Tạp chí The Pillar, số ngày 06/02/2026, nêu câu hỏi: Với việc Hội Linh mục Thánh Piô X tuyên bố kế hoạch tấn phong giám mục bất hợp pháp, đâu là lịch sử và luật lệ có liên quan?
Tạp chí này nhắc lại việc Tổng Giám mục Marcel Lefebvre thực hiện hành động tấn phong mà không có sự cho phép của Đức Giáo Hoàng, và đó là hành vi ly giáo.
Sau khi Hội Linh mục Thánh Piô X tuyên bố tuần này rằng họ có kế hoạch tấn phong một giám mục vào tháng 7 mà không có sự cho phép của Đức Giáo Hoàng, vị bộ trưởng Bộ Giáo lý Đức tin đã nói rằng các cuộc đàm phán của Vatican với Hội sẽ tiếp tục, hướng tới mục tiêu hợp thức hóa vị thế của nhóm trong Giáo hội.
Mặc dù có một số suy đoán rằng tuyên bố của Hội Linh mục Thánh Piô X chỉ đơn thuần là một chiến thuật đàm phán hung hăng, nhưng đã có những câu hỏi được đặt ra về những hậu quả giáo luật có thể xảy ra nếu họ tiếp tục hành động như vậy.
Trong lần trước, vào năm 1988, khi các giám mục được tấn phong cho và bởi hội này, Tòa Thánh dưới thời Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tuyên bố rằng những người tham gia đã phải chịu vạ tuyệt thông tự động (latae sententiae) vì hành vi ly giáo.
Tuy nhiên, một số người ủng hộ Hội trên mạng đã tìm cách bảo vệ hành động dự định của hội. Khi làm như vậy, họ đã cố gắng so sánh với những trường hợp trước đây, khi các giám mục được tấn phong, rõ ràng là không có ủy quyền và không bị Tòa Thánh tuyên bố những hình phạt tương tự.
Vậy, tình huống của Hội Linh mục Thánh Piô X có phải là độc nhất vô nhị, và luật pháp thực sự nói gì?
Sau đây là một số câu hỏi và giải đáp của Tạp chí The Pillar:
Luật của Giáo hội thực sự nói gì về việc tấn phong giám mục mà không có ủy quyền?
Điều 1387 của Giáo luật quy định rằng: “Cả Giám mục, người tấn phong một người làm Giám mục mà không có ủy quyền của Giáo hoàng, và người nhận sự tấn phong từ ngài, đều phải chịu án phạt vạ tuyệt thông tự động (latae sententiae) dành riêng cho Tòa Thánh.”
Xét về mặt giáo luật, điều đó rõ ràng nhất có thể:
Một hành động chuyên biệt được mô tả — việc tấn phong một người. Chúng ta có thể hiểu “người” ở đây có nghĩa là “nam giới” vì một vài lý do, bởi vì chỉ có nam giới mới có thể được tấn phong giám mục hợp lệ và bởi vì “việc cố gắng tấn phong” một phụ nữ được quy định trong một điều luật riêng.
Những người chuyên biệt được xác định là đối tượng chịu hình phạt — cả giám mục thực hiện việc tấn phong lẫn người đàn ông nhận lãnh.
Và một hình phạt cụ thể được áp đặt: vạ tuyệt thông tự động, việc tuyên bố và miễn giảm hình phạt này thuộc về Tòa Thánh. Hình phạt đó, rõ ràng là tuân theo các quy tắc thông thường được thiết lập trong giáo luật — nói cách khác, hình phạt phải được tuyên bố chính thức để có hiệu lực đầy đủ.
Cách diễn đạt của điều luật này đáng chú ý vì nó hình sự hóa một hành động chuyên biệt với một điều kiện nhị phân khách quan — hoặc có hoặc không có sắc lệnh của Giáo hoàng — và do đó dường như bỏ qua nhiều điều kiện thông thường khác phải được xem xét trong việc áp dụng luật hình sự. Ví dụ, thông thường trong các vụ án hình sự, cần phải xác định “tính chất quy trách nhiệm”, tức là người đó phải chịu trách nhiệm về mặt đạo đức và pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật, có đủ tự do, có ý định nhất định và nhận thức được luật pháp.
