Marianists
Tu sĩ Hội Dòng Đức Maria. Là Hội Dòng Đức Maria, một hội Dòng nam được thành lập tại Bordeaux năm 1817 bởi thần học gia William Giuse Chaminade (1761-1850). Hội Dòng được Đức Giáo hoàng Piô IX công nhận 1856, và Đức Giáo hoàng Lêo XIII công nhận lại năm 1891; thành viên của Hội Dòng có linh mục và sư huynh. Dấn thân đặc biệt vào việc giáo dục học sinh ở cấp hai và ba, các tu sĩ có ba lời khấn thường lệ cộng thêm lời khấn thứ tư là ổn định trong việc sùng kính Đức Mẹ Maria. Tu hội Nữ tử Đức Maria (đôi khi gọi là Marianist) được thành lập năm 1816 và được chính thức công nhận năm 1888.
Mariavites
Giáo phái Maria. Là một giáo phái Ba Lan được thành lập bởi linh mục Kowalski, thuộc tổng giáo phận Warsaw, và chị Felicia Kozlowska, một chị Dòng Ba, năm 1906. Giáo phái bị loại trừ khỏi Giáo hội Công giáo Roma vì lý do tin lý, dựa vào một số mặc khải tư của chị Felicia Kozlowska. Tuyên xưng là sùng kính đặc biệt Đức Trinh Nữ, giáo phái đã một thời hợp nhất với nhóm Công giáo Cổ, và vị sáng lập được tấn phong Giám mục trong nhóm này. Họ sống tập trung chủ yếu ở miền đông nước Mỹ.
Mariazell (Shrine)
Đền thánh Mariazell. Là nơi hành hương Đức Mẹ nổi tiếng nhất ở miền Trung Âu, trên vùng núi Alps ở Áo. Nguồn gốc đền thánh này phát sinh từ năm 1154, khi Magnus, một đan sĩ Biển Đức rút lui khỏi đan viện ở Lambrecht để sống đời chiêm niệm kỹ hơn. Ngài mang theo một tượng Đức Mẹ và Chúa Hài nhi cao 0,55m. Ngài đi lạc đường trong rừng gần Graatz, và ban đêm ngài gặp một tảng đá thật cao, mà ngài không thể leo lên cũng không thể đi vòng quanh được. Ngài liền đặt tượng trên một khúc gỗ trong khi cầu nguyện xin Đức Mẹ chỉ đường. Tảng đá đen cao bỗng nhiên chẻ ra làm đôi, và ánh sáng từ nhiều góc cạnh phát ra sáng tỏ. Ngài nghĩ rằng Đức Mẹ dẫn ngài đến đây và muốn được tôn kính tại đó. Ngài làm một ẩn viện nhỏ và lấy một gốc cây làm đế để đặt tượng Đức Mẹ lên đó. Khoảng một thế kỷ sau, một hòang thân và vợ ông sống gần đó lâm trọng bệnh. Được bảo trong giấc mộng là hãy đến ẩn viện và cầu nguyện, họ đến và được chữa lành bệnh. Để tạ ơn, họ xây một nhà thờ tại địa điểm. Tượng Đức Mẹ Mariazell, mặc dầu đã hơn 800 tuổi, không hề có dấu hiệu bị mòn hoặc mục nát. Đức Mẹ ngồi, áo màu trắng, với áo khoác màu xanh. Chúa Hài nhi cầm một trái táo trong tay, còn Đức Maria cầm một quả lê. Nhà thờ đầu tiên thay thế nhà nguyện nhỏ được xây dựng năm 1200. Năm 1340 Vua nước Hungary xây một nhà thờ mới lớn hơn để đủ chỗ cho khách hành hương. Trong thế kỷ 17, tòa nhà kiến trúc Baroque được xây dựng và nay vẫn còn đó. Các nhà lãnh đạo Áo và Hungary xem đây là đền thánh quý trọng nhất. Việc sùng kính Đức Maria và Con Mẹ được tiếp tục dưới mọi thăng trầm, cho đến khi nguy hiểm chiến tranh buộc phải giấu bức tượng quý báu một thời gian. Đền thánh này vẫn giữ tính chất Áo, mặc dầu nó là nơi ần náu cho người dân của nhiều dân tộc. Năm 1975 Đức Hồng y Mindszenty được an táng tại Mariazell, nơi an nghỉ cuối cùng mà ngài đã đích thân chọn lựa.
Mariolatry
Tôn thờ Đức Maria. Là việc tôn thờ Đức Mẹ Maria đến mức thờ phượng (latria), vốn chỉ dành cho Chúa. Giáo hội Công giáo cấm tuyệt đối việc thờ phượng Đức Mẹ. (Từ nguyên Hi Lạp Mari_, Maria + -latrei_, tôn thờ.)
Mariology
Thánh Mẫu học. Là một khoa thần học, chuyên nghiên cứu cuộc đời và các đặc quyền của Đức Trinh Nữ, và vai trò của Ngài trong nhiệm cục cứu độ và thánh hóa. (Từ nguyên Hi Lạp Mari_, Maria + logia, khoa học, sự hiểu biết.)
