1. Giám mục mới của Trung Quốc được tấn phong theo các điều khoản của một thỏa thuận bí mật.
Một giám mục khác đã được tấn phong tại Trung Quốc, theo các điều khoản của thỏa thuận giữa Trung Quốc và Vatican về việc bổ nhiệm giám mục, trong khi vẫn còn nhiều câu hỏi đặt ra về thỏa thuận này sau khi các lễ tấn phong bí mật bị phanh phui.
Cha Inhaxiô Đinh Tổ Diệu (Ding Zuyao), 40 tuổi, đã được tấn phong làm giám mục của Giáo phận Hải Môn ở bờ biển phía Đông Trung Quốc.
Đức Giám Mục Đinh Tổ Diệu được thụ phong linh mục cho giáo phận vào tháng 10 năm 2011, do đó được thăng chức giám mục ở độ tuổi khá trẻ, chỉ với 15 năm kinh nghiệm làm linh mục. Ngoài Giám mục Marc Hanappier của Huynh Đoàn Thánh Piô X, Đức Giám Mục Đinh Tổ Diệu hiện là giám mục trẻ nhất trong Giáo Hội Công Giáo.
Việc bổ nhiệm của Đức Giáo Hoàng Lêô diễn ra vào ngày 24 tháng 8, trong khuôn khổ thỏa thuận gây tranh cãi giữa Trung Quốc và Vatican về việc bổ nhiệm và tấn phong giám mục. Tuy nhiên, theo thông lệ, thông báo chỉ được công bố vào ngày tấn phong.
Một lần nữa, như thường lệ, thông tin được chia sẻ bởi Giáo hội được nhà nước Trung Quốc công nhận – Hiệp hội Công Giáo Yêu nước Trung Quốc, gọi tắt là CCPA – ghi ngày 14 tháng 5 là ngày ngài được bầu làm giám mục được chỉ định. Không hề nhắc đến Đức Giáo Hoàng hay Tòa Thánh, vì CCPA không công nhận thẩm quyền của Đức Giáo Hoàng và đang trong tình trạng ly giáo.
Giám mục Thẩm Bân là người chủ trì buổi lễ, một sự kiện mang nhiều ý nghĩa quan trọng.
Giáo phận Hải Môn đã bị bỏ trống hơn ba năm sau khi Đảng Cộng sản Trung Quốc đơn phương điều chuyển giám mục đương nhiệm Thẩm Bân đến lãnh đạo Giáo phận Thượng Hải. Việc điều chuyển diễn ra vào ngày 4 tháng 4 năm 2023, trong đó Vatican chỉ được "thông báo" chứ không tham gia vào quyết định.
Bằng hành động đó, CCPA đã vi phạm thỏa thuận Trung Quốc-Vatican và cũng bác bỏ phán quyết của Tòa Thánh theo một cách khác. Khi Thẩm Bân được đưa đến Thượng Hải, là giáo phận mà trên thực tế đã có một giám mục khác tại vị – một giám mục được Tòa Thánh phê chuẩn. Giám mục Tađêo Mã Đạt Khâm(Ma Daqin) đã được bổ nhiệm làm Giám Mục Phụ Tá tại Thượng Hải vào năm 2012, với niềm tin rằng ngài trung thành với họ từ phía CCP. Nhưng sau khi được tấn phong làm giám mục chính thức, ngài đã lên án CCPA và tuyên bố lòng trung thành với Rôma. Sau đó, ngài bị quản thúc tại gia trong một chủng viện gần đó.
Do đó, CCPA đã cách chức Thẩm Bân khỏi vị trí giám mục được Vatican phê chuẩn của Hải Môn để thay thế giám mục được Vatican phê chuẩn của Thượng Hải. Sau ba tháng im lặng, Tòa Thánh buộc phải phê chuẩn động thái này, là điều mà các chuyên gia về Trung Quốc đã cảnh báo vào thời điểm đó sẽ chỉ khuyến khích Trung Quốc tiếp tục coi thường Vatican một cách trắng trợn.
Hiện tại, Thẩm Bân đảm nhiệm hai chức vụ: ông là giám mục Thượng Hải, được cả Tòa Thánh và Giáo Hội Công Giáo Trung Quốc, gọi tắt là CCPA công nhận. Nhưng ông cũng là chủ tịch Hội đồng Giám mục Công Giáo Trung Quốc – là cơ quan giám mục của CCPA, vốn cũng không công nhận Đức Giáo Hoàng hay quyền lực của ngài. Kể từ đó, Thẩm Bân đã trở thành một nhân vật hàng đầu trong chiến dịch Hán hóa của CCPA – nhằm mục đích đưa tôn giáo phục tùng ý chí của Đảng Cộng sản.
