Chương 4: Cons-Tan-Ti-Nô Ưu Ái Các Tín Hữu Và Mở Ra Một Kỷ Nguyên Mới Cho Lịch Sử Giáo Hội



Giáo Hội Công Giáo đã đối diện với nguy cơ tan rã từ bên trong bằng cách xây dựng một hệ thống thẩm quyền dựa trên giám mục, giáo luật và tín điều. Nhưng một mối đe dọa tàn khốc hơn nữa đến từ bên ngoài, dưới hình thức nhà nước Rô-ma toàn năng. Cuộc bách hại Giáo hội của Rô-ma kéo dài hơn hai thế kỷ và góp phần rất lớn vào sự lan rộng của Giáo hội – máu của các vị tử đạo là hạt giống của các tín hữu, như Ter-tu-li-a-nô đã nói. Kỷ nguyên bách hại kết thúc không phải bằng tiếng rên rỉ mà bằng một tiếng nổ lớn khi chính Hoàng đế Cons-tan-ti-nô đứng về phía các tín hữu.

La-mã khoan dung trong nguyên tắc và cho phép nhiều tôn giáo phát triển. Họ chỉ tuyên chiến với các tín hữu khi nhận ra rằng mục tiêu của họ là chiến thắng hoàn toàn tất cả các tôn giáo khác. Vụ bách hại đầu tiên được ghi nhận của Chính phủ Rô-ma là hành động của Nê-rông vào năm 64. Không có lý do gì để cho rằng Hoàng đế dựa vào một sắc lệnh được soạn thảo để cấm đoán Kitô giáo. Ông ta chỉ đơn thuần lợi dụng dư luận, vốn coi người Kitô hữu là những kẻ vô thần và quái vật đạo đức vì họ từ chối tham gia thờ cúng ngoại giáo và vì sự bí mật trong các nghi lễ của họ.

Mãi đến thế kỷ thứ ba, chính quyền Rô-ma mới quyết định nghiêm túc đối phó với mối đe dọa từ Kitô giáo. Vấn đề cơ bản là tôn giáo. Tin Mừng Kitô giáo rao giảng về sự hiện hữu của một Thiên Chúa duy nhất và do đó đòi hỏi sự bác bỏ hoàn toàn các vị thần mà Rô-ma thờ phụng. Hơn nữa, người Kitô hữu có quan điểm tương đối về thẩm quyền của Hoàng đế và Đế quốc, chỉ cần tuân theo khi chúng phù hợp với ý muốn của một Thiên Chúa duy nhất, điều đã được mặc khải cho Giáo hội của Người.

Các sắc lệnh đã được ban hành buộc các thống đốc tỉnh phải đàn áp người Kitô hữu. Septimius Severus (193–211) là người đầu tiên ban hành sắc lệnh như vậy. Những lời phản đối mạnh mẽ bằng văn bản chống lại sự tàn bạo của cuộc đàn áp này đã được Ter-tu-li-a-nô viết trong các tác phẩm Ad Nationes (195) và Ad Scapulam (211). Cuộc bách hại này lắng xuống với sự lên ngôi của vị Hoàng đế mới, A-le-xan-đơ, một người hiền lành và đức độ, người đã đưa Chúa Giê-su vào điện thờ của mình cùng với các vị thần Rô-ma khác. Vụ ám sát A-le-xan-đơ và sự lên ngôi của Ma-xi-mi-nô vào năm 235 lại làm bùng lên ngọn lửa, nhưng khi Phi-líp người Ả Rập (244–49), một Hoàng đế thân thiện với Kitô giáo, lên nắm quyền, hòa bình lại được thiết lập.

Điều đó chỉ kéo dài vài năm, vì Đê-ci-ô (249–51) lên ngôi. Ông ta là một kẻ bách hại tàn bạo khác, coi giáo phái Kitô giáo là một chất độc khủng khiếp đối với đạo đức Rô-ma cổ thời và ra lệnh cho tất cả những người bị nghi ngờ phải thực hiện một hành động tôn kính công khai đối với các vị thần. Rất nhiều Kitô hữu đã bội giáo khi đối diện với tra tấn, nhưng nhiều nhà lãnh đạo Giáo hội quan trọng, bao gồm cả Giáo hoàng Fa-bi-a-nô, đã chịu đựng một cách anh dũng và chết dưới tay những kẻ tra tấn họ. Khi mọi việc lắng xuống, những người bội giáo đã cầu xin được tái gia nhập Giáo hội—tạo ra những vấn đề mục vụ nghiêm trọng cho các giám mục như Cy-pri-a-nô của Carthage.

