Huấn từ cho Đại Hội Giáo Phận Roma.
ROME (Zenit. org).- Bài huấn từ Đức Biển Đức XVI phát biểu hôm Thứ Hai 6/6 trong vương cung Thánh Gioan Lateran, lúc khai mạc Đại Hội Giáo Hội của Giáo Phận Rome. Chủ đề đại hội là "Gia đình và Cộng Đồng Kitô hữu: Sự Đào Tạo Con Người và sự Truyền Thông Đức Tin".
Anh chị em thân mến,
Tôi rất vui mừng nhận lời mời khai mạc đại hội giáo phận này với một suy tư, trên hết tất cả bởi vì nó cho tôi khả năng gặp anh chị em, tiếp xúc trực tiếp, và cũng vì nó cho tôi khả năng giúp anh chị em suy nghĩ hơn nữa về ý nghĩa và chủ đích của chương trình mục vụ theo Giáo Hội Roma.
Tôi âu yếm chào đến mỗi người trong các anh em, giám mục, linh mục, nam và nữ tu sĩ, và cách riêng, hàng giáo dân và các gia đình, những người chấp nhận cách ý thức đến những nhiệm vụ dấn thân và minh chứng Kitô hữu bắt nguồn từ bí tích rửa tôi và, đối với những người đã kết hôn, trong bí tích hôn nhân. Tôi chân tình cám ơn hồng y đại diện và căp vợ chồng Luca và Adriana Pasquale, vì những lời nhân danh anh chị em để nói với tôi.
Đại hội này, và năm mục vụ mà đại hội sẽ cống hiến cho những chỉ dẫn, làm thành một giai đoạn mới trong nỗ lực mà Giáo Hội đã bắt đầu, dựa trên thượng hội đồng giáo phận với sứ vụ công dân mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II yêu quí chúng ta rất ưa thích, trong việc chuẩn bị năm Đại Xá Năm 2000.
Trong sứ vụ này tất cả những thực tại của các giáo phận chúng ta--các giáo xứ, các cộng đồng tu sĩ, các hiệp hội và các phong trào--được huy động không những là một sứ vụ dành cho người Roma, mà còn để cho người Roma nên "dân Thiên Chúa trong sứ vụ," thực hiện câu phát biểu khôn ngoan của Đức Gioan Phaolo II: "Hỡi giáo xứ, hãy nhìn xem ngươi và gặp ngươi bên ngoài ngươi", nghĩa là, trong những nơi người ta đang sống.
Bằng cách này, trong sứ vụ của người công dân, nhiều ngàn người kitô hữu tại Roma, phần đông là giáo dân, đã trở nên những thừa sai và mang lời đức tin đầu tiên tới các gia đình trong những vùng lân cận khác biệt của thành phố và sau đó tới các nơi làm việc khác nhau, tới các bịnh viện, trường học và đại học, và tới những lãnh vực văn hoá và trong thời gian rãnh rỗi.
Sau Năm Thánh, đấng tiền nhiệm yêu quí của tôi đã yêu cầu anh chị em đừng có chấm dứt cố gắng này, và anh chị em đừng có phân tán những nghị lực tông đồ đã được đánh thức và những hoa quả ân sủng đã được thu góp, Vì vậy, từ năm 2001, chiều hướng mục vụ cơ bản của giáo phận là phải thiết lập sự tuyền giáo trường ký, đánh dấu, một cách truyền giáo quyết định hơn, sự sống và những sinh hoạt của các giáo xứ và của mỗi một thực tại khác trong giáo hội.
Trước hết tôi muốn nói với anh chị em rằng tôi muốn củng cố sự lựa chọn này cách đầy đủ. Điều đó còn cần thiết hơn và không còn cách nào khác, trong một bối cảnh xã hội và văn hóa trong đó nhiều tác động với xu hướng đẩy chúng ta xa rời đức tin và đời sống Kitô hữu.