Sự mâu thuẫn như vậy trong cuộc sống thường nhật là điển hình cho thực trạng đã tồn tại kể từ khi thỏa thuận Trung-Vatican được ký kết lần đầu tiên vào năm 2018.
Mặc dù văn bản này vẫn được giữ bí mật, nhưng người ta hiểu rằng nó cho phép một đường lối hợp tác trong việc lựa chọn giám mục. Trên thực tế, thỏa thuận bí mật này có lợi cho Trung Quốc, và mặc dù Đức Giáo Hoàng dường như vẫn giữ quyền phủ quyết đối với việc lựa chọn giám mục, Bắc Kinh dường như luôn nắm quyền kiểm soát.
Điều này đã dẫn đến sự gia tăng đáng kể các vụ bức hại Kitô giáo được ghi nhận rộng rãi, và người Công Giáo địa phương chứng kiến các hoạt động tôn giáo của họ bị kiểm soát và hạn chế hơn. Ngay sau khi thỏa thuận được ký kết, AsiaNews – một trang Web thường xuyên ghi nhận các vụ bắt cóc và tra tấn người Công Giáo hoạt động bí mật – đã đưa tin rằng "[những người Công Giáo hoạt động bí mật] vô cùng nghi ngờ rằng Vatican đã bỏ rơi họ."
Ngay cả Ủy ban Quốc hội-Điều hành Hoa Kỳ về Trung Quốc cũng đã ghi nhận điều này, lưu ý trong các báo cáo liên tiếp rằng sự gia tăng đàn áp là kết quả của thỏa thuận, chứ không chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Trong báo cáo năm 2020, Ủy ban viết rằng sự đàn áp mà họ chứng kiến "có cường độ chưa từng thấy kể từ Cách mạng Văn hóa".
Việc Tòa Thánh tiếp tục tuân thủ thỏa thuận này vẫn vấp phải sự giám sát chặt chẽ, đặc biệt là sau khi thỏa thuận được gia hạn thêm bốn năm vào năm 2024.
Tuy nhiên, gần đây, như tờ Catholic Herald đã đưa tin, Giáo hội ngầm đã cho thấy những dấu hiệu rõ ràng hơn về sự không thỏa đáng của thỏa thuận này. Các giám mục đang được tấn phong bí mật cho cộng đồng ngầm, với ít nhất 10 giám mục đã được tấn phong chỉ riêng tại tỉnh Phúc Kiến kể từ khi thỏa thuận được ký kết lần đầu. Tờ Catholic Herald được biết rằng nhiều trong số đó đã diễn ra trong năm ngoái.
Động thái gây chú ý này được thực hiện nhằm "bảo đảm sự tồn tại của Giáo hội Trung Quốc", trong bối cảnh lo ngại rằng "sự toàn vẹn của đức tin Công Giáo sẽ bị tổn hại" do ảnh hưởng ngày càng tăng của các quan chức Cộng sản.
Tòa thánh giờ đây đã nhận thức được thực tế này, dù trước đó có vẻ như họ vẫn không hề hay biết, nhưng tình trạng hiện tại dường như vẫn được duy trì liên quan đến việc hợp tác với Bắc Kinh trong việc bổ nhiệm giám mục – một thỏa thuận mà người dân địa phương cho rằng sẽ không mang lại kết quả tốt đẹp nào.
Source:Catholic Herald
2. Nước Pháp đang chìm trong biển lửa – nhưng niềm hy vọng vẫn còn đó.
Nhà văn Pháp Gabriel Dresner có bài viết nhan đề "La France brûle – mais l’espoir demeure" nghĩa là "Nước Pháp đang chìm trong biển lửa – nhưng niềm hy vọng vẫn còn đó".
Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Thụy Khanh
Biểu tình gần như là một môn thể thao quốc gia ở Pháp. Ai cũng biết điều đó. Tuy nhiên, những gì chúng ta chứng kiến trên khắp đất nước vào thứ Bảy vừa qua là bạo lực, cướp bóc, phá hoại và giận dữ.