Marists
Tu sĩ Hội Dòng Truyền Giáo Đức Maria. Là Hội Dòng Truyền Giáo Đức Maria, được thành lập tại Lyons (Pháp) năm 1824 bởi Chân phước Gioan Claude Maria Colin (1790-1875), và được Đức Giáo hòang Piô IX phê chuẩn ngày 8-3-1873. Hội Dòng có các linh mục và thầy trợ sĩ, với hiến chương dựa vào hiến chương của thánh Ignatius Loyola. Mục đích của Dòng là cổ vũ việc sùng kính Đức Mẹ Maria và dấn thân vào công tác giáo dục và truyền giáo. Hội Dòng Nữ Truyền Giáo Đức Maria cũng được chân phước Colin thành lập năm 1816 với mục đích giáo dục thanh thiếu nữ, và Dòng ba của Hội Dòng được thành lập năm 1850 cho những người sống tại thế.
Mark
Thánh sử Máccô. Là một người Do Thái ở Jerusalem, đôi khi được nhắc đến trong Tân Ước với tên gọi Gioan Marcô (Cv 12:12). Máccô cùng đi với thánh Phaolô và Barnabas (Ba-na-ba), người anh em họ, đến Antioch (An-ti-ô-khi-a) và cùng trẩy thuyền với họ trong chuyến truyền giáo đầu tiên (Cv 12:25). Tuy nhiên tại Perga (Péc-ghê), ngài từ giã họ và trở về nhà; không rõ lý do (Cv 13:13). Việc này gây ra sự chia rẽ giữa thánh Phaolô và Barnabas, khi Phaolô từ chối đưa Máccô theo trong chuyến truyền giáo thứ hai. Barnabas quá nóng giận, nên chia tay với thánh Phaolô và đi đến đảo Cyprus (Sýp) cùng với Máccô (Cv 15:36-39). Tuy nhiên, vài năm sau đó, thánh Phaolô và Máccô hội ngộ với nhau và tham gia chuyến truyền giáo khác. Máccô cũng là người hợp tác chặt chẽ với thánh Phêrô, có thể giúp việc cho Phêrô như một người thông ngôn. Phêrô đã nhắc đến Máccô một cách thân tình như là “con tôi” (I Pr 5:13), có lẽ xem ngài là một người được bảo trợ. Sự đóng góp lớn nhất của thánh Máccô là viết Tin mừng thứ hai. Các dự đóan là khác nhau, nhưng Tin mừng này có lẽ được viết trong thời kỳ từ năm 60 đến năm 70. Máccô viết bằng tiếng Hi Lạp, lẽ tất nhiên là cho Kitô hữu, bởi vì ngài dùng các từ ngữ vô nghĩa đối với người không tín ngưỡng. Tin mừng này là sự hòa trộn của lịch sử và thần học, được viết bằng ngôn ngữ đơn sơ và đầy sức thuyết phục.
Marks Of The Church
Các đặc điểm của Giáo hội. Là bốn tính chất chính yếu nói lên đặc tính của Giáo hội Chúa Kitô, được kể ra đầy đủ trong Kinh Tin Kính công đồng Nicene Constantinople: duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Kể từ cuộc ly khai Đông Tây và cuộc Cải cách Tin lành, bốn đặc điểm đã trở thành phương tiện xác định Giáo hội đích thực, giữa các phái cho mình là đích thực trong Kitô giáo. Một số tác giả đưa thêm vài đặc điểm khác ngòai bốn đặc điểm truyền thống trên, chẳng hạn thánh Robert Bellarmine với 15 đặc điểm, trong đó có đặc điểm bị bách hại.
Maronite Liturgy
Phụng vụ Giáo hội Maronite. Là hình thức Roma hóa của phụng vụ thánh Giacôbê, được Giáo hội Maronite sử dụng. Phụng vụ này có nhiều điểm giống với Nghi lễ Roma, chẳng hạn dùng bánh lễ không men hình tròn và lễ phục của linh mục khi dâng lễ. Ngôn ngữ phụng vụ Maronite là tiếng Syriac cho bài Thánh Thư, bài Tin Mừng, Kinh Tin Kính, và Kinh Lạy Cha, và tiếng Aramaic cho phần còn lại của Thánh lễ. Giáo hội Maronite thường sử dụng hương trầm trong phụng vụ, và có nhiều Lễ Quy khác nhau cho các lễ khác nhau. Lời Truyền phép luôn được xướng lớn tiếng.
Maronites
Giáo hội thánh Maron. Là dân tộc và giáo hội của đa số người Syria nói tiếng Ả rập sinh sống tại Li băng. Tên này cũng được dành cho một trong các Giáo hội hiệp thông với Roma, và các thành viên sống rải rác ở Syria, Palestine, Cyprus, Ai Cập và Mỹ. Tên này có lẽ phái sinh từ tên của thánh Maron (qua đời năm 443), một thầy ẩn tu người Syria sống trung thành với đức tin Công giáo trong thời lạc thuyết Nhất chí (Chúa Kitô chỉ có một ý chí độc nhất đó là ý chí Thiên Chúa.) Kể từ thời Công đồng chung Lateran V, sự hiệp thông của giáo hội Maronite với Roma đã không bị đứt đọan. Họ sử dụng Nghi lễ thánh Giacôbê bằng tiếng Aramaic cổ trong phụng vụ.