Cuộc bách hại lại bùng lên và trong số các nạn nhân có Cy-pri-a-nô, Giáo hoàng Six-tô II và phó tế Lô-ren-xô của ngài. Nhưng lòng nhiệt thành của những kẻ bách hại đã giảm sút, và trong gần nửa thế kỷ, Giáo hội được yên ổn.

Cuộc bách hại Giáo hội cuối cùng bắt đầu bằng một cuộc tấn công trí thức tàn khốc của giới trí thức ngoại giáo do Porphyry (mất năm 303) lãnh đạo. Trong tác phẩm Chống lại Kitô hữu, Porphyry đã chế giễu Chúa Kitô như một kẻ yếu đuối đáng thương, tấn công Kinh Thánh là đầy những điều phi lý và mâu thuẫn rõ ràng, chế nhạo Bí tích Thánh Thể, và giễu cợt các việc làm bác ái của Kitô hữu. Đây là khúc dạo đầu cho cuộc tấn công do Diocletian phát động, một vị vua mạnh mẽ và cần cù, người đã thực hiện một cuộc cải tổ Đế quốc triệt để; ông chia nó thành 101 tỉnh và 12 khu vực, đặt hai đồng hoàng đế nắm quyền tối cao, với trụ sở hoàng đế đặt tại Milan ở phía Tây và Nicomedia ở phía Đông.

Hệ thống mới được thiết kế để đối phó với mối nguy hiểm cực độ mà Đế quốc đang phải đối diện từ các đạo quân man rợ đang tấn công vào cổng thành. Tình trạng bất an đã trở thành lẽ sống; việc giao thương giữa các thành phố không còn an toàn, thuế má tăng vọt, cần có những đội quân lớn hơn, những tiện nghi của cuộc sống biến mất, và người dân cố gắng hết sức để bảo vệ mạng sống của mình. Thật dễ dàng đổ lỗi cho người Kitô giáo về tất cả những rắc rối này, vì sự hiện hữu của họ có thể được coi là một sự xúc phạm đến các vị thần. Việc nhiều người trong số họ thậm chí còn nắm giữ các chức vụ cao trong chính phủ và quân đội càng làm trầm trọng thêm sự xúc phạm.

Rồi tại một buổi lễ tế lễ công khai, một thầy tế lễ ngoại giáo tuyên bố rằng sự hiện diện của người Kitô giáo tại buổi lễ đã làm vô hiệu hóa lễ tế và do đó gây nguy hiểm cho nhà nước. Đó là giọt nước tràn ly. Bằng một sắc lệnh vào tháng 2 năm 303, Diocletian ra lệnh phá hủy tất cả các nơi thờ cúng của người Kitô giáo và giao nộp các sách thánh của họ; người Kitô giáo bị cấm tụ tập và bị tước bỏ sự bảo vệ của pháp luật.

Nhà thờ đầu tiên bị phá hủy là một công trình kiến trúc đồ sộ nằm cạnh cung điện hoàng gia ở Nicomedia; Hoàng đế đã quan sát từ cửa sổ khi binh lính của ông phá cửa nhà thờ và cướp bóc nơi này, đốt cháy các đồ trang trí và Kinh thánh.

Với hành động này, cơn hấp hối cuối cùng của Giáo hội bắt đầu; nó kéo dài từ năm 303 đến năm 312. Một sắc lệnh thứ hai, nghiêm khắc hơn, nhắm vào các giám mục, linh mục và phó tế để trừng phạt đặc biệt, trong khi sau đó một số lượng lớn tín hữu Kitô giáo ở mọi cấp bậc bị bắt giữ. Họ bị móc mắt và lưỡi, bị cưa chân; họ bị thiêu sống hoặc bị treo trên ghế nung đỏ. Một số bị ném cho thú dữ để mua vui cho đám đông trong ngày lễ; những người khác bị bỏ đói đến chết hoặc bị ném vào ngục tối.

Cuộc đấu tranh giành linh hồn của Đế quốc diễn ra trên quy mô rộng lớn, bởi vì mặc dù chỉ là một số ít ở phương Tây, nhưng tín hữu Kitô giáo ở phương Đông chiếm khoảng 10% dân số, và ở một số thành phố thậm chí còn chiếm đa số. Và chủ yếu là ở phía Đông, nơi máu đã đổ – dưới thời Galerius (người kế vị Diocletian) và Maximinus Daia.