Quy mô của tình trạng bất ổn là rất đáng kể. Theo Bộ Nội vụ, khoảng 550.000 người đã tham gia các cuộc biểu tình trên toàn quốc vào thứ Bảy, ngày 17 tháng 10, trong khi các nhà tổ chức ước tính con số này lên tới hơn 800.000 người. Đến Chúa Nhật, chính quyền đã báo cáo khoảng 1.800 vụ bắt giữ, với hàng trăm cảnh sát, hiến binh và lính cứu hỏa bị thương. Thiệt hại có thể thấy rõ ở nhiều thành phố: tại Paris, các cửa hàng bị đập phá, xe cộ bị đốt cháy và các doanh nghiệp bị cướp bóc; tại Lyon, một văn phòng du lịch bị đốt cháy; và tại Limoges, tòa thị chính thế kỷ 19 của thành phố bị những kẻ đốt phá phóng hỏa. Hàng trăm doanh nghiệp bị ảnh hưởng, với liên đoàn bán lẻ ước tính khoảng 1.500 cửa hàng bị hư hại. Những con số này vẫn chỉ là tạm thời, nhưng sự khác biệt giữa quy mô của các cuộc biểu tình và bạo lực xảy ra bên lề của chúng là rất quan trọng. Nhiều người đã xuống đường để bày tỏ sự bất bình của họ; những người dùng đến hành vi đốt phá, cướp bóc và tấn công tài sản công cộng phải chịu trách nhiệm về hành động của chính mình. Giới chức trách cho rằng một số vụ bạo lực là do các nhóm cực tả và tội phạm cơ hội gây ra, mặc dù hoàn cảnh chính xác và trách nhiệm đối với từng vụ việc cụ thể vẫn đang được điều tra.
Tôi rời Paris để nghỉ hè và phải thừa nhận rằng tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi được rời đi. Chỉ riêng cảm giác đó thôi cũng đã nói lên nhiều điều. Liệu đây có phải là khởi đầu của một kỷ nguyên mới? Liệu chúng ta sẽ quen với những cảnh tượng như thế này? Liệu chúng ta sẽ chỉ đứng nhìn, bất lực, khi đường phố, di sản và các công trình kiến trúc của chúng ta bị phá hoại bởi những kẻ không tôn trọng công sức, lòng nhiệt huyết và sự cống hiến của nhiều thế hệ đã tạo nên cảnh quan nước Pháp? Liệu chúng ta sẽ đến một điểm mà chúng ta không còn cảm thấy an toàn trong chính thành phố của mình nữa?
Làm sao mà chúng ta lại rơi vào tình cảnh này? Khi còn là thiếu niên, tôi nhớ các học sinh trung học đã biểu tình phản đối cải cách giáo dục của François Fillon (năm 2005). Trước khi bước sang tuổi đôi mươi, khi chúng tôi đang chuẩn bị cho kỳ thi tuyển sinh đầy cạnh tranh vào trường École normale supérieure, gọi tắt là ENS, các thầy cô đã cố gắng hết sức để bảo vệ chúng tôi khỏi một làn sóng biểu tình khác của học sinh, để chúng tôi có thể tham dự các bài giảng mà không bị quấy rầy. Mười năm sau, học sinh lại biểu tình một lần nữa.
Tôi làm việc trong hệ thống giáo dục quốc gia Pháp, và tôi không nghi ngờ gì về việc cải cách là cần thiết. Nhà nước đang gặp khó khăn trong việc tuyển dụng giáo viên ở một số môn học; nhiều giáo viên không còn cảm thấy được công chúng và – trớ trêu thay – tôn trọng một cách đầy đủ, và thậm chí cả từ phía học sinh đang biểu tình đòi tăng số lượng giáo viên.
Về phía sinh viên, họ đang phản đối tình trạng thiếu giáo viên, lớp học quá tải và các vấn đề liên quan đến tuyển sinh đại học. Những bức xúc của họ không phải là không có cơ sở.
Không thể phủ nhận rằng hệ thống giáo dục Pháp đang gặp khó khăn, ít nhất là ở khu vực do nhà nước tài trợ. Ngược lại, các trường tư thục dường như hoạt động tương đối tốt, mặc dù chúng ngày càng bị tấn công, đặc biệt là bởi Hội Tam điểm. (Nhưng đó có lẽ là chủ đề cho một dịp khác.)
Madeleine de Jessey, một giáo viên người Pháp, gần đây đã xuất bản cuốn sách L’École des illettrés (Trường học của những người mù chữ), một bài luận phân tích điều mà bà cho là sự xói mòn dần dần các kỹ năng ngôn ngữ cơ bản và tiêu chuẩn học thuật trong các trường học Pháp. Luận điểm chính của bà là việc thành thạo ngôn ngữ mẹ đẻ không chỉ là điều kiện tiên quyết để đạt được thành tích học tập: nó còn thiết yếu cho khả năng tư duy mạch lạc, lập luận độc lập và thực hiện tự do trí tuệ. Tôi sẽ không tóm tắt các luận điểm của bà ở đây. Thay vào đó, tôi sẽ lưu ý đến một vấn đề dường như đặc biệt đáng chú ý: các giáo viên đã mất đi phần lớn quyền lực và sự tôn trọng mà họ từng có. Nói rộng hơn, xã hội Pháp dường như đang phải vật lộn với chính khái niệm về quyền lực.