Marrano
Người Marrano, người Morơ theo đạo Công giáo. Là người Do Thái gốc Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha đã trở lại Công giáo vào cuối thời Trung cổ. Sự trở lại của họ đôi khi là do bị cưỡng ép, và người trở lại có thể giữ các niềm tin của Do Thái giáo và thực hành cách bí mật. (Từ nguyên Tây Ban Nha marrano, con heo; từ chữ Ả rập haruma, bị cấm. Con heo còn được gọi là “con vật bị cấm”, bởi vì thịt heo bị luật Do Thái giáo và Hồi giáo cấm sử dụng.)
Marriage Bond
Hôn hệ, dây hôn phối. Là sự kết hợp về luân lý giữa chồng và vợ sau khi họ đã trao đổi lời thề hôn phối. Nó là dây hôn phối tự nhiên, nếu một người hoặc cả hai người là chưa rửa tội; nó là dây hôn phối siêu nhiên khi cả hai người đều đã rửa tội.
Marriage By Proxy
Kết hôn bằng đại diện. Là một người đại diện cho một trong hai người vắng mặt trong lễ hôn phối. Việc kết hôn như thế là được phép, miễn là người đại diện có giấy ủy quyền viết tay do người vắng mặt ký tên, có sự hiện diện của cha xứ nơi phát sinh giấy ủy quyền, hoặc có hai người chứng đáng tin cậy.
Marriage Encounter
Nhóm Hội ngộ Phu thê. Là một chương trình gặp gỡ nhiều ngày giữa các đôi vợ chồng, để làm phong phú các mối quan hệ hôn nhân của họ. Nhóm Hội ngộ Phu thê phát sinh từ Tây Ban Nha nhờ nỗ lực của linh mục Gabriel Calvo, giữa các năm 1958 và 1962, với sự cộng tác của ông bà Diego và Fina Bartoneo và một số đôi vợ chồng khác. Từ Barcelona, vào năm 1962 phong trào này phát triển nhanh ở nhiều nơi trong thế giới Công giáo. Có nhiều cách giải thích nơi phong trào này, nhất là sự hiểu biết tín lý vế các vấn đề, chẳng hạn việc ngừa thai.
Mart., M., Mm.
Mart., M., Mm., Martyr, Martyres – Thánh Tử vì đạo, các thánh Tử vì đạo.
Martha
Martha, bà Mác-ta. Là chị của bà Maria và ông Lazarus (La-da-rô) ở Bethany (Bê-ta-ni-a). Chúa Giêsu và các môn đệ đến thăm nhà họ và được họ đón tiếp niềm nở. Tình bạn thân thiết được chứng minh rõ ràng trong dịp Chúa Giêsu cho Lazarus sống lại. Niềm tín thác hòan toàn của hai chị em vào Chúa Giêsu được tỏ lộ khi cả hai người nói: “Nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết." Cũng tương ứng như thế, Chúa Giêsu bộc lộ niềm đau buồn thật sự và Chúa đã khóc (Ga 11:1-44). Một dịp khác, khi Chúa Giêsu đến thăm họ, bà Martha đang chuẩn bị bữa ăn và than phiền với Chúa, vì cô Maria chăm chỉ lắng nghe Chúa nói mà không giúp đỡ bà làm bếp. Chúa Giêsu nhẹ nhàng khiển trách bà và khen Maria (Lc 10:38-42). Hai bà này có phải là hai chị em như nói ở trên hay không? Lời than phiền của bà Martha dường như không là tính cách của bà Martha trong trình thuật ông Lazarus, nhưng người ta không có bằng chứng rõ ràng để trả lời cho câu hỏi này. (Từ nguyên Aramaic marta', bà.)
Martyr
Người tử vì đạo. Là một người chọn chịu đau đớn, thậm chí là chết nữa, hơn là chối bỏ đức tin của mình vào các nguyên lý Kitô giáo. Noi gương Chúa Kitô, người này không kháng cự những kẻ hành hạ mình, khi họ sử dụng vũ lực do thù ghét hoặc có ác tâm chống lại Chúa Kitô, hoặc Giáo hội của Chúa, hoặc một chân lý mặc khải nào đó của đạo Công giáo. (Từ nguyên Hi Lạp martyros, người chứng, tử đạo.)
Martyrdom
Phúc tử đạo, phúc tuẫn giáo. Là sự việc rõ ràng rằng một người đã chết là vị tử vì đạo, và do đó có thể được Giáo hội mở cuộc điều tra để phong thánh cho người ấy.
