FILIPPO MONTEFORTE


Theo Kathleen N. Hattrup, trong bản tin ngày 02/04/2026 của Aleiteia, Đức Giáo Hoàng Leo XIV, trong buổi yết kiến chung tại Phòng Phao-lô VI, đã tiếp tục suy niệm về Dei Verbum: với chủ đề: Giáo lý. Các văn kiện Vatican II. I. Hiến chế Tín lý Dei Verbum. 4. Kinh thánh: Lời Thiên Chúa trong các lời nhân bản.

Rút ra từ kinh nghiệm thường nhật, Đức Giáo Hoàng Leo XIV tiếp tục suy niệm về giáo huấn của Công đồng Vatican II về mặc khải bằng cách lưu ý rằng Thiên Chúa "chọn nói bằng ngôn ngữ của con người."

Các bản văn Kinh Thánh không được viết bằng ngôn ngữ của Thiên Chúa - "một ngôn ngữ thiên thượng hay siêu phàm" - mà thay vào đó "lời của Thiên Chúa, được diễn đạt bằng ngôn ngữ của con người, đã được làm cho giống như ngôn ngữ truyền thông của con người."

Vì vậy, không chỉ về nội dung mà cả về ngôn ngữ, Kinh Thánh cho thấy lòng thương xót của Thiên Chúa đối với con người, và ước muốn được gần gũi với họ.

Với suy niệm này, Đức Giáo Hoàng Leo đã đưa ra một suy xét thứ tư về Dei Verbum trong các buổi tiếp kiến chung vào thứ Tư.

Đầu năm nay, ngài tuyên bố sẽ sử dụng các buổi tiếp kiến vào thứ Tư để bàn về các văn kiện của Công đồng Vatican II (ngày 11 tháng 10 năm 1962 và ngày 8 tháng 12 năm 1965). Công đồng đã đưa ra bốn hiến chế, ba tuyên bố và chín sắc lệnh.

Sau đây là bản dịch đầy đủ bài giáo lý của ngài, dựa vào bản iếng Anh của Tòa Thánh:

~

Anh chị em thân mến, chào anh chị em buổi sáng và chào mừng!

Hiến chế Công đồng Dei Verbum, mà chúng ta đang suy niệm trong những tuần này, chỉ ra trong Thánh Kinh, được đọc trong Truyền thống sống động của Giáo hội, một không gian đặc biệt cho sự gặp gỡ nơi Thiên Chúa tiếp tục nói với mọi người ở mọi thời đại, để, bằng cách lắng nghe, họ có thể biết Người và yêu mến Người. Tuy nhiên, các bản văn Kinh Thánh không được viết bằng một ngôn ngữ thiên thượng hay siêu phàm. Thật vậy, như cuộc sống hằng ngày dạy chúng ta, hai người nói những ngôn ngữ khác nhau không thể hiểu nhau, không thể đối thoại và không thể thiết lập mối quan hệ. Trong một số trường hợp, việc làm cho người khác hiểu mình là hành động yêu thương đầu tiên. Đây là lý do tại sao Thiên Chúa chọn nói bằng ngôn ngữ của con người và do đó, nhiều tác giả, được Chúa Thánh Thần linh hứng, đã viết nên các bản văn của Kinh Thánh. Như văn kiện của Công đồng nhắc nhở chúng ta, “lời của Thiên Chúa, được diễn đạt bằng ngôn ngữ của con người, đã được làm cho giống như lời nói của con người, cũng như Lời của Chúa Cha hằng hữu, khi Người mang lấy thân xác của sự yếu đuối của con người, đã được làm cho giống như con người trong mọi phương diện” (DV, 13). Vì vậy, không chỉ trong nội dung mà cả trong ngôn ngữ, Kinh Thánh cho thấy lòng thương xót của Thiên Chúa đối với con người và ước muốn được gần gũi với họ.

Trong suốt lịch sử Giáo hội, mối quan hệ giữa Tác giả Thiên Chúa và các tác giả loài người của các ản văn thánh đã được nghiên cứu. Trong nhiều thế kỷ, nhiều nhà thần học đã quan tâm đến việc bảo vệ sự linh hứng thần thiêng của Kinh Thánh, gần như coi các tác giả loài người chỉ là những công cụ thụ động của Chúa Thánh Thần. Trong thời gian gần đây, sự suy gẫm đã đánh giá lại đóng góp của các nhà viết lịch sử thánh trong việc biên soạn các bản văn thánh, đến mức văn kiện của Công đồng nói về Thiên Chúa là “tác giả” chính của Kinh Thánh, nhưng cũng gọi các nhà viết lịch sử thánh là “tác giả đích thực” của các sách thánh (xem DV, 11). Như một nhà chú giải Kinh Thánh sắc bén của thế kỷ trước đã nhận xét, “giảm hoạt động của con người xuống chỉ còn là một người chép thuê không phải là tôn vinh hoạt động của Thiên Chúa”. Thiên Chúa không bao giờ làm suy yếu con người và tiềm năng của họ!