Vậy nên, không có gì đáng ngạc nhiên khi những cuộc biểu tình này đã phát triển thành một phong trào trên toàn quốc. Tổng thống Macron bắt đầu nhiệm kỳ đầu tiên của mình với phong trào Áo vàng hay Gilets jaunes; ông dường như đang chuẩn bị kết thúc nhiệm kỳ thứ hai với phong trào Áo trẻ hay Gilets jeunes. Tuy nhiên, điều khiến tôi ngạc nhiên là giọng điệu của phần lớn các bài báo trên báo chí quốc tế. Khi đọc các tờ báo nước ngoài, tôi nhận thấy một số tờ báo dường như dễ dàng ủng hộ các cuộc biểu tình, trong khi đổ lỗi hoàn toàn cho cảnh sát về mọi thương tích.
Trước hết, không ai ép buộc những người trẻ này tham gia vào các cuộc đối đầu bạo lực. Tôi có thể có những lời chỉ trích riêng đối với hệ thống giáo dục Pháp, và chắc chắn có những điểm tôi muốn nêu ra với Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Tuy nhiên, tôi chưa bao giờ cảm thấy cần phải xuống đường, đốt thùng rác hay nhặt lựu đạn ném vào cảnh sát. Do đó, tôi vẫn còn nguyên vẹn cả hai tay. Biểu tình là một quyền; tham gia vào bạo lực là một sự lựa chọn, và sự lựa chọn nào cũng có hậu quả.
Tôi cũng băn khoăn về sự mâu thuẫn rõ ràng trong cách chúng ta nói về giới trẻ. Một mặt, chúng ta được cho rằng những người mười bảy tuổi đã đủ lớn để bày tỏ quan điểm chính trị của mình và được xem xét nghiêm chỉnh. Mặt khác, mỗi khi một số người trong số họ có hành vi phá hoại hoặc bạo lực, chúng ta lại được mời biện minh cho hành động của họ với lý do họ vẫn còn là trẻ con. Chắc chắn chúng ta không thể vừa muốn điều này vừa muốn điều kia.
Hai tháng trước, vào ngày 25 tháng 8, nước Pháp kỷ niệm ngày giải phóng Paris năm 1944. Khi đọc những bài viết tưởng niệm được đăng tải nhân dịp đó, tôi nhớ đến những thanh niên nam nữ đã gia nhập phong trào Kháng chiến trong thời kỳ Đức xâm lược, một số người trong số họ chỉ mới mười sáu hoặc mười bảy tuổi. Nhiều người đã liều mình, và cuối cùng đã hy sinh, để chiến đấu cho sự giải phóng đất nước. Trong số đó có những người Cộng sản trẻ tuổi, một số được định hình bởi cùng một truyền thống chính trị mà cánh tả Pháp hiện đại, bao gồm cả La France insoumise, gọi tắt là LFI, một phần kế thừa. Hoàn cảnh lịch sử, tất nhiên, hoàn toàn khác biệt: chống lại chế độ xâm lược của Đức Quốc xã không thể so sánh với việc phản đối một chính phủ dân chủ. Nhưng sự tương phản trong cách chúng ta hình dung về sự tham gia chính trị của giới trẻ vẫn rất đáng chú ý. Ý tưởng cho rằng niềm tin cần phải bao hàm lòng dũng cảm, kỷ luật và sự sẵn sàng chấp nhận trách nhiệm giờ đây đã đi đến đâu?
Từ lâu nay, các trường học đã không còn vun đắp cho trẻ em lòng yêu nước, lịch sử và di sản của đất nước. Chúng ta đang sống trong một nền văn hóa tự ti, nơi mà chúng ta liên tục được kỳ vọng phải nhìn nhận quá khứ qua lăng kính những thất bại, phải nhận lỗi, phải xin lỗi và phải bồi thường. Vậy thì, làm sao chúng ta có thể ngạc nhiên khi các thế hệ trẻ lớn lên với cảm giác rằng xã hội nợ họ điều gì đó, thay vì cảm thấy bản thân cũng có bổn phận phải tôn trọng và biết ơn đất nước mà họ được thừa hưởng?
Khi các trường học không còn truyền đạt di sản đó một cách tự tin, và khi chính đất nước dường như ngày càng ngần ngại khẳng định những giá trị mà mình theo đuổi, thì điều gì còn lại để đoàn kết công dân của nó? Chúng ta không thể kỳ vọng sự hội nhập sẽ thành công nếu chúng ta không còn sẵn sàng giải thích ý nghĩa của việc thuộc về nước Pháp – hoặc tại sao sự thuộc về đó lại đáng được tôn trọng.