Martyrologies
Sách tiểu sử các thánh tử vì đạo, sổ các thánh. Là danh sách các vị tử vì đạo của một số thành phố hay quốc gia; là danh bộ các thánh tử vì đạo được xếp theo ngày các vị chịu tử vì đạo trong niên lịch phụng vụ. Sách tiểu sử này phát sinh từ đầu thời Trung Cổ, là quan trọng vì là nguồn của lịch sử Giáo hội. Trong một số cộng đoàn Dòng tu, Sách tiểu sử các thánh tử vì đạo được đọc mỗi ngày trong phòng ăn chung. Sổ các thánh Roma, một danh sách các thánh được Giáo hội tôn phong, được viết vào khoảng giữa thế kỷ 16, đã thường được duyệt lại và biên tập lại. Danh sách toàn bộ ghi lại tiểu sử vắn tắt của khoảng 6.000 vị thánh và á thánh được Giáo hội Công giáo tôn phong.
Martyrology, Roman
Sổ các thánh Roma. Là Sách tiểu sử chính thức các thánh nhân của Giáo hội Công giáo Roma. Sách được một số học giả tập hợp, và được Đức Giáo hòang Gregory XIII công bố năm 1584, để thay thế tất cả các sổ các thánh đang có thời ấy. Sau đó các Đức Giáo hoàng đã duyệt lại nội dung, dựa trên nghiên cứu lịch sử và các lần phong thánh kế tiếp. Một trong những lần duyệt lại kỹ lưỡng nhất đã được thực hiện dưới triều Đức Giáo hòang Biển Đức XIV năm 1748.
Martyrs, Acts Of The
Hạnh các thánh tử vì đạo. Là phúc trình tường thuật các vụ xử án và cái chết của các vị tử vì đạo. Phúc trình gồm có: 1. phúc trình chính thức các cuộc thẩm vấn; 2. báo cáo không chính thức của các người chứng hoặc tường thuật của người đương thời; 3. các tài liệu khác dựa vào 1 và 2; 4. các tài liệu khác mà sự thật thường bị nghi ngờ hoặc thậm chí là hồ sơ giả nữa. Việc nghiên cứu các tài liệu này đã góp phần đáng kể, không những cho khoa tầm tích hiển thánh, mà còn cho sự hiểu biết tốt hơn về lịch sử thế giới, kể cả thời đại hiện nay, chẳng hạn chủ nghĩa Cộng sản.
Martyrs' Shrine
Đền thánh các thánh tử vì đạo. Là một đền thánh ở Canada kính nhớ các thánh tử vì đạo thuộc Dòng Tên ở Bắc Mỹ, khi các vị bị giết chết tàn bạo cho đức tin từ năm 1642 đến năm 1649 ở Ontario và vùng miền bắc New York. Đặc biệt đền thánh kính nhớ các thánh Gioan thành Brebeuf, Gabriel Lallemant, Charles Garnier, Noel Chabanel, và Antôn Daniel, những người chịu tử vì đạo bởi tay người Da đỏ Canada. Đền thánh tọa lạc tại Midland, Ontario, trên địa điểm cũ của Đồn Sainte Marie. Một đền thánh song song khác của các Thánh tử vì đạo Bắc Mỹ tọa lạc ở thành phố Auriesville, New York (Mỹ).
Mary, Name Of
Thánh danh Mẹ Maria. Maria có nghĩa là “bà”, “xinh đẹp”, “đáng yêu.” Là tên người ta thích đặt cho phụ nữ Do Thái vào thời Chúa Kitô. Đây là tên của em gái ông Moses (Mô-sê). Hiện nay là tên đáng kính đối với người Công giáo, và là một trong các tên nổi tiếng nhất. Là tên thánh rửa tội của nhiều người nữ, với nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn Maria, Marie, Miriam, và còn liên kết với từ ngữ khác, chẳng hạn Marianne, RoseMaria. Từ ngữ Ireland Muire (Maria) chỉ dùng cho Đức Maria Mẹ Thiên Chúa; còn các tên Maria khác được gọi Moira. Một lễ đặc biệt kính Thánh Danh Đức Mẹ trong Giáo hội Tây phương được mừng hàng năm vào ngày 12-9, kể từ năm 1684, để tạ ơn Đức Mẹ về chiến thắng của Kitô hữu trước người Thổ Nhĩ Kỳ ở Vienna (Áo) năm 1683. Tuy nhiên lễ này đã bị xóa bỏ kể từ Công đồng chung Vatican II. (Từ nguyên Hi Lạp maria hay marian; từ tiếng Do Thái cổ miryam, người được tán dương.)