Đã hai năm nay, sự dấn thân truyền giáo của Giáo Hội Roma đã tập trung hơn hết trên gia đình, không những vì thực tại nhân vị cơ bản này mà ngày nay đang gặp phải nhiều khó khăn và đe dọa, và do đó cần nhất là được phúc âm hóa và nâng đỡ cách cụ thể, nhưng cũng vì các gia đình Kitô hữu tạo thành một nguồn mạch quyết định cho sự giáo dục trong đức tin, cho sự xây dựng Giáo Hội trong hiệp thông và có khả năng hiện diện truyền giáo trong những hoàn cảnh rất khác biệt trong cuộc sống, cũng như để dậy men theo nghĩa Kitô hữu trong văn hóa và trong những cơ cấu xã hội.
Chúng ta cũng sẽ tiếp tục trước mắt với những chỉ dẫn này trong năm mục vụ và vì lẽ này chủ đề của đại hội chúng ta là "Gia đình và Cộng Đồng Kitô hữu: Việc Đào Tạo Con Người và viêc Truyền Thông Đức Tin." Sự gánh vác theo đó người ta phải bắt đầu hiểu thấu sứ vụ của gia đình trong Cộng đồng Kitô hữu, và sự cố gắng của gia đình trong sự đào tạo con người và truyền thông đức tin, phải tiếp tục luôn luôn là ý nghĩa mà hôn nhân và gia đình nằm trong chương trình của Thiên Chúa, là Đấng Sáng Tạo và Cứu Chuộc. Do đó điều này sẽ là thực chất suy tư của tôi chiều nay, qui chiếu về huấn giáo “Tông Huấn Gia Đình” (Familiaris Consortio) (Phần 2, Số 12-16).
Nền tảng nhân loại học của gia đình.
Hôn nhân và gia đình không phải là một cấu trúc ngẫu nhiên của xã hội, không phải là hậu quả của những tình huống lịch sử và kinh tế đặc biệt. Nhưng ngược lại là vấn đề tương quan đúng đắn giữa người nam và người nữ ăn rễ sâu trong bản chất sâu xa nhất của con người, và chỉ có thể gặp được câu trả lời trong con người. Câu trả lời không thể tách biệt khỏi câu hỏi luôn luôn cổ xưa và luôn luôn mới mẻ của con người về chính mình. Tôi là ai? Và tới phiên không thể tách biệt khỏi câu hỏi về Thiên Chúa: Có Thiên Chúa không? Và Thiên Chúa là ai? Gương mặt Thiên Chúa thật sự giống cái gì? Câu trả lời của Kinh Thánh cho hai câu hỏi này là độc đáo và gián tiếp: Con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, và Thiên Chúa chính là tình yêu. Vì lẽ đó, ơn gọi tình yêu là điều làm cho con người nên hình ảnh đích thực của Thiên Chúa. Con người trở nên giống Thiên Chúa trong mực độ con người trở nên một người biết yêu.
Từ dây ràng buộc cơ bản này giữa Thiên Chúa và con người phát sinh một dây ràng buộc khác: Dây ràng buộc không hề phân ly giữa tinh thần và thể xác. Trên thực tế, con người là linh hồn diễn tả mình trong thể xác và thể xác là cái gì được sinh động bởi một thần khí bất tử. Cũng vậy, thân xác người nam và người nữ, do đó có một đặc tính thần học có thể nói được rằng nó không chỉ là thân xác, và cái gì là sinh vật học trong con người thì không chỉ là sinh vật học mà thôi, nhưng là một sự diễn tả và sự hoàn thành của nhân tính chúng ta. Bằng cách này, bản năng giới tính không gần con người chúng ta, nhưng thuộc về con người. Chỉ khi nào bản năng giới tính hội nhập trong con người thì mới thành công để tự cho nó ý nghĩa.
Bằng cách này, từ hai dây ràng buộc, dây ràng buộc con người với Thiên Chúa và --trong con người--dây ràng buộc thân xác với tinh thần, nổi lên một dây ràng buộc thứ ba: dây ràng buộc giữa con người và thể chế. Sự toàn bộ con người gồm có chiều kích thời gian, và "tiếng vâng" của con người đi quá lúc hiện tại. Trong sự toàn bộ của con người, "tiếng vâng" có nghĩa là "luôn luôn," đó là lãnh vực của sự trung thành. Chỉ trong nội tại, con người đức tin này có thể lớn mạnh để hứa hẹn tương lai và cho con cái, là hoa quả của tình yêu, để tin tưởng nơi con người và nơi tương lai con người trong những lúc khó khăn.