Các cuộc biểu tình bắt đầu vào thứ Hai sau chuyến thăm Pháp của Đức Giáo Hoàng. Sự tương phản rất rõ rệt: một mặt, những cảnh bạo lực và tàn phá đang diễn ra khắp đất nước; mặt khác, chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng và tinh thần đoàn kết mãnh liệt xoay quanh các vị thánh của Pháp. Hai tầm nhìn rất khác nhau về nước Pháp, và về điều gì gắn kết một quốc gia lại với nhau.
Niềm tin tôn giáo là điều giúp tôi lạc quan, hoặc ít nhất là cho tôi cơ sở để hy vọng. Nước Pháp có lịch sử lâu đời về lòng sùng kính Đức Mẹ, và Đức Mẹ Maria luôn dành sự chăm sóc đặc biệt cho đất nước chúng ta. Trải qua nhiều thế kỷ, một số lần Đức Mẹ hiện ra đã gắn liền với những thời kỳ biến động chính trị và khó khăn quốc gia. Năm 1830, tại phố Rue du Bac ở Paris, Thánh Catherine Labouré đã thuật lại những thị kiến về Đức Mẹ Maria, dẫn đến việc tạo ra Huy chương Đức Mẹ Ban Ơn, vào thời điểm cách mạng và bất ổn chính trị. Năm 1846, tại La Salette, Đức Mẹ kêu gọi mọi người hoán cải và cầu nguyện. Năm 1858, tại Lourdes, Mẹ hiện ra với Thánh Bernadette Soubirous, tự xưng là Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.
Chúa Nhật này, gia đình tôi sẽ hành hương đến Pontmain. Thời điểm này không thể nào thích hợp hơn. Ngôi đền được xây dựng để tạ ơn sự che chở của Đức Mẹ dành cho nước Pháp trong một trong những thời khắc đen tối nhất của lịch sử đất nước.
Ngày 17 Tháng Giêng năm 1871, trong khi đất nước đang chịu thất bại và bị tạm chiếm, bốn đứa trẻ đã kể lại việc nhìn thấy Đức Mẹ Maria trên bầu trời Pontmain. Dân làng tụ tập cầu nguyện, và sự hiện ra kéo dài trong vài giờ. Ngày hôm sau, bước tiến của quân Phổ về phía Laval bị chặn đứng; một hiệp định đình chiến được ký kết vào ngày 28 Tháng Giêng – sau thỏa thuận sơ bộ ngày 26 Tháng Giêng – và những người đàn ông ở Pontmain ra trận cuối cùng đã trở về nhà. Giáo hội đã công nhận sự hiện ra này vào năm 1872, và một vương cung thánh đường sau đó được xây dựng trên địa điểm đó. Đối với những người tín hữu, Pontmain vẫn là một lời nhắc nhở mạnh mẽ rằng ngay cả khi mọi thứ dường như đã mất hết, lời cầu nguyện không phải là vô ích và hy vọng không cần phải từ bỏ.
Thông điệp của Đức Mẹ là một thông điệp cầu nguyện và hy vọng: "Nhưng hãy cầu nguyện, các con của Mẹ. Thiên Chúa sẽ lắng nghe các con trong một thời gian ngắn nữa. Thánh Tử Mẹ đã để cho chính Ngài cảm động."
Đó chính là niềm hy vọng của chúng ta.
Chúa đã hứa rằng Ngài sẽ trở lại; nhưng Ngài không bao giờ hứa rằng khi Ngài trở lại, nước Pháp vẫn sẽ là một quốc gia vĩ đại. Là một bậc phụ huynh, tôi muốn truyền lại cho con cái mình tình yêu và sự ngưỡng mộ mà tôi dành cho đất nước, lịch sử, vẻ đẹp và di sản của nó. Tôi cũng cố gắng làm điều tương tự với các học sinh của mình. Tôi muốn các em hiểu rằng nước Pháp là một nền văn minh được hình thành bởi nhiều thế hệ hy sinh, đức tin, lao động và tình yêu thương, và những gì chúng ta được thừa hưởng rất đáng để biết đến, trân trọng và truyền lại.
Tuy nhiên, cuối cùng, niềm tin của tôi đặt nơi Chúa, chứ không phải vào sự trường tồn hay vĩ đại của bất kỳ quốc gia trần gian nào. Thời kỳ khó khăn này là một lời nhắc nhở hữu ích rằng, dù những của cải trần gian cao quý và tuyệt vời đến đâu – đất nước, văn hóa, di sản và cộng đồng mà chúng ta thuộc về – chúng không phải là mục đích tự thân. Ở khía cạnh tốt nhất, chúng hướng chúng ta đến một điều gì đó vĩ đại hơn chính chúng: thiên đường, Giêrusalem trên trời, Vương quốc của Thiên Chúa mà chúng ta hy vọng sẽ được sống trong đó một ngày nào đó.