Trong trường hợp tấn phong bất hợp pháp, không có lý do bào chữa nào hợp lý về việc không biết luật, và động cơ vi phạm luật của người tham gia không phải là vấn đề cần xem xét, ngoài những lý do bào chữa có thể có về sự cưỡng ép trực tiếp và tức thời — trong trường hợp đó mọi việc sẽ trở nên phức tạp hơn một chút.
Nhưng mọi người cứ nói về “ly giáo” — liệu việc tấn phong giám mục mà không có sự ủy quyền của Đức Giáo Hoàng có phải là ly giáo không?
Thực ra, điều đó phụ thuộc vào việc bạn muốn đặt câu hỏi chính xác như thế nào.
Ly giáo được định nghĩa theo giáo luật là “sự từ chối phục tùng Giám mục tối cao hoặc từ chối hiệp thông với các thành viên của Giáo hội thuộc quyền của ngài”.
Trong ngữ cảnh này, ly giáo là một tội lỗi dẫn đến sự lìa bỏ Giáo hội, và về cơ bản là một tội lỗi cả về ý định lẫn hành động. Ngôn từ của luật pháp đưa ra một loạt các biện pháp để quy trách nhiệm, mà người ta phải đáp ứng để tội lỗi được coi là đã phạm phải — để “từ chối”, người ta thường phải được thông báo trực tiếp trước, vì vậy thường cần phải có một lời cảnh báo rõ ràng và dứt khoát cho một người hoặc một nhóm rằng một hành động nhất định sẽ cấu thành ly giáo, hoặc từ chối rút lại lời cảnh báo sau đó.
Tất nhiên, một số hành động rõ ràng và có chủ ý đến mức đôi khi chúng được gọi là hành vi ly giáo theo giáo luật mà không cần cảnh báo, trước hoặc sau khi xảy ra — ví dụ, nếu một giáo sĩ chấp nhận một vị trí mục vụ trong một Giáo hội không thuộc Công Giáo.
Không phải mọi hành vi ly giáo về mặt vật chất đều được theo sau bởi một tuyên bố chính thức của Giáo hội về hình phạt — điều đó có nghĩa là không phải tất cả những người phạm tội ly giáo đều phải chịu hình phạt vạ tuyệt thông. Nhưng trong trường hợp các giám mục của Hội Linh mục Thánh Piô X, hình phạt đã được tuyên bố chính thức, và sau đó được Đức Benedict XVI miễn giảm.
Được đi, nhưng nếu việc tấn phong bất hợp pháp là một tội danh riêng biệt theo giáo luật, và “ly giáo chính thức” không phải lúc nào cũng rõ ràng, tại sao người ta lại nói về “ly giáo” và Hội Linh mục Thánh Piô X?
Có một vài lý do.
Thứ nhất, về lịch sử: cụ thể, lần cuối cùng nhóm này tấn phong giám mục mà không có sự ủy quyền của Đức Giáo Hoàng là vào năm 1988.
Trước biến cố đó, hội, dưới sự lãnh đạo của Tổng Giám mục Marcel Lefebvre, đã công khai thông báo về các lễ tấn phong sắp tới. Đáp lại, Tòa Thánh đã cảnh báo rõ ràng rằng hành động như vậy là không được phép và làm như vậy sẽ là vi phạm sự hiệp thông - một hành vi ly giáo.
Đáp lại việc Lefebvre tấn phong bốn người, Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã viết rằng: “Tự bản thân hành động này là một hành vi bất tuân đối với Giám mục Rôma trong một vấn đề rất nghiêm trọng và tối quan trọng đối với sự hiệp nhất của Giáo hội, chẳng hạn như việc phong chức giám mục, qua đó sự kế thừa tông đồ được duy trì một cách bí tích. Do đó, sự bất tuân như vậy - trên thực tế hàm ý sự bác bỏ quyền tối cao của Rôma - cấu thành một hành vi ly giáo.”
Hội đã được cảnh báo không được tiếp tục các lễ tấn phong, và được nói rõ ràng rằng làm như vậy sẽ là sự bất tuân cố ý và trực tiếp đối với Đức Giáo Hoàng.