Tất cả đột ngột dừng lại khi Galerius, bằng sắc lệnh năm 311, cho phép các tín hữu Ki-tô giáo tiếp tục các buổi lễ tôn giáo của họ. Nhưng một sự đảo ngược tàn khốc đã xảy ra khi Galerius qua đời và Maximinus Daia một lần nữa kêu gọi đổ máu các tín hữu Ki-tô giáo. Nhưng rồi cũng đột ngột, ông ta lại ra lệnh chấm dứt toàn bộ việc này. Điều này gây khó hiểu cho đến khi các nhà quan sát biết được rằng áp lực buộc Maximinus phải ngừng đàn áp đến từ người chinh phục mới của Ý và châu Phi, Cons-tan-ti-nô, người lúc bấy giờ là chủ nhân duy nhất của thế giới phương Tây. Là con trai của đồng hoàng đế Constantius Chlorus, Cons-tan-ti-nô được quân đội tôn làm Hoàng đế sau khi cha ông qua đời năm 306, nhưng ngay lập tức phải đối diện với một đối thủ, Maximinus, người đã chiếm được Rô-ma làm thành trì của mình.

Khi Cons-tan-ti-nô cuối cùng giành chiến thắng vào năm 312, ông cho rằng chiến thắng của mình là nhờ sự giúp đỡ của Thiên Chúa Ki-tô giáo. Theo nhà văn Ki-tô giáo Lactantius (mất năm 320), vào đêm trước trận chiến định mệnh giữa Cons-tan-ti-nô và Maxentius, Cons-tan-ti-nô đã có một thị kiến về Chúa Kitô, người đã bảo ông trang trí khiên của binh lính bằng chữ viết tắt của Đấng Cứu Thế—các chữ cái Hy Lạp chi và rho. Cpns-tan-ti-nô đã vâng lời và trong trận chiến sau đó đã giành chiến thắng như đã hứa. Viết muộn hơn một chút, Eu-se-bi-ô, trong tác phẩm Cuộc đời của Cons-tan-ti-nô, đã đưa ra một lời kể ly kỳ hơn: Cpns-tan-ti-nô và toàn bộ quân đội của ông đã nhìn thấy một cây thánh giá rực rỡ xuất hiện trên bầu trời chiều với thông điệp “chiến thắng trong điều này”.

Có vẻ như Cons-tan-ti-nô đã được thúc đẩy bởi một trải nghiệm tôn giáo khác thường nào đó để hướng về Thiên Chúa của người Ki-tô giáo, một bước đi chắc chắn được tạo điều kiện thuận lợi bởi chủ nghĩa độc thần mơ hồ mà ông đã chấp nhận trong những năm đầu đời. Điều đó không có nghĩa là một việc hoàn toàn ngay lập tức trở lại Ki-tô giáo—Cons-tan-ti-nô thậm chí còn chưa được rửa tội cho đến khi ông lâm bệnh nặng. Nhưng trong thập niên tiếp theo, ông đã thể hiện những dấu hiệu ngày càng rõ rệt hơn về sự ưu ái dành cho người Ki-tô giáo. Ông đã gặp gỡ người cai trị nửa phía đông của Đế quốc tại Milan vào đầu năm 313, và vào tháng Hai, hai bên đã đạt được thỏa thuận về chính sách khoan dung tôn giáo hoàn toàn; thậm chí người Kitô giáo còn được nhận lại tài sản của mình.

Thoạt đầu, Cons-tan-ti-nô giữ thái độ đúng mực về hình thức đối với tín ngưỡng ngoại giáo. Ông vẫn là Người Bắc Cầu [pontiff] tối cao, tôn kính thần mặt trời trên tiền xu chính thức, và nói chung là cẩn thận không làm mất lòng quần chúng và giới quý tộc ngoại giáo ở Rô-ma. Nhưng dần dần ông bộc lộ cảm xúc thật của mình. Ông áp đặt các hạn chế đối với các hoạt động ngoại giáo và công khai trưng bày các biểu tượng Kitô giáo. Ông gắn cờ hiệu của quân đội vào một cây thánh giá có khắc chữ lồng của Chúa Kitô và phát hành tiền xu có hình ảnh chính mình đội mũ sắt có khắc cùng chữ lồng đó. Hơn nữa, ông ngày càng đồng nhất lợi ích của nhà nước với lợi ích của Kitô giáo. Lo lắng muốn đảm bảo sự thống nhất trong Giáo hội cũng như nhà nước, ông không ngần ngại can thiệp vào các vấn đề của Giáo hội và cố gắng sử dụng thẩm quyền nhà nước để chấm dứt sự ly giáo ảo nhân thuyết [Donatist] ở châu Phi.