Chỉ ở đó mọi thứ mới trở nên hoàn hảo.
Source:Catholic Herald
3. Tòa thánh nhấn mạnh giáo lý và phụng vụ là công cụ để truyền bá đức tin trong một ‘sự thay đổi mang tính thời đại’.
Một tài liệu mới được Tòa thánh công bố xem xét vấn đề truyền bá đức tin trong một "sự thay đổi mang tính thời đại", dựa trên những đề xuất của giám mục toàn cầu và các Đức Giáo Hoàng gần đây để đưa ra một danh sách chưa đầy đủ về "những con đường cụ thể" để rao giảng Tin Mừng.
Tài liệu "Venite ad me – Những suy xét về việc truyền bá đức tin trong một sự thay đổi mang tính thời đại" đã được Bộ Giáo lý Đức tin công bố vào ngày 22 tháng 10. Văn bản này là kết quả của một yêu cầu trực tiếp từ Đức Giáo Hoàng Phanxicô, người đã đề nghị soạn thảo một tài liệu như vậy trong "những ngày cuối đời" của mình, nhằm "khuyến khích thảo luận và suy ngẫm trong cộng đồng".
Đức Hồng Y Victor Manuel Fernández, nhà lãnh đạo Tòa Thánh, viết rằng việc Đức Giáo Hoàng Lêô đắc cử và Đại lễ Cứu chuộc sắp tới vào năm 2033 "đã tạo động lực lớn hơn nữa để đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị văn kiện này".
"Trong thời đại phân mảnh sâu sắc này, cần phải quay trở lại nền tảng của đức tin chúng ta, trở về với lời rao giảng," đoạn văn trích dẫn trực tiếp từ bài phát biểu của Đức Giáo Hoàng Lêô XIV trước hàng giám mục Ý vào tháng 6 năm 2025. "Đây là cam kết quan trọng đầu tiên thúc đẩy tất cả các cam kết khác."
Văn bản dài này được Bộ Giáo Lý Đức Tin soạn thảo sau khi tham khảo ý kiến của các giám mục trên toàn thế giới. Do đó, phần lớn các trích dẫn đều đến từ Đức Giáo Hoàng Phanxicô và Đức Giáo Hoàng Lêô, hoặc được lấy trực tiếp từ các báo cáo của các hội đồng giám mục nhằm đáp lại cuộc khảo sát do Bộ Giáo Lý Đức Tin thực hiện để chuẩn bị cho văn bản này.
Được viết trong bối cảnh "sự thay đổi mang tính thời đại", văn bản của Bộ Giáo Lý Đức Tin đề cập đến "cuộc khủng hoảng trong việc truyền thừa đức tin Kitô giáo giữa các thế hệ", cùng với "giai đoạn thế tục hóa cao độ". Thay thế cho Kitô giáo là một loạt các nền văn hóa mới, ưu tiên "quyền tự chủ và tự do quyết định mọi khía cạnh tồn tại của chính mình, lệ thuộc vào nhu cầu của những người khác và thực tại xung quanh".
Theo Bộ Giáo Lý Đức Tin, đang có một xu hướng lan rộng của "chủ nghĩa cá nhân cực đoan, tạo ra sự chia rẽ, phân biệt, đố kỵ, ghen ghét, thống trị, tự ái và sùng bái bản thân."
Thêm vào đó là cuộc cách mạng kỹ thuật số, vốn cũng đặt ra những thách thức riêng. Một trong những thách thức được Bộ Giáo Lý Đức Tin chỉ ra là ý kiến cho rằng một số người tiếp xúc với Công Giáo trực tuyến có thể thấy nó "tách rời khỏi đời sống thực tế, hoặc gắn liền với các ý thức hệ được cổ vũ bởi các nhóm thiểu số ồn ào". Theo Đức Hồng Y Fernández, điều này có thể dẫn đến việc các cá nhân xây dựng đức tin "dựa trên thị hiếu và sở thích cá nhân hơn là dựa trên giáo huấn của Giáo hội".
Về các phương pháp để chống lại sự thay đổi của thời đại, Bộ Giáo Lý Đức Tin đã nêu rõ rằng tài liệu mới của họ không phải là bản tóm tắt dứt khoát về các kỹ thuật truyền giáo. Tài liệu này xem xét "nhiều quan điểm khác nhau mà không khẳng định đã giải quyết dứt điểm vấn đề, vốn vẫn còn mở để phân tích và phát triển thêm." Thậm chí nó cũng không mang trọng lượng của một Văn bản chính thức, có nghĩa là "Những cân nhắc" không có "sự chính xác về thuật ngữ và cách giải quyết có hệ thống" mà thay vào đó mang "phong cách diễn đạt tự do hơn".