Mary's Death
Cái chết của Đức Mẹ Maria. Là việc rời cõi đời này để đi vào nơi bất diệt của Đức Trinh Nữ Maria. Mặc dầu thiếu tài liệu đáng tin về thời gian, nơi chốn và hòan cảnh của cái chết Đức Mẹ, sự việc được Giáo hội thời sơ khai chấp nhận. Các thánh Ephrem, Jerome (Giê-rô-ni-mô), và thánh Âu Tinh cho rằng cái chết của Đức Mẹ là điều dĩ nhiên. Nhưng Epiphanius (315-403), người đã cẩn thận nghiên cứu các tài liệu, đã kết luận: “Không ai biết được Đức Mẹ rời bỏ thế giới này cách nào.” Trong sự thiếu vắng lời tuyên bố tín lý, các thần học gia thời hiện đại tin rằng Đức Mẹ đã từ trần. Các vị nhìn nhận rằng Đức Mẹ không bị ràng buộc bởi luật sự chết, do Ngài được miễn khỏi tội, nhưng thật là phù hợp khi thân xác Đức Mẹ, qua cái chết tự nhiên, sẽ trở nên giống thân xác của Con Mẹ, Đấng đã chịu chết để cứu độ nhân lọai.
Mary's Lent
Kỳ chay kính Đức Mẹ Maria. Là một thời kỳ ăn chay, từ ngày 1 đến ngày 14-8, của người Hi Lạp, người Copt, và người Nga. Tùy theo tập tục và địa phương, họ kiêng ăn thịt và trứng, đôi khi kiêng cả sữa và cá trong hai tuần lễ trước lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời.
Mary, The Blessed Virgin (In The Bible)
Đức Trinh nữ Maria (trong Kinh Thánh). Là thân mẫu Chúa Giêsu, hiền thê của thánh Giuse, và là vị thánh cao trọng nhất. Thiên thần Gabriel (Gáp-ri-en) hiện ra với Ngài ở Nazareth (Na-da-rét), nơi Ngài sinh sống với thánh Giuse, và loan báo rằng Ngài sẽ là mẹ của Đấng Messiah (Thiên Sai). Đức Mẹ nói: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!” Khi thiên thần Gabriel trấn an Ngài rằng quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên Ngài, Ngài mới khiêm nhượng đồng ý (Lc 1:34). Mẹ đi thăm người họ hàng của mình là bà Elizabeth (Ê-li-sa-bét), người cũng mới được một thiên thần bảo rằng, dù tuổi đã cao, sẽ sinh con và đặt tên con là Gioan (Lc 1:39-40) (chính trong dịp này Đức Maria hát bài ca “Ngợi khen” (Magnificat) (Lc 1:46-55). Giuse bị sốc khi nghe tin Đức Mẹ mang thai. Ông không muốn tố giác Ngài, nên mới định tâm bỏ Ngài cách kín đáo, nhưng một thiên thần an ủi Giuse bằng cách giải thích kế họach của Chúa đối với Đức Mẹ. Vào thời điểm khó khăn này, Giuse đưa Maria trở về làng Bethlehem (Bê-lem) tuân theo chiếu chỉ kiểm tra dân số của hoàng đế Roma. Chúa Giêsu được sinh ra trong dịp này, và mọi biến cố quen thuộc đối với chúng ta liên quan việc Chúa ra đời – nhà trọ, máng cỏ, ngôi sao, người công chính, người chăn chiên – đã được trình bày một cách kính cẩn (Mt 1:18-25). Sau tám ngày, Con Trẻ được cắt bì và đặt tên là Giêsu đúng theo chỉ dẫn của thiên thần Gabriel (Lc 2). Và 40 ngày sau, Đức Maria and Giuse xuất hiện ở Đền Thờ để dự lễ thánh tẩy của các ngài (Lc 2:21). Khi thiên thần báo mộng với Giuse rằng vua Herod (Hê-rô-đê) muốn giết chết Hài Nhi Giêsu, Giuse liền trẩy đi Ai Cập cùng với Maria và Hài Nhi Giêsu, và các Ngài ở lại đó cho đến khi biết tin là vua Herod đã băng hà. Sau đó, các Ngài trở về lại Nazareth (Lc 2:22-28). Chỉ có một lần trong 30 năm kế tiếp chúng ta biết chuyện về Thánh Gia Thất. Khi Chúa Giêsu lên 12 tuổi và cha mẹ Ngài cùng đi với Ngài lên Jerusalem dự lễ Vượt qua, Chúa Giêsu thất lạc trong ba ngày. Cha mẹ Ngài tìm thấy Ngài trong Đền thờ ngồi giữa các thầy tư tế. Lời Chúa được ghi lại lần đầu tiên là câu trả lời cho sự tìm kiếm lo lắng của mẹ: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?" (Lc 2:41-50). Cuộc đời công khai của Chúa Giêsu bắt đầu lúc Ngài lên 30 tuổi. Trong tiệc cưới ở Cana, Chúa làm phép lạ đầu tiên, biến nước trở thành rượu theo yêu cầu của Đức Mẹ để giúp đỡ tiệc cưới (Ga 2:1-11). Nhiều lần Đức Mẹ xuất hiện với Chúa trong sứ vụ của Ngài, nhưng luôn đứng ở vị trí kín đáo. Đức Mẹ có mặt lúc Chúa chịu đóng đinh và nghe Con Mẹ bảo thánh Gioan chăm lo cho mình (Ga 19:25-27). Mẹ chờ đợi cùng với các Tông đồ việc Chúa Thánh Thần sẽ đến vào lễ Ngũ Tuần. Kinh thánh không nói thông tin gì thêm về cuộc đời Đức Mẹ Maria. Dường như Ngài sống một thời gian ở Jerusalem, mặc dầu thuyền thống cho rằng Ngài qua đời ở Ephesus (Ê-phê-xô) vài năm sau khi Chúa Giêsu lên Trời. Hai niềm tin cơ bản về Đức Mẹ, là làm Mẹ Chúa và thụ thai Chúa Giêsu mà vẫn còn đồng trinh, đã được nói chắc chắn trong các Tin Mừng. Nhưng các khía cạnh khác của Thánh Mẫu học cũng là quan trọng. Các khía cạnh này có cơ sở Kinh thánh, nhưng không được nêu rõ cách đặc biệt trong các Tin Mừng.
