi là một sự lựa chọn có thể trì hoãn, một nghi lễ tốn kém, hoặc thậm chí là một trở ngại cho tự do cá nhân, làm thế nào để giúp giới trẻ vẫn nhận ra giá trị của nó? Gambino bắt đầu bằng một trải nghiệm cá nhân. Khi ở tuổi 24, lần đầu tiên gặp người đàn ông sau này trở thành chồng mình, bà nhận ra trong cuộc gặp gỡ đó điều gì đó vượt xa một dự án cá nhân đơn thuần: sự chắc chắn rằng mình là một phần của kế hoạch lớn hơn, trong đó Chúa đã định cho bà gặp gỡ, yêu thương và sinh con. Chính trải nghiệm này trở thành chìa khóa để giải quyết câu hỏi mục vụ: Làm thế nào các gia đình Kitô giáo ngày nay có thể làm chứng cho giới trẻ rằng tình yêu chung thủy – có khả năng kéo dài suốt đời – thực sự là có thể? Câu trả lời đầu tiên là làm chứng. Trên hết, giới trẻ cần một tấm gương. Họ cần thấy rằng tình yêu "mãi mãi" không thuộc về một thời đại đã qua, mà vẫn có thể được sống trọn vẹn trong những điều kiện cụ thể. Nhưng làm chứng không loại trừ lý trí: chúng ta cũng phải giúp giới trẻ hiểu hôn nhân là gì và tại sao nó vẫn tiếp tục có ý nghĩa nhân văn và xã hội.

Hôn nhân không chỉ là chuyện của đôi bạn.

Sự suy ngẫm này diễn ra trong bối cảnh chúng ta đang chứng kiến điều mà nhà xã hội học người Pháp Irène Théry định nghĩa là "sự phi hôn nhân hóa" của xã hội: số lượng các cuộc hôn nhân - cả dân sự và tôn giáo - đang giảm, và nhiều cuộc hôn nhân được cử hành không vượt qua được thử thách của thời gian. Sự tách rời giữa hôn nhân và việc làm cha mẹ cũng gắn liền với cuộc khủng hoảng nhân khẩu học và sự chối bỏ cuộc sống, trong đó xã hội mất đi khả năng mở lòng đón nhận việc tạo ra tương lai của chính mình. Trước tình hình này, việc tái khám phá chiều kích công cộng của hôn nhân trở nên cần thiết. Hôn nhân, ngay cả ở hình thức dân sự, cũng phục vụ một chức năng vượt ra ngoài sự công nhận mối quan hệ giữa hai người. Nó giúp định hình tình dục và các thế hệ, xác định vai trò, trách nhiệm, bản sắc và sự bảo vệ. Các mối quan hệ gia đình do đó có được tên gọi và vị trí: vợ chồng, cha mẹ, con trai con gái, ông bà cháu chắt.

Điều này dẫn đến một điểm trọng tâm trong suy ngẫm này: hôn nhân không chỉ đơn thuần là thể chế của cặp vợ chồng, mà còn là thể chế của gia đình. Sức mạnh của nó không chỉ liên quan đến hai vợ chồng, mà còn mở rộng đến các mối quan hệ và bản sắc hình thành xung quanh họ, với ý nghĩa thậm chí vươn tới phạm vi công cộng. Từ góc nhìn này, pháp luật cũng mang một ý nghĩa cụ thể. Hôn nhân mang lại sự tín nhiệm trước công chúng cho lời hứa của vợ chồng và cung cấp một không gian ổn định và an toàn cho gia đình và con cái của họ. Nó công nhận vai trò, trách nhiệm và quyền lợi cho mỗi thành viên trong gia đình và do đó giúp bảo vệ cuộc sống gia đình khỏi sự khó lường và bất ổn cực độ. Do đó, pháp luật không đối lập với tình yêu. Nhiệm vụ của nó là nhận ra rằng tình yêu của con người cần hình thức, trật tự và sự chắc chắn. Mối ràng buộc không nhằm mục đích dập tắt tình yêu, mà là để bảo vệ nó.