Văn bản này nêu ra năm khía cạnh "thiết yếu": đời sống cộng đồng tốt đẹp trong Giáo hội, phụng vụ, chứng nhân Công Giáo, vai trò của nghệ thuật và cái đẹp, và cuối cùng là bảo vệ các giá trị Công Giáo ở mọi giai đoạn của cuộc sống.
Bên cạnh đó, còn có thêm những yếu tố khác cần xem xét, chẳng hạn như tầm quan trọng của các cuộc hành hương, các bài giảng được chuẩn bị kỹ lưỡng, vai trò ngày càng tăng của phụ nữ và các cuộc gặp gỡ trực tiếp giữa người với người thay vì các phương pháp kỹ thuật số.
Giáo lý và phụng vụ
"Nhu cầu truyền bá đức tin, bắt đầu từ lời rao giảng, vẫn là điều thiết yếu," Bộ Giáo Lý Đức Tin viết. Văn phòng của Fernández nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo lý có chủ đích, nhằm chống lại tình trạng nhiều trẻ em ngừng thực hành đức tin sau khi lãnh nhận các bí tích đầu tiên.
Để làm được điều này, Giáo hội phải tránh lối hành văn lỗi thời, Bộ Giáo Lý Đức Tin cho biết, lập luận rằng "giờ đây việc tránh chỉ sử dụng ngôn ngữ "kinh viện", "giáo điều" hoặc "đạo đức" trong giáo lý là cấp thiết hơn bao giờ hết". Thay vào đó, "nó phải mang hình thức của một mối quan hệ tương tác giữa người với người", Bộ Giáo Lý Đức Tin viết, trích dẫn từ tông huấn Christus Vivit năm 2019 của Đức Giáo Hoàng Phanxicô.
Nhiều đề xuất của Bộ Giáo Lý Đức Tin không phải là những điều hoàn toàn mới mẻ. Tổ chức này khuyến khích các nhóm cầu nguyện, học Kinh Thánh và những tình bạn chân thành, nơi mọi người có thể trải nghiệm đức tin.
Văn bản "Những cân nhắc" cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của phụng vụ, vì đó là "ký ức sống động và truyền thống" của Giáo hội. Theo Bộ Giáo Lý Đức Tin, phụng vụ phải thể hiện "một cách sống động và cụ thể đức tin duy nhất của Giáo hội" để củng cố "ý thức về việc là một thành viên của Thân Thể Chúa Kitô".
Sử dụng câu tục ngữ cổ "lex orandi, lex credendi" nghĩa là "luật cầu nguyện phản ảnh đức tin", Bộ Giáo Lý Đức Tin viết rằng, xét về khía cạnh này và liên quan đến "việc truyền bá đức tin, do đó, phụng vụ có tầm quan trọng sống còn".
Tại đây, Bộ Giáo Lý Đức Tin cũng khẳng định rằng "chỉ thông qua sự tham gia có ý thức đầy đủ, điều này đòi hỏi một nền giáo dục đầy đủ về ngôn ngữ phụng vụ" thì đức tin mới có thể được "truyền đạt không phải như một học thuyết trừu tượng, mà như một cuộc sống mới được lan tỏa bằng sức hút trong cuộc sống hằng ngày".
Văn bản không đề cập đến các nghi thức khác nhau, chỉ đơn giản nói rằng phụng vụ "có thể được trải nghiệm theo nhiều cách khác nhau". Tuy nhiên, nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc người Công Giáo có thể "tiếp cận các cảm nhận phụng vụ khác nhau hiện diện trong truyền thống của Giáo Hội Công Giáo".
Đáng chú ý, Bộ Giáo Lý Đức Tin nhận xét rằng phương Tây nói riêng đã phải chịu đựng "sự mất mát dần dần ký ức tập thể về các nghi lễ và tập tục truyền thống, thay vào đó là một hình thức chủ nghĩa cá nhân cực đoan."
Chứng kiến nghệ thuật, vẻ đẹp và nhiều độ tuổi khác nhau
Ngay sau những cân nhắc về phụng vụ là những suy nghĩ của Bộ Giáo Lý Đức Tin về tầm quan trọng của chứng nhân Công Giáo, đặc biệt nhấn mạnh "chứng nhân cụ thể về tình yêu của Thiên Chúa mà các tín hữu thể hiện bằng cách chăm sóc, một cách ưu tiên, cho người nghèo, người thiệt thòi và người bị gạt ra ngoài lề xã hội." Bộ Giáo Lý Đức Tin viết rằng lời kêu gọi phổ quát về sự thánh thiện cần được khơi dậy. Điều này có thể được hỗ trợ bằng cách tận dụng những tài năng của Giáo hội trong lĩnh vực nghệ thuật, đặc biệt là thông qua âm nhạc tôn giáo.
