"Chúng ta là người Kitô hữu phải sẵn sàng giải thích Đức Tin của chúng ta"

VATICAN (Zenit.org).- Bài huấn dụ tự phát Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã nói với hàng giáo sĩ Roma trong ngày 13/5, tại Vương Cung Thánh Đường Gioan Lateranô, sau khi nghe những chứng từ và những câu hỏi của các Linh Mục.

* * *

Sau cùng, tôi có thể nói "cám ơn" vì tính phong phú và chiều kích thâm sâu của những đóng góp này, cho thấy rõ một Linh Mục đoàn đầy phấn khởi, đầy tình yêu Chúa Kitô và đoàn chiên được giao phó cho chúng ta và đầy tình yêu đối với người nghèo. Và không những của thành phố Roma, nhưng thật sự của Giáo Hội phổ quát, của tất cả anh chị em chúng ta. Cũng xin cám ơn vì tình yêu anh em đã bày tỏ cho tôi; tình yêu đó giúp tôi nhiều.

Hiện giờ, tôi không cảm thấy để đi vào những chi tiết liên quan đến những gì đã nói. Điều tốt là tiếp tục một cuộc tranh luận thật sự, và tôi hy vọng sẽ có thể có một sự tranh luận hỏi và thưa một cách cụ thể.

Bây giờ, tôi chỉ bày tỏ lòng biết ơn của tôi đối với mọi sự. Tôi thật sự nhận thức sự hiến mình mục vụ của anh em, tôi nhận thức ý muốn của anh em xây dựng Giáo Hội Chúa Kitô ở đây tại Roma, tôi nhân thức những suy nghĩ của anh em về cách làm tốt hơn, tôi nhận thức rằng tất cả đều phát xuất từ tình yêu lớn đối với Chúa và Giáo Hội.

Tôi chỉ muốn đề cập tới ba hay bốn điểm còn nằm trong trí tôi. Anh em đã nói về sự kết hợp chặt chẽ "có tính roma" và "phổ quát". Đối với tôi, điều này xem ra là một điểm rất quan trọng.

Một mặt đó là một Giáo Hội địa phương chân chính phải sống như thế. Có một số người chịu đau khổ, sống, muốn tin hay là không có khả năng tin. Chính ở đây, trong các giáo xứ, Giáo Hội Roma phải tăng trưởng với trách nhiệm lớn của mình đối với thế giới vì Giáo Hội Roma mang trong mình ủy nhiệm này, nói được, của "sự nêu gương"; bằng cách này, xuất hiện trong Giáo Hội Roma gương mặt của Giáo Hội phải như thế, và đó là một kiểu mẫu cho những Giáo Hội địa phương. Muốn thành một kiểu mẫu, chính chúng ta phải nên một Giáo Hội địa phương bận rộn hằng ngày trong công việc khiêm tốn, công việc mà sự "nên Giáo Hội" này đòi hỏi, trong một nơi quyết định và trong một thời gian quyết định.

Anh em đã nói về một giáo xứ như là một cấu trúc cơ bản, được các phong trào giúp đỡ và làm cho phong phú. Và tôi thấy rằng chính trong Triều giáo hoàng của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, đã có một sự pha lẫn hiệu nghiệm giữa những yếu tố trường kỳ của cấu trúc giáo xứ và, chúng ta hãy nói, yếu tố "đặc sủng", cung cấp những sáng kiến mới, những cảm hứng mới, sự sống mới. Dưới sự hướng dẫn khôn khéo của Đức Hồng Y Đại Diện và các Giám Mục Phụ tá, tất cả các Linh Mục quản xứ có thể cùng nhau chịu trách nhiệm thật sự đối với sự tăng trưởng của giáo xứ, hấp thụ tất cả các yếu tố có thể đến từ các phong trào và thực tại sống động của Giáo Hội trong những chiều kích khác nhau.

Nhưng tôi muốn nói thêm về sự ràng buộc giữa Roma và Phổ quát. Một trong các anh em chúng ta đã nói về trách nhiệm chúng ta đối với châu Phi. Chúng ta đã thấy rằng tại Roma, châu Phi hiện diện như thế nào, Ấn Độ hiện diện cách nào và vũ trụ hiện diện ra sao. Và sự hiện diện này của các anh chị em chúng ta, bắt buộc chúng ta phải suy nghĩ không những cho chúng ta, nhưng một cách chính xác phải cảm thấy trong hoàn cảnh lịch sử này, trong tất cả những hoàn cảnh này mà chúing ta quen thuộc, để (cảm thấy) sự hiện diện của những Lục địa khác.

Tôi thấy rằng trong lúc này chúng ta có một trách nhiệm đặc biệt đối với châu Phi, châu Mỹ Latin và châu Á, nơi Kitô giáo-- ngoại trừ Phi-luật-tân-- còn là một thiểu số rất lớn, mặc dầu tại Ấn Độ Kitô giáo đang tăng trưởng và chứng tỏ mình là một sức mạnh trong tương lai. Và như vậy, chúng ta cũng nghĩ tới trách nhiệm này.