Đức Giáo Hoàng lưu ý rằng Lefèbvre vẫn chọn làm như vậy. Nhưng ngài cũng chỉ ra rằng việc Hội tự biện minh cho hành động đó bản thân nó cũng là một loại động cơ có thể quy kết:
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II viết: “Cội nguồn của hành vi ly giáo này có thể được nhận thấy trong một quan niệm không đầy đủ và mâu thuẫn về Truyền thống. Đặc biệt mâu thuẫn là một quan niệm về Truyền thống chống lại Huấn quyền phổ quát của Giáo hội do Giám mục Rô-ma và Hợp đoàn Giám mục nắm giữ. Không thể trung thành với Truyền thống trong khi phá vỡ mối dây liên kết Giáo hội với người mà, trong con người của Thánh Phêrô Tông đồ, chính Chúa Kitô đã giao phó sứ vụ hiệp nhất trong Giáo hội của Người.”
Do đó, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tuyên bố hình phạt vạ tuyệt thông đối với cả năm người, định nghĩa họ là những kẻ ly giáo bằng cách đó.
Điều đáng chú ý là Đức Giáo Hoàng rõ ràng cho rằng bản chất ly giáo của hành vi trong hoàn cảnh đó cần phải được mô tả đầy đủ và trừng phạt theo giáo luật. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II lẽ ra có thể viện dẫn điều khoản giáo luật liên quan đến việc phong chức bất hợp pháp, tuyên bố cùng một hình phạt, và tránh quy kết cho những người tham gia động cơ ly giáo, nhưng thay vào đó, ngài cho rằng hoàn cảnh và động cơ đó đủ tính chất ly giáo đến mức không thể bỏ qua và cần phải có phản hồi.
Và điều đáng chú ý là bề trên hiện tại của hội đã nói rõ trong tuần này rằng ngài tin rằng “những lý do cơ bản biện minh cho việc phong chức năm 1988 vẫn tồn tại và, ở nhiều khía cạnh, thúc đẩy chúng tôi với sự khẩn cấp mới”.
Vì vậy, nói rõ hơn, hội vẫn dựa vào cùng một lý do biện minh như năm 1988 cho bất cứ việc phong chức mới nào — và những lý do biện minh đó đã được Thánh Gioan Phaolô II đánh giá.
— Kể từ đó, ngôn ngữ ly giáo chưa được chính thức bãi bỏ, ngay cả khi Giáo hội đã sử dụng những từ ngữ khác để mô tả nhóm này — Tòa Thánh thường thích nói về hội như đang ở trong sự hiệp thông “bất thường” hoặc “không hoàn hảo”. Ít nhất một số chuyên gia coi đó là một cách nói giảm nói tránh khéo léo...
Đối với một số người, vấn đề này có vẻ hơi rối rắm kể từ khi Đức Giáo Hoàng Benedict XVI dỡ bỏ vạ tuyệt thông đối với các giám mục của Hội còn sống sót vào năm 2009, dẫn đến việc một số người cho rằng toàn bộ hội đã bước vào một thời kỳ mới, hay một kỷ nguyên mới.
Nhưng khi làm như vậy, Đức Giáo Hoàng đã nhằm mục đích làm rõ rằng hành động của ngài là mang tính cá nhân, chứ không phải định chế, và không làm thay đổi điều gì đối với hội nói chung.
Đức Benedict giải thích rằng “Việc vạ tuyệt thông [và việc dỡ bỏ nó] ảnh hưởng đến các cá nhân, chứ không phải các định chế. Việc phong chức giám mục mà không có sự ủy quyền của Đức Giáo Hoàng làm tăng nguy cơ ly khai, vì nó đe dọa sự thống nhất của Hợp đoàn Giám mục với Đức Giáo Hoàng.”
“Việc miễn trừ vạ tuyệt thông là một biện pháp được thực hiện trong lĩnh vực kỷ luật Giáo hội: các cá nhân được giải thoát khỏi gánh nặng lương tâm do hình phạt nghiêm khắc nhất của Giáo hội gây ra,” Đức Benedict viết. “Để làm rõ điều này một lần nữa: cho đến khi các vấn đề giáo lý được làm sáng tỏ, Hội không có tư cách pháp lý trong Giáo hội, và các thừa tác viên của Hội – mặc dù họ đã được miễn hình phạt giáo hội – không được phép thực hiện bất cứ chức vụ nào trong Giáo hội một cách hợp pháp.”