Sự tự do của tiếng "vâng" do đó xuất hiện như sự tự do có khả năng chấp nhận điều gì có tính quyết định. Do đó sự phát biểu cao cả nhất của sự tự do, không phải là sự chạy theo khoái cảm, mà không hề đạt tới một quyết định chân chính. Bề ngoài sự cởi mở trường kỳ này xem ra là sự thực hiện quyền tự do, nhưng không đúng như vậy. Ngược lại sự phát biểu thật sự của quyền tự do là khả năng quyết định cho một ân huệ dứt khoát, trong đó quyền tự do, bằng cách tự từ bỏ để tự gặp lại lần nữa một cách đầy đủ.
Một cách cụ thể, tiếng "vâng" cá nhân và hỗ tương của người nam và người nữ mở chỗ cho tương lai, cho nhân tính đích thực của mỗi người, và đồng thời được dành cho ân huệ một sự sống mới. Vì lẽ này, tiếng "vâng" cá nhân này cần thiết phải là một tiếng "vâng" cũng có trách nhiệm một cách công khai, với tiếng vâng đó vợ chồng chấp nhận trách nhiệm công khai về sự trung thành, điều này cũng bảo đảm tương lai cho cộng đồng. Không ai trong chúng ta độc chiếm cho riêng mình. Do đó, mỗi người được kêu gọi nhận lấy nơi thâm sâu nhất của mình trách niệm công khai của mình.
Hôn nhân, như một thể chế, do đó không phải là một sự can thiệp phi lý của xã hội hay của những thẩm quyền, một sự áp đặt từ bên ngoài trong thực tại riêng tư nhất của sự sống; ngược lại đó là một yêu sách nội tại của khế ước tình yêu hôn nhân và của chiều sâu con người.
Những hình thức hiện tại khác nhau của sự tan rã hôn nhân, cũng như những phối hợp tự do và "hôn nhân thí nghiệm," bao gồm ngụy -hôn nhân giữa những người cùng phái, trái lại nó là những phát biểu của một sự tự do hỗn loạn xuất hiện cách lầm lạc như một sự giải phóng đích thực con người. Một sự ngụy-tự do như thế dựa trên sự tầm thường hóa thân xác, điều này chắc chắn bao hàm việc tầm thường hóa con người.
Sự giả định của ngụy-tự do là con người có thể làm cho mình điều mình muốn. Như vậy thân xác biến thành cái gì phụ thuộc, có thể bị xử lý từ quan điểm con người, có thể đuợc sử dụng như con người muốn. Thuyết phóng túng, xuất hiện như sự khám phá thân xác vá giá trị thân xác, trên thực tế là một thuyết nhị nguyên làm cho thân xác đáng khinh bỉ, có thể nói là loại thân xác ra ngoài hữu thể và phẩm giá đích thực con nguời.
(Còn tiếp)
ROME (Zenit. org).- Bài huấn từ Đức Biển Đức XVI phát biểu hôm Thứ Hai 6/6 trong vương cung Thánh Gioan Lateran, lúc khai mạc Đại Hội Giáo Hội của Giáo Phận Rome. Chủ đề đại hội là "Gia đình và Cộng Đồng Kitô hữu: Sự Đào Tạo Con Người và sự Truyền Thông Đức Tin".
Anh chị em thân mến,
Tôi rất vui mừng nhận lời mời khai mạc đại hội giáo phận này với một suy tư, trên hết tất cả bởi vì nó cho tôi khả năng gặp anh chị em, tiếp xúc trực tiếp, và cũng vì nó cho tôi khả năng giúp anh chị em suy nghĩ hơn nữa về ý nghĩa và chủ đích của chương trình mục vụ theo Giáo Hội Roma.Tôi âu yếm chào đến mỗi người trong các anh em, giám mục, linh mục, nam và nữ tu sĩ, và cách riêng, hàng giáo dân và các gia đình, những người chấp nhận cách ý thức đến những nhiệm vụ dấn thân và minh chứng Kitô hữu bắt nguồn từ bí tích rửa tôi và, đối với những người đã kết hôn, trong bí tích hôn nhân. Tôi chân tình cám ơn hồng y đại diện và căp vợ chồng Luca và Adriana Pasquale, vì những lời nhân danh anh chị em để nói với tôi.