Mối liên kết như một ngôn ngữ trưởng thành của tình yêu

Đây chính xác là một trong những khía cạnh cần được khám phá lại trong cuộc đối thoại với giới trẻ. Thông điệp Kitô giáo về hôn nhân không nên bị thu hẹp thành một đề xuất đạo đức nhằm tránh sống chung. Thay vào đó, nó nên cho thấy rằng mối dây hôn nhân là ngôn ngữ trưởng thành của tình yêu: khả năng xây dựng những mối quan hệ bền vững, vượt qua những cảm xúc thoáng qua của nhất thời và củng cố chúng bằng lòng chung thủy và lời hứa. Khi mối dây hôn nhân bị tước bỏ ý nghĩa, tình yêu không nhất thiết trở nên tự do hơn. Nó trở nên mong manh hơn. Quan điểm này cũng cho phép chúng ta diễn giải lại ý nghĩa của tự do. Tự do không có nghĩa là mãi mãi mở lòng đón nhận những khả năng mới mà không đưa ra quyết định dứt khoát. Tự do còn được thể hiện ở khả năng lựa chọn một món quà dứt khoát. Trong hôn nhân, vợ chồng không bị yêu cầu phải bắt đầu lại từ đầu mỗi ngày: họ quay trở lại với lời "vâng" đã đưa họ đến với nhau. Lòng chung thủy do đó trở thành ký ức sống động về một quyết định được đưa ra một cách tự do.

Hôn nhân Kitô giáo như một ơn gọi

Bên cạnh khía cạnh nhân văn và xã hội, người Kitô hữu còn bổ sung thêm một khía cạnh quyết định: hôn nhân là một ơn gọi và một bí tích. Khó khăn mà các thế hệ trẻ gặp phải trong việc đưa ra cam kết dứt khoát không chỉ liên quan đến hôn nhân dân sự. Hôn nhân tôn giáo cũng đang giảm mạnh. Điều này đặt ra một câu hỏi cụ thể cho Giáo hội: chúng ta đang thiếu sót điều gì trong việc rao giảng cho giới trẻ? Họ đang không nhận được điều gì để có thể hiểu được sức mạnh của bí tích? Đề xuất là bắt đầu trình bày hôn nhân như một ơn gọi đích thực—không chỉ đơn thuần là một trạng thái sống, mà là một lời mời gọi mà hai người được mời gọi cùng nhau đáp lại thông qua một quá trình phân định.

Vì lý do này, hôn nhân—theo quan điểm được Gambino nêu ra—nên được rao giảng cho trẻ em, thanh thiếu niên, người trẻ và người lớn muốn kết hôn trong Giáo hội. Đời sống cầu nguyện của Giáo hội cũng nên làm cho lời kêu gọi này trở nên rõ ràng hơn, khuyến khích cầu nguyện để người trẻ có thể nhận ra và đón nhận ơn gọi hôn nhân. Hơn nữa, sự "trọn đời" của người Kitô hữu không thể được trình bày như một kỳ tích anh hùng chỉ dựa vào sức mạnh của riêng vợ chồng. Hôn nhân bí tích là hành trình của hai người được nâng đỡ bởi ân sủng. Chúa Kitô bước vào câu chuyện của họ, ở lại với họ, nâng đỡ họ, giúp họ đứng dậy sau khi vấp ngã, tha thứ cho nhau và gánh vác gánh nặng của nhau. Do đó, lời thề hôn nhân trở nên khả thi không phải vì bất kỳ sự tự túc nào được tường trình của vợ chồng, mà bởi vì có một lòng trung thành lớn hơn nâng đỡ lòng trung thành của chính họ: lòng trung thành của Thiên Chúa, tức là emunah.

Một đường lối mục vụ cho thấy ân sủng đang hiện hữu.