Nói cách khác, Đức Giáo Hoàng Benedict đã nói rõ rằng ngài dự định hành động của mình – dỡ bỏ án phạt vạ tuyệt thông – là một hành động cá nhân, dành cho những giám mục đặc thù đó, chứ không phải là một hình thức phê chuẩn định chế.
Đức Giáo Hoàng không nói rõ ràng rằng Hội Linh mục Thánh Pi-ô X là một định chế ly giáo về mặt hình thức, mặc dù ngài dường như mô tả nó như vậy.
Nhưng việc đó chẳng phải làm cho điều khoản 1378 trở nên thừa thãi sao?
Nếu việc phong chức bất hợp pháp là một hành vi ly giáo, và ly giáo có cùng một hình phạt, tại sao lại có hai tội danh giáo luật riêng biệt?
Đó là một câu hỏi thông minh.
Ly giáo là một tội ác về khuynh hướng và ý định cũng như hành động, và không phải mọi sự phong chức bất hợp pháp mà không có sự cho phép của Giáo hoàng đều nhất thiết là ly giáo.
Hãy xem xét một trường hợp giả định trong đó một giám mục không có sự ủy nhiệm của Đức Giáo Hoàng nhưng, vì một lý do nào đó, ngài nghĩ rằng việc phong chức giám mục cho một người nào đó là vô cùng cấp thiết.
Về mặt lý thuyết, đó vẫn là một hành vi phạm tội và ẽ dẫn đến hình phạt vạ tuyệt thông cho tất cả những người liên quan. Nhưng nếu không có sự trao đổi qua lại với Đức Giáo Hoàng, hoặc không có mệnh lệnh rõ ràng từ Tòa Thánh không được tiếp tục, thì có thể lập luận rằng nó không đủ điều kiện để được mô tả là ly giáo theo luật pháp như là “từ chối phục tùng”.
Và điều đáng chú ý là điều khoản về việc tấn phong giám mục bất hợp pháp đã trải qua những cải cách trong những thập niên gần đây. Trước khi ban hành Bộ luật Giáo luật năm 1983, điều khoản liên quan đã có cách tiếp cận khác đối với vấn đề này:
Điều 2370 của Bộ luật Giáo luật năm 1917 quy định rằng “Một giám mục tấn phong một giám mục khác, cùng với các Giám Mục Phụ Tá hoặc, thay cho các giám mục, các linh mục, và những người được tấn phong mà không có ủy nhiệm tông đồ trái với các điều khoản của [luật] thì theo luật sẽ bị huyền chức cho đến khi Tòa Thánh miễn chuẩn.”
Cần lưu ý hai điểm quan trọng về điều khoản này:
Thứ nhất, bộ luật trước đây chỉ quy định việc huyền chức, chứ không phải là vạ tuyệt thông — cấm các giám mục liên quan thực hiện chức vụ của mình.
Đó là một điều khoản khác biệt rõ rệt, dường như nhằm mục đích nhận ra sự bất thường của những gì đã xảy ra và sự cần thiết phải sửa chữa nó, hơn là áp dụng hình phạt chữa trị tối đa. Và việc thay đổi sang hình phạt nghiêm khắc hơn là điều đáng chú ý, vì bộ luật năm 1983 đặt mục tiêu loại bỏ vạ tuyệt thông tự động bất cứ khi nào có thể.
Thứ hai, cách diễn đạt của điều khoản 2370, “cho đến khi Tòa Thánh miễn trừ cho họ”, thiết lập một giả định về mặt pháp lý rằng những người liên quan sẽ được — và có ý định được — hợp thức hóa và được Tòa Thánh công nhận, và không có ý định phục vụ trong tình trạng ly giáo. Nói rõ hơn, điều này không có nghĩa là việc tấn phong bất hợp pháp không phải là tội ác trước khi có bộ luật năm 1983 — nhưng luật trước đó dường như đã dự liệu những trường hợp mà việc tấn phong như vậy có thể xảy ra mà không có ý định ly giáo như Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã xác định vào năm 1988, liên quan đến Hội Linh mục Thánh Pi-ô X.