Châu Phi là một lục địa có tiềm năng to lớn và lòng quãng đại to lớn nơi dân cư, với một đức tin cảm kích và sống động. Nhưng chúng ta cũng phải thú nhận rằng châu Âu xuất khẩu không những đức tin vào Chúa Kitô, nhưng cũng xuất khẩu tất cả những thói hư tật xấu của Cưu Lục Địa.

Châu Âu xuất khẩu cảm giác về sự tham nhũng, đưa vào sự bạo tàn hiện đang phá hủy châu Phi. Và chúng ta phải công nhận trách nhiệm của chúng ta làm sao cho sự xuất khẩu đức tin, một giải đáp cho niềm hy vọng nội tại của mọi người, phải mạnh hơn là sự xuất khẩu những tính hư tật xấu của châu Âu. Tôi cho đó là một trách nhiệm lớn.

Sự buôn bán vũ khí vẫn còn tồn tại, với sự lạm dụng những của cải địa cầu. Là những Kitô hữu, chúng ta phải hành động hơn nữa đối với các phương diện này, hầu đức tin được hiện diện, và với đức tin, có sức mạnh chống cự những nết xấu này và xây dựng một châu Phi Kitô giáo, phải là một châu Phi hạnh phúc, một Lục Địa lớn của thuyết nhân văn mới.

Một mặt khác phải nói một chút gì đến nhu cầu, để loan báo, để nói, nhưng mặt khác cũng phải biết lắng nghe. Đối với tôi điều này xem ra quan trọng về hai mặt.

Linh Mục, phó tế, giáo lý viên và Tu sĩ một mặt phải loan báo, nên chứng nhân. Nhưng dĩ nhiên, muốn được vậy họ phải biết lắng nghe, trong chiều hướng đôi: một bên, với tâm hồn mình mở ra cho Chúa Kitô, bên trong nghe Lời Người hầu Lời đó được hấp thụ và được biến đổi và tạo thành hữu thể của tôi; còn bên kia thì lắng nghe nhân loại ngày nay, lắng nghe những người láng giềng chúng ta, những người của giáo xứ chúng ta, những người mà chúng ta trao phó cho một trách nhiệm nào đó.

Dĩ nhiên, khi nghe thế giới ngày nay, thế giới cũng hiện hữu trong chúng ta, chúng ta nghe tất cả mọi vấn đề, tất cả mọi khó khăn đi ngược lại với đức tin. Và chúng ta phải có khả năng nghiêm chỉnh gánh vác những vấn đề này.

Trong Thư Thứ Nhất của Thánh Phêrô, Giám Mục tiên khởi thành Roma, nói rằng chúng ta là những kitô hữu phải sẵn sàng giải thích đức tin của chúng ta. Điều này giả định rằng chính chúng ta đã hiểu lý do của đức tin, chúng ta đã thực sự "tiêu hóa," cả trong lý trí, với con tim, với sự khôn ngoan con tim, lời này là lời có thể thật sự là một giải đáp cho những người khác.

Trong Thư thứ Nhất thánh Phêrô, trong bản Hy lạp, với một sự chơi chữ cách tốt đẹp về lý do đức tin chúng ta, có viết "apologia," sự trả lời cho "logos". Và như vậy, "logos," lý do của đức tin, lời của đức tin, phải trở nên sự trả lời của đức tin. Và chúng ta biết rõ rằng ngôn ngữ đức tin thường rất xa vời đối những con người nam và nữ ngày nay; ngôn ngữ đó có thể đem họ tới gần chỉ khi nào mà nó trở nên ngôn ngữ trong chúng ta, trong ngôn ngữ hiện đại của chúng ta. Chúng ta là những kẻ đương thời, chúng ta sống trong thế giới này, với những tư tưởng này, những cảm xúc này. Nếu ngôn ngữ đó được biến đổi trong chúng ta, người ta có thể gặp được câu trả lời.

Dĩ nhiên, tôi biết và tất cả chúng ta biết rằng nhiều người không có khả năng ngay tức khắc đồng hóa mình để hiểu biết, hấp thụ, tất cả những gì Giáo Hội dạy. Tôi cho điều quan trọng trước hết là việc đánh thức ý nguyện để tin với Giáo Hội, dầu xét theo cá nhân một số người chưa có thể hấp thụ nhiều điều riêng biệt. Cần phải có ý muốn này là tin với Giáo Hội, tin tưởng rằng Giáo Hội này--cộng đồng không những của 2000 năm hành hương của dân Chúa, nhưng còn là cộng đồng bao hàm trời và đất, cộng đồng mà tất cả những người công chính của mọi thời đại hiên diện ở đó--Giáo Hội này được Chúa Thánh Thần soi sáng thật sự mang trong "địa bàn" của Thần Khí và do đó là đối tượng thực sự của đức.tin.