Chính ở đây, vấn đề hôn nhân trở nên thực sự mang tính mục vụ. Việc chuẩn bị hôn lễ không thể chỉ gói gọn trong những thủ tục hành chính hay giới hạn ở việc giải thích về quyền và nghĩa vụ. Nó phải giúp các cặp vợ chồng nhận ra rằng Chúa Kitô bước vào câu chuyện của họ, nâng đỡ và đổi mới tình yêu của họ. Do đó, mục vụ gia đình được kêu gọi đồng hành cùng ơn gọi và giúp mọi người hiểu được sức mạnh thiêng liêng của bí tích. Nhưng trên hết, giới trẻ cần thấy được ân sủng đang hoạt động trong các cặp vợ chồng. Một gia đình Kitô giáo sống trọn vẹn lòng chung thủy, đối mặt với khó khăn, học cách tha thứ và tiếp tục giữ vững lời thề hôn nhân, thông qua chính cuộc sống của mình, trở thành một chứng nhân cụ thể. Chính kinh nghiệm sống này có thể làm cho điều mà nếu không sẽ chỉ là một nguyên tắc trừu tượng trở nên dễ hiểu đối với giới trẻ. Việc rao giảng vẻ đẹp của hôn nhân, trên thực tế, không chỉ đơn giản là lặp lại một giáo lý. Nó có nghĩa là cho thấy tại sao thực tại đó là nhân văn, đáng mong muốn và sinh sôi nảy nở, và làm thế nào tình yêu của con người có thể trở thành hiện thực khả thi khi được soi sáng bởi đức tin.

Khôi phục ý nghĩa của hôn nhân

Do đó, thách thức bao gồm hai mặt trận không thể tách rời. Một mặt, Giáo hội được kêu gọi rao giảng hôn nhân như một ơn gọi. Mặt khác, Giáo hội phải giúp khôi phục ý nghĩa xã hội và nhân học của hôn nhân trong một nền văn hóa mà chức năng công cộng của nó dường như ngày càng suy yếu. Hôn nhân củng cố mối quan hệ giữa nam và nữ, giữa các thế hệ, và nuôi dưỡng các giá trị như lòng tin, sự tương trợ và trách nhiệm. Sự cởi mở với cuộc sống cũng đòi hỏi một bối cảnh của lòng tin và sự ổn định. Theo nghĩa này, "mùa đông nhân khẩu học" không chỉ đơn thuần là vấn đề tỷ lệ sinh. Nó còn phản ánh một bầu không khí nội tại trong đó việc tìm kiếm sự an toàn và nỗi sợ hãi về sự mong manh chiếm ưu thế, dẫn đến sự khép kín với cuộc sống.

Do đó, việc giáo dục trẻ em và thanh thiếu niên về đời sống tình cảm, giúp họ hiểu được vẻ đẹp của sự khác biệt giới tính, lời kêu gọi hiến dâng trọn vẹn và dứt khoát bản thân, và sự cởi mở với cuộc sống, trở nên vô cùng cấp thiết. Không chỉ đơn thuần là truyền đạt cho thế hệ trẻ mong muốn "lập gia đình"; chúng ta còn phải giúp họ hiểu được ý nghĩa và vẻ đẹp của hôn nhân. Cuối cùng, suy tư của Gabriella Gambino quay trở lại với người phụ nữ trẻ, nhiều năm trước, đã bước vào nhà thờ trong bộ váy trắng để kết hôn. Cô không quen thuộc với những thuật ngữ ngày nay được dùng để mô tả khủng hoảng hôn nhân. Cô không biết nói về sự ly hôn, hay chức năng xã hội của mối ràng buộc. Nhưng cô biết một điều: rằng luôn có Đấng quan tâm đến cô, rằng Ngài có kế hoạch cho cô, và cô có thể tin tưởng vào Đấng ấy. Có lẽ chính từ sự chắc chắn này mà thông điệp của Giáo hội gửi đến các thế hệ trẻ cũng có thể bắt đầu lại: không chỉ đơn thuần là giải thích về hôn nhân, mà còn là minh chứng cho nó; không chỉ đơn thuần là đề xuất một học thuyết, mà còn là đồng hành cùng ơn gọi; Không chỉ để chuẩn bị cho lễ cưới, mà còn để hỗ trợ đôi vợ chồng trên hành trình cuộc sống với niềm tin chắc chắn vào sự trung tín của Chúa đối với tình yêu của họ.


Source:LAITYFAMILYLIFE



4. Đức Hồng Y Burke bảo vệ danh hiệu Đồng Công Cứu Chuộc của Đức Mẹ Maria.

Đức Hồng Y Raymond Burke đã bảo vệ danh hiệu "Đồng Công Cứu Chuộc" của Đức Mẹ Maria, đánh dấu một sự phản bác đáng chú ý đối với một văn kiện gây tranh cãi của Vatican do Bộ Giáo Lý Đức Tin công bố để phản đối thuật ngữ này.