Masochism
Khổ dâm, thống dâm, chứng khóai tự hành hạ mình. Là sự rối loạn nhân cách, có thể là kết quả của đam mê tính dục, trong đó một người tìm thấy lạc thú nhục dục từ sự tự hành hạ mình, hoặc tự làm cho mình đau đớn mới cảm nhận được lạc thú.
Mass, Conclusion Of
Kết thúc Thánh lễ. Là các nghi thức kết thúc phụng vụ Thánh Thể. Linh mục chào các tín hữu và ban phép lành cho họ. Trong các dịp đặc biệt, ngài có thể ban phép lành theo nghi thức trọng thể. Hành động cuối của ngài là sự giải tán các tín hữu, từ giã họ trở về với cuộc sống thường ngày với việc lành, ca khen và tạ ơn Chúa.
Mass, Introductory Rite
Nghi thức đầu lễ. Là các nghi thức đi trước phần Phụng vụ Lời Chúa trong Thánh Lễ. Nghi thức gồm có bài ca nhập lễ, Hành vi Sám hối, Kinh Kyrie (Thương xót), Kinh Gloria (Vinh Danh), lời nguyện nhập lễ, tất cả được xem như là phần chuẩn bị mở đầu. Mục đích là tạo cho tín hữu có cảm thức cộng đồng, và giúp họ chuẩn bị sẵn sàng cho việc tham dự hữu hiệu vào Hy tế Tạ ơn.
Massa Candida
Massa Candida, “Đòan Tử đạo trắng”. Là một nhóm khỏang 300 Kitô hữu ở Carthage, đã thà lao vào lò vôi đang sôi hơn là dâng lễ vật cho thần Jupiter (khỏang năm 253). Thánh Âu Tinh đã viết và nói về họ, và Prudentius diễn tả lòng can trường của họ bằng thi ca.
Mass For The People
Lễ cầu cho đòan dân. Đây là lễ mà các vị mục tử và người khác phải cử hành, với ý cầu nguyện cho những người được giao phó cho các vị coi sóc. Lễ này được dâng vào mọi ngày chủ nhật và các ngày lễ buộc cho mỗi quốc gia. Các đấng bị ràng buộc bởi lễ này là các Giám mục địa phương, viện phụ, và giám quản giáo phận hoặc cha xứ khi trống tòa giáo phận.
Mass Obligation
Bổn phận dự lễ Chủ nhật. Là sự buộc nặng cho người công giáo phải dự thánh lễ mọi chủ nhật và ngày lễ buộc. Như được Công đồng chung Vatican II nói rõ khi nhắc đến Thánh lễ ngày chủ nhật: “Thực vậy, trong ngày đó các Kitô hữu phải họp nhau lại để nghe Lời Chúa và tham dự Lễ Tạ Ơn, để kính nhớ cuộc Thương Khó, sự Sống Lại và vinh quang của Chúa Giêsu Kitô” (Hiến chế về Phụng vụ, V, 106). Mệnh lệnh cách “các Kitô hữu phải họp nhau lại" nói lên sự nghiêm trọng của điều buộc, mà theo truyền thống của Giáo hội, buộc các người đã rửa tội và đến tuổi khôn. Họ buộc với hình phạt tội trọng là phải dự thánh lễ ngày chủ nhật và các ngày lễ buộc, điều này có nghĩa rằng bổn phận này nghiêm trọng cách khách quan. Xét về chủ quan, sự nghiêm trọng của tội sẽ tùy vào các hoàn cảnh miễn chước, nhất là ý thức của một người về sự quý giá và cần thiết của Thánh Lễ.
Mass Of The Presanctified
Lễ với Mình Thánh Chúa đã truyền phép sẵn. Là nghi thức kết thúc của ngày Thứ Sáu Tuần thánh. Linh mục chuyển Mình thánh Chúa đã truyền phép ngày thứ Năm Tuần thánh từ bàn thờ tạm tới bàn thờ chính. Sau khi đọc nhiều kinh nguyện, kể cả Kinh Lạy Cha, linh mục rước lễ. Sau đó ngài cho cộng đòan rước lễ. Tất cả bánh thánh đã được truyền phép ngày trước đó, vì không có Thánh lễ thật sự trong ngày Thứ Sáu Tuần thánh. Phụng vụ thứ Sáu kết thúc ngay sau phần Rước lễ.