Đại hội này, và năm mục vụ mà đại hội sẽ cống hiến cho những chỉ dẫn, làm thành một giai đoạn mới trong nỗ lực mà Giáo Hội đã bắt đầu, dựa trên thượng hội đồng giáo phận với sứ vụ công dân mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II yêu quí chúng ta rất ưa thích, trong việc chuẩn bị năm Đại Xá Năm 2000.
Trong sứ vụ này tất cả những thực tại của các giáo phận chúng ta--các giáo xứ, các cộng đồng tu sĩ, các hiệp hội và các phong trào--được huy động không những là một sứ vụ dành cho người Roma, mà còn để cho người Roma nên "dân Thiên Chúa trong sứ vụ," thực hiện câu phát biểu khôn ngoan của Đức Gioan Phaolo II: "Hỡi giáo xứ, hãy nhìn xem ngươi và gặp ngươi bên ngoài ngươi", nghĩa là, trong những nơi người ta đang sống.
Bằng cách này, trong sứ vụ của người công dân, nhiều ngàn người kitô hữu tại Roma, phần đông là giáo dân, đã trở nên những thừa sai và mang lời đức tin đầu tiên tới các gia đình trong những vùng lân cận khác biệt của thành phố và sau đó tới các nơi làm việc khác nhau, tới các bịnh viện, trường học và đại học, và tới những lãnh vực văn hoá và trong thời gian rãnh rỗi.
Sau Năm Thánh, đấng tiền nhiệm yêu quí của tôi đã yêu cầu anh chị em đừng có chấm dứt cố gắng này, và anh chị em đừng có phân tán những nghị lực tông đồ đã được đánh thức và những hoa quả ân sủng đã được thu góp, Vì vậy, từ năm 2001, chiều hướng mục vụ cơ bản của giáo phận là phải thiết lập sự tuyền giáo trường ký, đánh dấu, một cách truyền giáo quyết định hơn, sự sống và những sinh hoạt của các giáo xứ và của mỗi một thực tại khác trong giáo hội.Trước hết tôi muốn nói với anh chị em rằng tôi muốn củng cố sự lựa chọn này cách đầy đủ. Điều đó còn cần thiết hơn và không còn cách nào khác, trong một bối cảnh xã hội và văn hóa trong đó nhiều tác động với xu hướng đẩy chúng ta xa rời đức tin và đời sống Kitô hữu.
Đã hai năm nay, sự dấn thân truyền giáo của Giáo Hội Roma đã tập trung hơn hết trên gia đình, không những vì thực tại nhân vị cơ bản này mà ngày nay đang gặp phải nhiều khó khăn và đe dọa, và do đó cần nhất là được phúc âm hóa và nâng đỡ cách cụ thể, nhưng cũng vì các gia đình Kitô hữu tạo thành một nguồn mạch quyết định cho sự giáo dục trong đức tin, cho sự xây dựng Giáo Hội trong hiệp thông và có khả năng hiện diện truyền giáo trong những hoàn cảnh rất khác biệt trong cuộc sống, cũng như để dậy men theo nghĩa Kitô hữu trong văn hóa và trong những cơ cấu xã hội.
Chúng ta cũng sẽ tiếp tục trước mắt với những chỉ dẫn này trong năm mục vụ và vì lẽ này chủ đề của đại hội chúng ta là "Gia đình và Cộng Đồng Kitô hữu: Việc Đào Tạo Con Người và viêc Truyền Thông Đức Tin." Sự gánh vác theo đó người ta phải bắt đầu hiểu thấu sứ vụ của gia đình trong Cộng đồng Kitô hữu, và sự cố gắng của gia đình trong sự đào tạo con người và truyền thông đức tin, phải tiếp tục luôn luôn là ý nghĩa mà hôn nhân và gia đình nằm trong chương trình của Thiên Chúa, là Đấng Sáng Tạo và Cứu Chuộc. Do đó điều này sẽ là thực chất suy tư của tôi chiều nay, qui chiếu về huấn giáo “Tông Huấn Gia Đình” (Familiaris Consortio) (Phần 2, Số 12-16).