Trong bài phát biểu tại Nhà thờ Thánh Bavo ở Hòa Lan hôm Chúa Nhật, Đức Hồng Y Burke đã tham gia vào cuộc tranh luận về Đức Mẹ, vốn đã trở nên gay gắt hơn sau khi Bộ Giáo lý Đức tin, công bố ghi chú tín lý Mater Populi Fidelis hay Mẹ của Dân Thánh Chúa.

"Đức Trinh Nữ Maria là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc, nghĩa là Mẹ tham gia vào công việc cứu độ của Chúa chúng ta một cách độc nhất vô nhị," Burke nói. "Nhờ Bí tích Thánh tẩy và Bí tích Thêm sức, chúng ta cũng là những người Đồng Công Cứu Chuộc, nghĩa là chúng ta tham gia vào công việc cứu độ của Chúa bằng cách thánh hóa phần vườn nho của Ngài, phần mà Ngài đã giao phó cho chúng ta chăm sóc."

Những lời nhận xét của ngài được đưa ra ở phần kết luận bài trình bày của ngài về các lập luận thần học truyền thống được đưa ra qua nhiều thế kỷ để chỉ ra vai trò cụ thể của Đức Mẹ Maria trong việc cộng tác với công cuộc Cứu chuộc của Chúa Kitô. Dựa chắc chắn vào Kinh Thánh, Giáo hội đã liên tục đào sâu giáo huấn của mình về Đức Mẹ Maria với tư cách là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc, đến nỗi trong những thập niên trước, Vatican đã ban Ơn Tiểu Xá cho những aicầu nguyện tôn kính Mẹ dưới tước hiệu này.

"Không phải là sự hy sinh của Chúa chúng ta có bất kỳ khiếm khuyết nào đến mức cần sự đồng công cứu chuộc" Đức Hồng Y Burke nhận xét, trích dẫn Phúc Âm Lu-ca. "Nó hoàn hảo và mang lại ân sủng thiêng liêng và sự sống đời đời cho tất cả những ai kết hợp với Chúa chúng ta trong sự hy sinh của Ngài. Điều duy nhất còn thiếu là sự tham gia hết lòng của chúng ta vào sự hy sinh của Chúa, là việc chúng ta hằng ngày vác thập giá và bước theo Ngài."

Lời hứa của Thiên Chúa với tiên tri Isaia (Isaia 61:10-11) "được hoàn thành, trước hết và trọn vẹn nhất, trong cuộc đời của Đức Trinh Nữ Maria qua sự cộng tác không thể thay thế của Mẹ trong Mầu nhiệm Nhập Thể Cứu Chuộc," Đức Hồng Y Burke nhận xét. "Lời hứa đó sẽ được hoàn thành trong cuộc sống của mỗi chúng ta với tư cách là những người cùng cộng tác với Đức Mẹ Đồng Trinh trong công việc Cứu Chuộc của Con Thiên Chúa."

Việc Hồng Y Burke công khai sử dụng thuật ngữ này đáng chú ý vì nó đánh dấu một trong những lần đầu tiên một Hồng Y bảo vệ thuật ngữ cổ xưa này sau ghi chú tín lý Mater Populi Fidelis, gọi tắt là MPF. Được công bố vào ngày 4 tháng 11 năm ngoái, ghi chú tín lý đã lập luận mạnh mẽ chống lại việc sử dụng thuật ngữ này.

" Do cần phải giải thích vai trò phụ thuộc của Đức Mẹ Maria đối với Chúa Kitô trong công cuộc Cứu chuộc, nên việc sử dụng danh hiệu ‘Đồng Công Cứu Chuộc’ để định nghĩa sự cộng tác của Đức Mẹ là không phù hợp," Hồng Y Victor Manuel Fernández, nhà lãnh đạo Bộ Giáo Lý Đức Tin, viết.