Còn về Đức Hồng Y Slipyj thì sao? Chẳng phải ngài đã tấn phong giám mục mà không được phép đó sao?
Trong các cuộc thảo luận về tình hình của Hội Linh mục Thánh Pi-ô X, một ví dụ lịch sử thường được nêu ra — trường hợp của Đức Hồng Y Josyf Slipyj, người vào năm 1977 đã tấn phong giám mục mà không có sự ủy quyền của Đức Giáo Hoàng.
Nhưng đó không hoàn toàn là một tình huống tương tự.
Slipyj là người đứng đầu Giáo Hội Công Giáo Hy Lạp Ukraine trong những thập niên đầu của Chiến tranh Lạnh; ngài đã trải qua nhiều năm trong tù và trại lao động dưới chế độ Xô Viết, trước khi được thả vào những năm 1960.
Vatican, thông qua chính sách Ostpolitik của mình, đã có chính sách chống lại việc tấn phong giám mục cho các quốc gia phía sau Bức màn Sắt.
Nhưng ở tuổi 80, khi đang sống ở Rome, Slipyj đã phong chức cho một số linh mục Công Giáo Hy Lạp người Ukraine mà không có sự cho phép của Đức Giáo Hoàng, rõ ràng là vì ngài lo sợ cho tương lai nhân khẩu học của Giáo hội Ukraine.
Sau này, Thánh Gioan Phaolô II đã bổ nhiệm một trong những giám mục đó làm người đứng đầu Giáo Hội Công Giáo Hy Lạp Ukraine và phong ngài làm Hồng Y.
Một số người ủng hộ Hội Linh mục Thánh Pi-ô X đã chỉ ra tấm gương của Hồng Y này, lưu ý rằng ngài không phải đối diện với bất cứ hình phạt giáo luật nào được biết đến cho hành động của mình.
Nhưng cần lưu ý rằng Slipyj là một người Công Giáo Đông phương — các điều khoản và hình phạt của bộ luật năm 1917 và 1983, dành cho Giáo Hội Công Giáo Latinh, không áp dụng cho ngài.
Hành động của ngài cũng xảy ra trước bộ luật chung cho các Giáo hội Đông phương, trong đó có một điều khoản tương tự như bộ luật năm 1983, nhưng bộ luật này không được ban hành cho đến năm 1990.
Hành động của Slipyj chắc chắn là bất hợp pháp. Nhưng việc so sánh trực tiếp về mặt giáo luật giữa ngài và trường hợp của Lefebvre là không hoàn toàn khả hữu — và cũng không hoàn toàn phù hợp. Và sau các lễ tấn phong, luật đã thay đổi, đến thời điểm ban hành bộ luật năm 1983, Tòa Thánh đã phán quyết rằng các lễ tấn phong không có ủy quyền sẽ phải chịu hình phạt nặng hơn.
Nhưng còn Trung Quốc thì sao? Ở đó có rất nhiều vụ tấn phong bất hợp pháp, phải không?
Một câu hỏi sâu sắc khác. Có rất nhiều điều để nói về Trung Quốc.
Trước hết, cho đến khi Vatican đạt được thỏa thuận tạm thời với Bắc Kinh năm 2018 về việc bổ nhiệm giám mục, đã có một giáo hội ly khai song song, do nhà nước bảo trợ, hoạt động ở Trung Quốc đại lục, thường xuyên tấn phong - một cách bất hợp pháp - các giám mục cho các giáo phận của mình và, trong một số trường hợp, tuyên bố họ là những người lãnh đạo đối thủ của các giáo phận được Rome công nhận.
Những giám mục đó phải chịu hình phạt vạ tuyệt thông tự động thông thường vì tấn phong bất hợp pháp mà không có ủy quyền của Giáo hoàng. Và, bởi vì Hiệp hội Công Giáo Yêu nước Trung Quốc do nhà nước bảo trợ đã công khai bác bỏ quyền lực của Tòa Thánh đối với Giáo hội ở Trung Quốc, nên nó là một nhóm ly khai chính thức. Nhưng sau thỏa thuận năm 2018, những lệnh vạ tuyệt thông đó đã được Rome bãi bỏ — việc đưa Giáo hội nhà nước vào sự hiệp thông với Rome là một nửa mục đích của toàn bộ thỏa thuận.