Bản "Những lưu ý" cũng đề cập đến những người Công Giáo không còn sinh hoạt và những người rời bỏ Giáo hội. Văn bản này nhấn mạnh rằng ở mọi giai đoạn trong cuộc đời, Giáo hội cần tiếp cận lại những người như vậy. Đức Giáo Hoàng Đức tin, gọi tắt là Bộ Giáo Lý Đức Tin viết rằng điều này "thách thức toàn thể Giáo hội, thúc giục Giáo hội trở nên hiệp thông và truyền giáo hơn bao giờ hết, đặc biệt là bằng cách nuôi dưỡng những ân tứ mà Chúa Thánh Thần khơi dậy trong dân Chúa. "
Văn bản này đã được Đức Giáo Hoàng Lêô phê chuẩn vào ngày 21 tháng 8, được Bộ Giáo Lý Đức Tin chấp thuận vào tháng 6 và có chữ ký của Hồng Y Victor Manuel Fernández, nhà lãnh đạo Bộ Giáo Lý Đức Tin, và Đức ông Armando Matteo, thư ký giáo lý của Bộ Giáo Lý Đức Tin.
Như đã đề cập, đây là kết quả của cuộc khảo sát giám mục toàn cầu do Vatican thực hiện và đã được phân phát cho các giám mục giáo phận trước khi được công bố ngày hôm nay. Tuy nhiên, văn bản này có nguy cơ chịu chung số phận với nhiều văn bản tương tự khác, đó là dài dòng, rườm rà và quá mơ hồ.
Chắc chắn, một số quan điểm và vấn đề sùng đạo, chính thống được chứa đựng trong nội dung văn bản, nhưng nếu không có khuyến nghị cụ thể, phần "Những lưu ý" sẽ để cho mỗi người nhận tự diễn giải.
Ngoài ra, có một số đoạn văn có thể gây thắc mắc. Tài liệu Bộ Giáo Lý Đức Tin nêu trong một đoạn rằng "đức tin không được truyền đạt chủ yếu như một tập hợp nội dung giáo lý hoặc thông tin tôn giáo, mà như một hình thức đời sống Giáo hội mà người tín hữu được dần dần làm quen." Ngược lại, Giáo hội nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hướng dẫn giáo lý đúng đắn, với việc Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II viết trong Catechesi Tradendae rằng:
"Cũng không nên tạo ra sự đối lập giữa một phương pháp giáo lý lấy cuộc sống làm điểm xuất phát và một phương pháp giáo lý truyền thống, có hệ thống và dựa trên giáo lý… Cũng hoàn toàn vô ích khi vận động từ bỏ việc nghiên cứu nghiêm chỉnh và có hệ thống về thông điệp của Chúa Kitô nhân danh một phương pháp tập trung vào kinh nghiệm sống."
Văn bản này giống như một lời kêu gọi nhẹ nhàng tới Giáo hội hãy đơn giản là sống đúng với bản sắc Công Giáo, nhưng lại thiếu những cách thức cụ thể để thực hiện điều đó, đặc biệt là trong những lĩnh vực mà bản sắc Công Giáo đang bị tấn công mạnh mẽ nhất. Hoàn toàn không có đề cập đến phá thai, an tử, tự sát có hỗ trợ, các cuộc tấn công vào hôn nhân và đời sống gia đình thông qua thụ tinh trong ống nghiệm và ý thức hệ LGBT. Đây là một thiếu sót sẽ gây ảnh hưởng lớn nhất đến người Công Giáo, đặc biệt là giáo dân, bởi vì đối với họ, những vấn đề này vốn đã là mối quan tâm cấp bách trong cuộc sống hàng ngày.
Trong văn bản này, tính hiệp thông được nhắc đến thường xuyên hơn cả tội lỗi – điều này cũng không có gì đáng ngạc nhiên vì chính văn bản khuyến khích Giáo hội tránh sử dụng ngôn ngữ "giáo điều" hay "đạo đức". Vì vậy, văn bản này mang đậm phong cách thần học và tâm linh của Đức Giáo Hoàng Phanxicô và người viết hộ ngài, Hồng Y Fernández.
Về hiệu quả, chỉ thời gian mới trả lời được liệu những "Suy nghĩ" mới này có giúp ích cho việc truyền bá Đức tin hay không. Tuy nhiên, khi đánh giá sơ bộ, văn bản này dường như chỉ đang tái hiện lại tình cảm ngọt ngào và sự thiếu sức mạnh về giáo lý đã đánh dấu đời sống của Giáo hội trong những thập niên gần đây: do đó, nó có nguy cơ khó tạo ra bất cứ điều gì khác biệt đáng kể.
Source:Catholic Herald