Sau đó, cá nhân được tháp vào trong đối tượng này, gắn bó với nó, và như vậy, mặc dầu anh hay chị còn chưa hoàn toàn được thâm nhiễm bởi điều này, thế nhưng người đó tin cậy và tham gia trong đức tin của Giáo Hội, muốn tin với Giáo Hội. Đối với tôi, tôi coi đó là một cuộc hành hương suốt đời: đến sự hiệp thông đức tin với ý nghĩ của chúng ta, những tình cảmcủa chúng ta, với toàn diện sư sống của chúng ta. Chúng ta có thể cống hiến điều này cho mọi người, hầu lần hồi người ta có thể nhận diện và nhất là lập đi lập lại bước đi này để tin cậy vào đức tin của Giáo Hội, tháp tùng trong cuộc hành hương đức tin này, để nhận lãnh ánh sáng đức tin.

Để kết thúc, một lần nữa tôi muốn nói "cám ơn" vì sự đóng góp bày tỏ ở đây liên quan tới thuyết tập trung vào Chúa Kitô, yêu sách đối với đức tin chúng ta phải luôn luôn được nuôi dưỡng bởi sự gặp gỡ cá nhân với Chúa Kitô, một tình bạn cá nhân với Chúa Giêsu.

Romano Guardini cách đây 70 năm đã nói đúng, bản chất Kitô giáo không phải là một ý niệm nhưng là một Nhân Vị. Những nhà thần học lớn đã cố gắng diễn tả những ý niệm cơ bản làm nên Kitô giáo. Nhưng cuối cùng, Kitô giáo họ xây dựng không có tính xác tín, bởi vì Kitô giáo trước hết là một Biến Cố, một Nhân Vị. Và như vậy trong Nhân Vị chúng ta khám phá sự phong phú về điều được chứa đựng. Điều này thật quan trọng.

Và ở đây tôi thiết nghĩ chúng ta cũng gặp được một câu trả lời cho một khó khăn thường được nói lên liên quan đến bản tính truyền giáo của Giáo Hội ngày nay. Nhiều cám dỗ được đưa tới khi nghĩ đến sự liên quan đến những kẻ khác: "Tại sao không để họ ở yên? Họ có tính chân chính của họ, chân lý của họ? Chúng ta có những cái của chúng ta. Và như vậy, chúng ta hãy sống trong hoà hợp, để mọi người như cái họ là, hầu họ tìm kiếm tính chân chính của họ trong cách tốt nhất?

Nhưng trong thực tế tính chân chính cá nhân của người ta có thể được khám phá cách nào, nếu trong chiều sâu cõi lòng chúng ta có sự trông đợi Chúa Giêsu, và sự chân chính đích thực của mỗi người được gặp chính ngay trong sự hiệp thông với Chúa Kitô và không phải ngoài Chúa kitô? Nói một cách khác: nếu chúng ta đã gặp được Chúa và nếu Người là ánh sáng và niềm vui của đời sống chúng ta, chúng ta có chắc chắn rằng đối với một kẻ nào khác, họ sẽ không còn thiếu sự gì cần thiết nếu họ không gặp dược Chúa Kitô hay không, và chúng ta có chắc chắc rằng nhiệm vụ của chúng ta là cống hiến cho họ thực tại thiết yếu này hay không?

Sau đó chúng ta hãy để điều sẽ lộ ra cho sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần và quyền tự do của mỗi người. Nhưng nếu chúng ta đã xác tín và chúng ta đã cảm nghiệm sự kiện là không có Chúa Kitô thì sự sống sẽ bất toàn, là thiếu đi một thực tế, và trong thực trạng cơ bản chúng ta cũng phải xác tín rằng chúng ta sẽ không làm hại cho ai nếu chúng ta chỉ Chúa Kitô cho họ và chúng ta cống hiến cho họ, rồi cũng bằng cách này họ có khả năng khám phá tính chân chính thật của họ và tìm thấy được niềm vui khi khám phá ra được sự sống.

Để kết thúc, tôi muốn nói lời "cám ơn" tới tất cả những thành viên Hội đồng Linh Mục và Cộng đồng Giáo Hội Roma, cám ơn những Linh Mục giáo xứ và phó giáo xứ, cám ơn tất cả những ai hợp tác trong những chức vụ khác nhau, cám ơn các phó tế, các giáo lý viên và đặc biệt cám ơn những người nam và nữ tu sĩ, những người nói được là "con tim" của đời sống giáo hội của một Giáo Phận. Cám ơn các anh chị em tu sĩ vì chứng từ mà các anh chị em thực hiện.

Chúng ta hãy cùng nhau tiến bước, do tình yêu Chúa Kitô thúc đẩy. Và bẳng cách này, chúng ta sẽ thành công!