CNA - Cha Samir Khalil Samir, dòng Tên, linh mục người Ai Cập, chuyên gia về vấn đề Hồi Giáo, giáo sư môn Hồi Giáo Học và Lịch Sử Ả Rập tại Université Saint-Joseph ở Beirut, Li Băng và tại Học Viện Giáo Hoàng về Đông Phương ở Rôma, là người sáng lập Centre de Recherche Arabes Chrétiennes, và cũng là chủ tịch International Association for Christian Arabic Studies vừa có cuộc phỏng vấn dành cho thông tấn xã Công Giáo CNA.Trong cuộc phỏng vấn này cha Samir đã đề cập đến vấn đề hiện nay là: Vấn đề thứ nhất là tương lai thế giới phụ thuộc vào việc người Hồi Giáo hiểu thế nào về Mohammed và kinh Koran; và vấn đề thứ hai là tình trạng khó khăn hiện nay của người Công Giáo tại Trung Đông. Trong bài này chúng tôi xin điểm hầu quý vị những phát biểu của cha Samir về vấn đề thứ hai.
Cha Samir
Theo cha Samir, thực tại của người Kitô Giáo tại Trung Đông là “rất, rất khó khăn”.

“Nói thật là có một cái nhìn rất bi quan trong hầu hết tất cả các nước tại Trung Đông. Người Kitô hữu cảm thấy ngày càng khó lưu lại tại những đất nước này. Tôi nghĩ trước hết đến Iraq, nơi hàng đoàn lũ người Kitô hữu đang phải di tản khỏi Iraq nơi họ thấy không có chỗ cho họ”.

Những chỉ dấu cụ thể hiện nay cho thấy một Iraq mới đang ló dạng trong đó có chỗ cho người Hồi Giáo Sunni, Shia và Kurd, “và người Kitô hữu không có chỗ vì họ chỉ là những cộng đoàn nhỏ ở tản mác mọi nơi”. Những người Kitô hữu Iraq ngày nay đang di tản ra các nước quanh Iraq như một trạm dừng chân tạm thời trong khi chờ đợi được định cư tại Hoa Kỳ và các nước phương Tây khác.

Tình hình cũng diễn ra tương tự tại Do Thái. Lời thỉnh cầu của Đức Thượng Phụ Michael Sabbah của Công Giáo nghi lễ La Tinh tại Giêrusalem xin anh chị em Công Giáo lưu lại tại Thánh Địa trong thời gian qua cho thấy tình hình tại đây rất khó khăn. Người Công Giáo bị kẹp giữa hai gọng kềm của “các phong trào Hồi Giáo cuồng tín và các phong trào Do Thái quá khích”.

20 năm trước đây, Li Băng có thể tự hào là quốc gia Kitô Giáo. Tình hình đã thay đổi từ năm 1989 khi chính quyền thực hiện phân quyền giữa tổng thống, thủ tướng, và chủ tịch Quốc Hội. Ngày nay, người Hồi Giáo đã chiếm đa số, đặc biệt là sau các cuộc chiến hồi tháng 7 và tháng 8 năm ngoái. Với tình hình này, cha Samir e ngại rằng chỉ trong vài chục năm tới đây, Li Băng, quốc gia cuối cùng có đông người Kitô hữu cũng sẽ trở thành quốc gia Hồi Giáo.

Phân tích tình hình Li Băng, cha Samir, nhận định rằng: “Cảm giác của người Hồi Giáo hiện nay tại đất nước này là họ muốn người Kitô hữu ở lại. Họ cảm thấy có lợi hơn cho một quốc gia Li Băng xây dựng trên hai cộng đồng Kitô Giáo và Hồi Giáo hợp tác với nhau. Tôi xác tín đó là đường hướng của đa số người Hồi Giáo Li Băng”.

“Tuy nhiên, có những sự kiện chống lại đường hướng này. Không phải là có một kế hoạch nào đó buộc người Kitô hữu phải di cư ra nước ngoài, nhưng vấn đề là hoàn cảnh, tình hình khó khăn quá. Chẳng hạn như nhóm Hezbollah trong mọi hoạt động đều nghĩ đến Vương Quốc Hồi Giáo. Lẽ thường ra, người ta nghĩ rằng Li Băng là Li Băng, Palestine là Palestine. Nhưng Hezbollah không nghĩ như vậy. Theo quan điểm của họ Li Băng cũng thuộc về Vương Quốc Hồi Giáo mà Palestine cũng thuộc Vương Quốc Hồi Giáo. Cho nên nói chuyện của Palestine không phải là vấn đề của Hezbollah thì cũng như nói chuyện của người Do Thái không dính gì đến Israel”.

“Người Hồi Giáo có xu hướng nghĩ đến Vương Quốc Hồi Giáo và chuyện gì xảy ra cho một phần của Vương Quốc Hồi Giáo cũng quan trọng đối với những người Hồi Giáo tại Li Băng, cũng như ở các nơi khác. Thành ra, chiến tranh tại Li Băng diễn ra triền miên không dứt được”.

“Theo truyền thống, người Kitô hữu hoạt động mạnh được trong những điều kiện của kinh tế tự do. Thành ra, khi chiến tranh xảy ra, người Kitô hữu là những người đầu tiên cảm thấy không có chỗ cho mình ở đất nước này”.

“Đây thật là một thảm họa – chỉ trong 50 năm nữa với cái đà này thì toàn vùng Trung Đông trở nên Hồi Giáo hóa tới mức như chúng ta thấy tại Thổ Nhĩ Kỳ hay tệ hơn nữa là tại Iran”.

Cha Samir kết luận rằng:

“Sẽ là một trợ giúp đắc lực nếu ở một cấp độ quốc tế nào đó, chúng ta có thể phân biệt rõ giữa hai đường lối chính trị và tôn giáo và giúp người Hồi Giáo hiểu rằng vai trò của họ trong cộng đồng quốc tế có được không phải vì ưu thế chính trị Hồi Giáo của họ nhưng như là một lực lượng tinh thần và mỗi một quốc gia Hồi Giáo là một đất nước riêng lẻ”.