Hồng Y Fernández không thể lập luận rằng thuật ngữ đó là sai trái hay bất hợp pháp, vì Giáo hội đã nhất quán giảng dạy sự hiểu biết thần học đúng đắn về thuật ngữ này trong nhiều thế kỷ, và các Đức Giáo Hoàng đã trực tiếp chấp thuận nó. Thay vào đó, ngài lập luận rằng danh hiệu này không phù hợp, vì nó "có nguy cơ che khuất sự trung gian cứu độ độc nhất vô nhị của Chúa Kitô và do đó có thể tạo ra sự nhầm lẫn và mất cân bằng trong sự hài hòa của các chân lý của đức tin Kitô giáo."

Trong văn bản, Hồng Y Fernández trích dẫn rất nhiều lời của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, đồng thời viện dẫn lý do đại kết để không sử dụng thuật ngữ "Đấng Đồng Công Cứu Chuộc".

Trái ngược với lập luận của nhiều nhà phê bình, thuật ngữ này không nhằm mục đích đặt Đức Mẹ Maria ngang hàng với Chúa Kitô. Đức Mẹ Maria Đồng Công Cứu Chuộc là người cộng tác trong hành động cứu độ của Chúa Kitô, nhưng luôn luôn phụ thuộc vào Ngài.

Cha Neubert, một nhà nghiên cứu về Đức Mẹ người Pháp, giải thích rằng "chúng ta có thể nói rằng chúng ta được cứu rỗi trước hết và chủ yếu là bởi Chúa Kitô và thứ yếu là bởi hành động của Đức Mẹ trong sự phục tùng hành động của Chúa Kitô."

Trong Giáo hội đã có rất nhiều giáo lý sâu rộng về thuật ngữ này và nền thần học đằng sau nó trong nhiều thế kỷ, và các nhà nghiên cứu về Đức Mẹ từ lâu đã vận động Tòa Thánh chính thức tuyên bố Đức Mẹ là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc như một phần của tín điều thứ năm về Đức Mẹ Maria.

Sau khi Mater Populi Fidelis được công bố, các nhà nghiên cứu về Đức Mẹ đã chỉ trích rộng rãi văn kiện này vì lập luận, lý lẽ và nội dung sai sót. Cha Serafino Lanzetta STD nhận xét rằng "chưa bao giờ trong lịch sử Giáo hội, huấn quyền Hội Thánh lại nói điều như văn kiện này nói; là điều ‘hoàn toàn trái ngược’ với những gì các Giáo phụ và các Đức Giáo Hoàng trước đây đã dạy trong lịch sử."

Những lời chỉ trích đối với văn bản này xuất hiện ngay lập tức và lan rộng. Huynh Đoàn Thánh Piô X thậm chí còn viện dẫn nó như một yếu tố quan trọng trong việc tiến hành lễ tấn phong giám mục vào ngày 1 tháng 7.

Theo các nguồn tin, Hồng Y Fernández đã không tham khảo ý kiến của bất kỳ nhà nghiên cứu về Đức Mẹ nào khi viết văn bản này, mặc dù sau đó ngài nói với nhà báo Diane Montagna của Vatican rằng ngài đã tham khảo ý kiến của các chuyên gia.

Trước sự phẫn nộ dữ dội, Hồng Y Fernández đã giải thích thêm về Ghi chú của mình và phần nào thay đổi quan điểm – nói rằng thuật ngữ này có thể được sử dụng riêng tư nhưng không được dùng trong các văn bản chính thức. Ngài nói với Montagna rằng: "Nếu bạn, cùng với nhóm bạn bè của mình, tin rằng mình hiểu rõ ý nghĩa thực sự của cụm từ này, đã đọc văn bản và thấy rằng các khía cạnh tích cực của nó cũng được khẳng định ở đó, và bạn muốn bày tỏ chính xác điều đó trong nhóm cầu nguyện hoặc giữa bạn bè, bạn có thể sử dụng danh xưng này — nhưng nó sẽ không được sử dụng chính thức, tức là, cả trong các văn bản phụng vụ hay trong các văn bản chính thức."

Đức Hồng Y Burke dự kiến sẽ là diễn giả chính tại một hội nghị về Thánh Mẫu học cao cấp ở Rôma vào đầu tháng 10, và các nhà tổ chức đã nói với phóng viên tờ Catholic Herald rằng cuộc thảo luận tại hội nghị sẽ bao gồm việc nghiên cứu sâu hơn về thuật ngữ "Đấng Đồng Công Cứu Chuộc".


Source:Catholic Herald