Cons-tan-ti-nô và Helena. Từ một bức tranh khảm thế kỷ XIII. Nhà thờ Thánh Mark, Venice. © Giraudon/Art Resource, New York


Năm 324, khi lên nắm quyền cai trị toàn bộ Đế quốc, Cons-tan-ti-nô phải đối diện với một vấn đề nghiêm trọng hơn nữa về sự thống nhất của Giáo hội. Vấn đề liên quan đến rắc rối ở A-le-xan-dri-a, Ai Cập, nơi linh mục A-ri-ô thách thức giám mục A-le-xan-đơ về mối quan hệ giữa Chúa Con và Chúa Cha. Ban đầu, Hoàng đế cố gắng xoa dịu những người tranh luận bằng cách kêu gọi họ khoan dung với những khác biệt về những điểm nhỏ trong giáo lý, nhưng khi cuộc tranh cãi ngày càng gay gắt, cuối cùng ông đã triệu tập khoảng 220 giám mục lại với nhau trong công đồng chung đầu tiên, hay công đồng đại kết, tại Ni-xê-a, vào ngày 20 tháng 5 năm 325. Hoàng đế khuyên các giám mục duy trì hòa bình và thống nhất, và dường như thậm chí còn tham gia vào các cuộc tranh luận. Nhưng vấn đề không thể được giải quyết dễ dàng như vậy; thực tế, cuộc tranh cãi vẫn chưa được giải quyết vào thời điểm ông qua đời.

Hoàng đế đã chứng tỏ lòng hào phóng lớn lao đối với Giáo hội bằng cách ban tặng rất nhiều của cải và xây dựng nhiều vương cung thánh đường tráng lệ, bao gồm một nhà thờ tráng lệ trên khu vực được cho là mộ của Thánh Phê-rô ở Rô-ma và một nhà thờ khác trên mộ của Chúa Kitô ở Giê-ru-sa-lem. Ông đã nhường cung điện Lateran ở Rô-ma cho giám mục thành Rô-ma để làm nơi cư trú, và nó vẫn là nơi ở của Giáo hoàng cho đến năm 1308. Khi vào năm 324, ông dời kinh đô của Đế quốc đến Byzantium, nơi được đổi tên thành Constantinople theo tên ông, ông đã xây dựng nhiều nhà thờ ở đó, bao gồm hai nhà thờ lớn tôn vinh hòa bình và các thánh tông đồ.

Cons-tan-ti-nô đã ban những đặc quyền quan trọng cho giới giáo sĩ Kitô giáo: Họ được công nhận là một tầng lớp xã hội riêng biệt và được miễn nghĩa vụ quân sự và lao động cưỡng bức. Ông trao cho các quyết định tư pháp của giám mục thẩm quyền dân sự. Ông đã sửa đổi Luật Rô-ma theo hướng các giá trị Kitô giáo. Chúa nhật, ngày mà các Kitô hữu tụ họp, được coi là ngày nghỉ. Các tội phạm tình dục, như ngoại tình, chung sống không hôn thú và mại dâm, được xử lý nghiêm khắc hơn. Mặt khác, thái độ nhân đạo hơn được thể hiện đối với nô lệ (gia đình của họ không thể bị chia cắt), trẻ em, trẻ mồ côi và góa phụ. Dưới thời Cons-tan-ti-nô, Giáo hội đã vững bước trên con đường hợp nhất với nhà nước. Vì vậy, ông thực sự là kiến trúc sư của thời Trung cổ.

Liên minh với nhà nước đã ảnh hưởng sâu sắc đến mọi khía cạnh trong tư tưởng và đời sống của Giáo hội. Nó mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng kéo theo một số nhược điểm nghiêm trọng: sự xâm phạm tự do của Giáo hội khi chính quyền dân sự lợi dụng mối quan hệ này cho mục đích chính trị; việc trở lại đạo hàng loạt mà sự tuân thủ xã hội là động lực chính; sự gia tăng khoảng cách giữa giáo sĩ và giáo dân do địa vị chính thức được trao cho họ; sự đàn áp những người bất đồng chính kiến vì cho rằng đó là mối đe dọa đến sự thống nhất của nhà nước. Giáo hội sẽ không bao giờ còn như trước nữa—cả tốt lẫn xấu—và vì vậy, việc trở lại đạo của Cons-tan-ti-nô chắc chắn là một trong những bước ngoặt lớn nhất trong lịch sử Giáo hội và thế giới.