Mass Penny
Tiền oi thánh lễ. Là tiền dâng lễ gồm nhiều lượng tiền khác nhau do tín hữu bỏ oi trong Thánh lễ. Tiền oi thường được để ở hàng tay vịn trước bàn thờ, như là phần dâng lễ vật để mua đèn, nến, rượu, bánh, dùng trong nghi thức Thánh lễ. Từ ngữ này có nguồn gốc Anglo-Saxon và được sử dụng hơn 300 năm cho đến thế kỷ 15.
Mass Stipend
Bổng lễ. Là tiền dâng cho linh mục để ngài sinh sống, và đổi lại ngài hứa dâng Thánh lễ theo ý người xin. Bổng lễ không được biếu như là giá tiền của Hy tế Tạ ơn. Nó là một quà tặng tự nguyện, có nguồn gốc từ thời Giáo hội sơ khai, khi bổng lễ được trao trong Thánh lễ, và sau đó mới thực hiện ngoài Thánh lễ. Bất cứ linh mục nào cử hành và dâng lễ cho một ý đặc biệt có thể nhận số bổng lễ ấy. Khi một linh mục nhận bổng lễ, ngài buộc phải dâng lễ cách công bằng theo hợp đồng không mất tiền, và ngài buộc phải dâng lễ ấy theo các điều kiện đã đưa ra hoặc được chấp nhận rồi. Giá trị của bổng lễ được xác định bởi tiêu chuẩn của giáo phận, mà mọi linh mục phải tuân theo, dù là linh mục triều hay Dòng. Tuy nhiên linh mục được phép yêu cầu số tiền lớn hơn, nếu có các nghĩa vụ đặc biệt đi kèm, chẳng hạn vào giờ trễ hơn hay một địa điểm người xin lễ mong muốn.
Master Of Ceremonies
Trưởng ban nghi lễ, trưởng nghi. Là một giáo sĩ theo dõi và hướng dẫn tiến trình cần phải thực hiện của một nghi thức tôn giáo. Trưởng nghi có tòan quyền trong giới hạn chức vụ của mình, nhất là hướng dẫn các cử chỉ của chủ tế và các vị phụ tá theo đúng chữ đỏ của Phụng Vụ Thánh. Nói chung đây là người hướng dẫn tiến trình thực hiện lễ nghi, khi có thủ tục đặc biệt đòi hỏi.
Master Of The Sacred Palace
Thần học gia Phủ Giáo hòang. Là nhà thần học và nhà giáo luật của Đức Giáo hòang, và vị này luôn là một tu sĩ Dòng Đa Minh. Thánh Đa Minh (1170-1221) là người đầu tiên giữ chức vụ này, với chức năng là phát triển Trường học Dinh Giáo hòang, sau trở thành trường Roman College. Một trong các bổn phận của chức này là cho phép hoặc cấm đóan việc xuất bản sách tôn giáo. Chức vụ này hiện nay là chủ yếu một chức danh dự. Ngài sống và làm việc tại Vatican.
Masturbation
Thủ dâm. Là sự kích thích trực tiếp bộ phận sinh dục ngòai sự giao hợp thật sự. Sự tự kích thích này có thể là thể lý, bằng một vật bên ngòai, hoặc là tinh thần, bằng suy tưởng và trí tưởng tượng. Đây là sự lạm dụng nghiêm trọng khả năng truyền sinh, và khi thực hiện với sự đồng ý hòan tòan và sự tự do, đó là một tội trọng. Sự tội là ở chỗ cho họat động bộ phận truyền sinh, trong khi ngăn cản chúng hòan tất mục tiêu tự nhiên và theo ý Chúa muốn cho chúng. (Từ nguyên Latinh manu, dùng tay + stuprare, tự làm ô uế.)
Mat
Mat, Matutinum—Kinh Sáng.
Mater Dolorosa
Mater Dolorosa, Đức Mẹ Sầu Bi. Tước hiệu của Đức Trinh Nữ, đặc biệt nhắc đến việc Đức Mẹ khóc than cái chết của Chúa Kitô khi Mẹ đứng bên Thánh giá.
Material Cause
Nguyên nhân chất thể. Là nguyên nhân mà một vật được sản xuất hoặc được làm. Là yếu tố thụ động trong bất cứ sự đổi thay nào, và yếu tố này hợp nhất với yếu tố chủ động để tạo ra một hữu thể vật lý. Đó cũng là cơ sở cho mọi thay đổi, mà tự thân cơ sở này là không thay đổi.