Do đó, nếu Kinh Thánh là lời của Thiên Chúa bằng ngôn từ của con người, thì bất cứ cách tiếp cận nào đối với nó mà bỏ qua hoặc phủ nhận một trong hai chiều kích này đều chứng tỏ là phiến diện. Điều đó có nghĩa là một sự giải thích đúng đắn về các bản văn thánh không thể bỏ qua bối cảnh lịch sử mà chúng được hình thành và các hình thức văn học đã được sử dụng; ngược lại, việc từ bỏ việc nghiên cứu ngôn từ của con người mà Thiên Chúa đã sử dụng có nguy cơ dẫn đến những cách đọc Kinh Thánh theo chủ nghĩa cực đoan hoặc chủ nghĩa duy linh, làm sai lệch ý nghĩa của nó. Nguyên tắc này cũng áp dụng cho việc rao giảng Lời Chúa: nếu nó mất liên hệ với thực tại, với hy vọng và đau khổ của con người, nếu sử dụng ngôn ngữ khó hiểu, không truyền đạt hoặc lỗi thời, thì nó sẽ không hiệu quả. Trong mọi thời đại, Giáo hội được kêu gọi trình bày lại Lời Chúa bằng ngôn ngữ có khả năng được thể hiện trong lịch sử và chạm đến trái tim. Như Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhắc nhở chúng ta, “Mỗi khi chúng ta nỗ lực trở về nguồn gốc và khôi phục sự tươi mới ban đầu của Tin Mừng, những con đường mới sẽ xuất hiện, những lối đi sáng tạo mới sẽ mở ra, với những hình thức diễn đạt khác nhau, những dấu hiệu hùng hồn hơn và những từ ngữ mang ý nghĩa mới cho thế giới ngày nay”. [1]

Mặt khác, cũng mang tính giản lược tương tự là cách đọc Kinh Thánh mà bỏ qua nguồn gốc thần thiêng của nó và cuối cùng hiểu nó như một giáo huấn đơn thuần của con người, như một điều gì đó chỉ được nghiên cứu từ quan điểm kỹ thuật hoặc như “một bản văn chỉ thuộc về quá khứ”. Thay vào đó, đặc biệt khi được công bố trong bối cảnh phụng vụ, Kinh Thánh nhằm mục đích nói chuyện với các tín hữu ngày nay, chạm đến cuộc sống hiện tại của họ với những vấn đề họ đang gặp phải, soi sáng những bước cần thực hiện và những quyết định cần phải đưa ra. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi các tín hữu đọc và giải thích các bản văn thánh thiêng dưới sự hướng dẫn của cùng một Chúa Thánh Thần từng linh hứng chúng (xem DV, 12).

Về phương diện này, Kinh Thánh có tác dụng nuôi dưỡng đời sống và lòng bác ái của các tín hữu, như Thánh Augustinô nhắc lại: “Ai… nghĩ rằng mình hiểu Kinh Thánh… nhưng lại đưa ra cách giải thích không hướng đến việc xây dựng tình yêu kép đối với Thiên Chúa và tha nhân, thì người đó vẫn chưa hiểu Kinh Thánh như mình nên hiểu”. [2] Nguồn gốc thần thiêng của Kinh Thánh cũng nhắc nhở rằng Tin Mừng, được giao phó cho chứng nhân của những người đã được rửa tội, mặc dù bao hàm tất cả các chiều kích của cuộc sống và thực tại, nhưng lại vượt lên trên chúng: nó không thể bị thu hẹp thành một thông điệp bác ái hay xã hội đơn thuần, mà là lời loan báo vui mừng về sự sống trọn vẹn và vĩnh cửu mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta trong Chúa Giêsu.

Anh chị em thân mến, chúng ta hãy tạ ơn Chúa vì trong lòng tốt của Người, Người đảm bảo cuộc sống của chúng ta không thiếu đi nguồn nuôi dưỡng thiết yếu là Lời Người, và chúng ta hãy cầu nguyện để lời nói của chúng ta, và hơn hết là cuộc sống của chúng ta, không làm lu mờ tình yêu của Thiên Chúa được thuật lại trong đó.

____________________________________________________________________

[1] Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii gaudium (24 tháng 11 năm 2013), 11.

[2] Thánh Agostino, De doctrina christiana I, 36, 40.