Việc giành được một số sự công nhận pháp lý cho Giáo hội ngầm ở Trung Quốc là nửa còn lại, và chắc chắn thỏa thuận này không đạt được nhiều thành công ở khía cạnh đó.
Nhưng, quay trở lại câu hỏi chuyên biệt về các lễ tấn phong bất hợp pháp, cũng đúng là Bắc Kinh đã tiến hành một loạt các lễ tấn phong giám mục dường như được thực hiện mà không có sự cho phép của Đức Giáo Hoàng. Trên thực tế, hầu hết những người am hiểu vấn đề đều cho rằng những việc đó hoàn toàn được thực hiện mà không có sự ủy quyền của Đức Giáo Hoàng.
Phản ứng của Rome đối với những sự kiện đó phần lớn là tuyên bố sau đó rằng mọi việc đều ổn, rằng Giáo hoàng đã biết và chấp thuận trước, dù điều đó nghe có vẻ khó tin và dù nhiều báo cáo cho thấy điều ngược lại.
Nhưng Rome cũng có xu hướng nói rằng những lễ tấn phong giám mục đó đang được tiến hành “phù hợp với các điều khoản của thỏa thuận”. Vì các điều khoản của thỏa thuận là bí mật, nên tuyên bố đó không thể bị bác bỏ…
Thỏa thuận đó miễn trừ hay bổ sung bao nhiêu khỏi luật giáo hội thì đơn giản là một ẩn số.
Tóm lại, bất cứ thỏa thuận nào mà Vatican đã ký kết với Trung Quốc, nó có thể và đang tồn tại bên ngoài các quy định phổ quát của luật giáo hội.
— Có một câu hỏi liên quan về Hội Công Giáo Yêu Nước Trung Quốc (CPCA) và tuyên bố của tổ chức này rằng các nhóm tôn giáo ở Trung Quốc phải tự trị khỏi bất cứ thế lực nước ngoài nào — điều này trên lý thuyết nghe giống như một tuyên bố ly giáo khá rõ ràng.
Nhưng xét đến lời khuyên rõ ràng của Tòa Thánh dành cho các giám mục Trung Quốc rằng họ có thể – và thậm chí nên xem xét – đưa ra “lời phản đối lương tâm” đối với bất cứ điều gì mà CPCA tuyên bố trái với giáo lý hoặc giáo hội học của Giáo hội, và xét đến những khẳng định riêng tư của một số giám mục rằng họ công nhận thẩm quyền của Đức Giáo Hoàng, rõ ràng là vẫn còn ít nhất những câu hỏi bỏ ngỏ về trách nhiệm và sự cưỡng ép.
Tất cả những điều này không đúng với ý định đã nêu của Hội Linh mục Thánh Pi-ô X.
Vậy nếu Hội Linh mục Thánh Pi-ô X tiến hành lễ tấn phong vào tháng 7, liệu đó có phải là ly giáo?
Chắc chắn nhiều người sẽ nghĩ vậy. Nhưng chính xác điều gì sẽ xảy ra phụ thuộc vào những gì xảy ra từ nay đến lúc đó, và cuối cùng là quyết định của Đức Giáo Hoàng Leo XIV.
Nếu Vatican đưa ra những cảnh báo rõ ràng tương tự như những cảnh báo đã có trước các lễ tấn phong năm 1988, và hội vẫn tiếp tục bất chấp những cảnh báo đó, thì sẽ khó có thể lập luận cho một phán quyết khác từ phía Giáo hoàng.
Tuy nhiên, nếu muốn, Đức Leo hoàn toàn có thể áp dụng luật của điều 1387 một cách hẹp hòi và tuyên bố vạ tuyệt thông chỉ dựa trên những lý do đó, mà không cần viện dẫn luật về ly giáo.
Quyết định đó có thể sẽ gây ra một vòng tranh luận về việc liệu những người tham gia có thực sự “ly giáo” hay không — mặc dù tất cả họ vẫn sẽ bị vạ tuyệt thông.
Chính Đức Leo, một người am hiểu luật giáo hội, sẽ phải quyết định xem liệu ngài có muốn nhấn mạnh điều gì đó thông qua việc áp dụng luật theo cách đó hay không.