Materialism
Chủ nghĩa duy vật. Là thuyết cho rằng mọi thực tại chỉ là vật chất, hoặc là một chức năng của vật chất, hoặc là phái sinh từ vật chất. Không có sự phân biệt rõ ràng giữa vật chất và tinh thần; ngay cả linh hồn cũng chủ yếu là vật chất và không được Chúa tạo dựng. Trong triết lý đạo đức, chủ nghĩa duy vật chủ trương rằng mọi của cải và quyền lợi vật chất, lạc thú thân xác và kinh nghiệm tình cảm, là lý do duy nhất hoặc ít là duy nhất cho sự hiện hữu của con người. Trong triết lý xã hội, chủ nghĩa này quan niệm rằng kinh tế và quyền lợi ở trần thế này là chức năng chính của xã hội.
Materially Evil
Xấu tự chất thể, có tội tự chất thể. Là sự gì xấu về luân lý một cách khách quan, và do đó là có tội, nhưng một người hoặc là không biết điều đó là sai, hoặc bị cưỡng ép và không bằng lòng nội tâm với cái xấu ấy.
Matins
Giờ Kinh Sáng. Là giờ kinh đầu tiên của các giờ kinh Phụng vụ. Kể từ Công đồng chung Vatican II, nó được thay thế bằng Giờ Kinh Sách, sau đó là Kinh Sáng. Trước kia giờ kinh này được đan sĩ nam hay nữ đọc vào các giờ đầu ngày sau nửa đêm, sau đó đọc Kinh Sáng như hiện nay. (Từ nguyên French matin, buổi sáng.)
Matrimonial Contract
Hôn ước. Là sự thỏa thuận tự nguyện của một người nam và một người nữ đi vào kết hôn với nhau, và hôn ước được Giáo hội hoặc Nhà nước công nhận. Hôn ước có hiệu lực giữa hai người đã rửa tội cũng là một bí tích.
Matrimonial Court
Tòa án hôn phối. Là một nhóm giáo sĩ ở giáo phủ giáo phận có nhiệm vụ xem xét và thông qua phán quyết về các nố hôn nhân, đã được đệ trình để nghiên cứu và có thể được Giám mục quyết định. Bên cạnh nhiều người khác, hoặc hai bộ phận làm việc giống nhau, tòa án hôn phối gồm có một thẩm phán hay nhiều thẩm phán, luật sư, thư ký, lục sự, và một người bảo hệ. Tòa án họp để cứu xét các vụ tranh cãi về hôn phối, trong đó một hay hai người là Công giáo, hoặc hôn nhân ấy cần được quyết định để cho người không Công giáo có thể kết hôn với người Công giáo. Các nố của “sắc lệnh vô hiệu hóa” là thường được đề nghị giải quyết nhiều nhất. Muốn có hiệu lực, mọi quyết định phải có sự chấp thuận của Giám mục. Việc kháng án về phán quyết của tòa án hôn phối luôn phải gửi về Roma, hoặc phán quyết này có thể đạt được mà không cần thượng tố đến tòa án giáo phận. Đấng bản quyền của giáo phận có quyền tài phán về một đặc ân thánh Phaolô. Thông qua luật sư, người Công giáo có quyền đưa bất cứ vụ nào đến bất cứ Thánh bộ Roma nào để được chấp thuận hoặc quyết định.
Matrimonial Jurisdiction
Quyền tài phán hôn phối. Là quyền của Giáo hội được Chúa cho phép để xác định các điều kiện mà người đã rửa tội có thể nhận lãnh một cách hữu hiệu và đúng luật bí tích hôn phối. Một phần của quyền tài phán này là quyền xác định ai có thể làm chứng hôn phối, và nếu cần, sự miễn chuẩn nào có thể được ban cho.
Matrimonia Mixta
Tông thư Matrimonia Mixta (Hôn nhân hỗn hợp). Là tông thư của Đức Giáo hòang Phaolô VI, đặt ra các chuẩn mực rõ ràng cho hôn nhân hỗn hợp. Trong khi cho phép người Công giáo lấy người không Công giáo, với phép chuẩn, trước mặt một giáo sĩ không Công giáo, tông thư đòi buộc rằng mọi con cái của hai người phải sống trong đức tin Công giáo (Ngày 31-3-1970).
Matrimonii Sacramentum
Huấn thị Matrimonii Sacramentum. Huấn thị của Thánh bộ Giáo lý Đức tin về hôn nhân hỗn hợp. Đây là văn kiện đầu tiên trong hai văn kiện lịch sử, làm thay đổi nhiều khía cạnh trong thái độ của Giáo hội đối với các hôn phối, trong đó một người Công giáo cưới một người không Công giáo. Trong số các điều khỏan chuẩn mực, việc kết hôn trước mặt một mục sư Tin lành không còn bị vạ tuyệt thông nữa (Ngày 18-3-1966).
Matrimonium Non Consummatum
Matrimonium Non Consummatum, hôn nhân không hòan hợp. Là một hôn nhân làm phép có hiệu lực, nhưng không hoàn hợp do hai người chưa giao hợp tự nhiên. Hôn nhân này có thể được Đức Giáo hoàng giải bỏ với lý do chính đáng theo yêu cầu của hai người, hoặc được tháo gỡ ipso jure (tức khắc theo luật) do lời khấn trọng trong Dòng tu.