Nền tảng nhân loại học của gia đình.
Hôn nhân và gia đình không phải là một cấu trúc ngẫu nhiên của xã hội, không phải là hậu quả của những tình huống lịch sử và kinh tế đặc biệt. Nhưng ngược lại là vấn đề tương quan đúng đắn giữa người nam và người nữ ăn rễ sâu trong bản chất sâu xa nhất của con người, và chỉ có thể gặp được câu trả lời trong con người. Câu trả lời không thể tách biệt khỏi câu hỏi luôn luôn cổ xưa và luôn luôn mới mẻ của con người về chính mình. Tôi là ai? Và tới phiên không thể tách biệt khỏi câu hỏi về Thiên Chúa: Có Thiên Chúa không? Và Thiên Chúa là ai? Gương mặt Thiên Chúa thật sự giống cái gì? Câu trả lời của Kinh Thánh cho hai câu hỏi này là độc đáo và gián tiếp: Con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, và Thiên Chúa chính là tình yêu. Vì lẽ đó, ơn gọi tình yêu là điều làm cho con người nên hình ảnh đích thực của Thiên Chúa. Con người trở nên giống Thiên Chúa trong mực độ con người trở nên một người biết yêu.Từ dây ràng buộc cơ bản này giữa Thiên Chúa và con người phát sinh một dây ràng buộc khác: Dây ràng buộc không hề phân ly giữa tinh thần và thể xác. Trên thực tế, con người là linh hồn diễn tả mình trong thể xác và thể xác là cái gì được sinh động bởi một thần khí bất tử. Cũng vậy, thân xác người nam và người nữ, do đó có một đặc tính thần học có thể nói được rằng nó không chỉ là thân xác, và cái gì là sinh vật học trong con người thì không chỉ là sinh vật học mà thôi, nhưng là một sự diễn tả và sự hoàn thành của nhân tính chúng ta. Bằng cách này, bản năng giới tính không gần con người chúng ta, nhưng thuộc về con người. Chỉ khi nào bản năng giới tính hội nhập trong con người thì mới thành công để tự cho nó ý nghĩa.
Bằng cách này, từ hai dây ràng buộc, dây ràng buộc con người với Thiên Chúa và --trong con người--dây ràng buộc thân xác với tinh thần, nổi lên một dây ràng buộc thứ ba: dây ràng buộc giữa con người và thể chế. Sự toàn bộ con người gồm có chiều kích thời gian, và "tiếng vâng" của con người đi quá lúc hiện tại. Trong sự toàn bộ của con người, "tiếng vâng" có nghĩa là "luôn luôn," đó là lãnh vực của sự trung thành. Chỉ trong nội tại, con người đức tin này có thể lớn mạnh để hứa hẹn tương lai và cho con cái, là hoa quả của tình yêu, để tin tưởng nơi con người và nơi tương lai con người trong những lúc khó khăn.Sự tự do của tiếng "vâng" do đó xuất hiện như sự tự do có khả năng chấp nhận điều gì có tính quyết định. Do đó sự phát biểu cao cả nhất của sự tự do, không phải là sự chạy theo khoái cảm, mà không hề đạt tới một quyết định chân chính. Bề ngoài sự cởi mở trường kỳ này xem ra là sự thực hiện quyền tự do, nhưng không đúng như vậy. Ngược lại sự phát biểu thật sự của quyền tự do là khả năng quyết định cho một ân huệ dứt khoát, trong đó quyền tự do, bằng cách tự từ bỏ để tự gặp lại lần nữa một cách đầy đủ.
Một cách cụ thể, tiếng "vâng" cá nhân và hỗ tương của người nam và người nữ mở chỗ cho tương lai, cho nhân tính đích thực của mỗi người, và đồng thời được dành cho ân huệ một sự sống mới. Vì lẽ này, tiếng "vâng" cá nhân này cần thiết phải là một tiếng "vâng" cũng có trách nhiệm một cách công khai, với tiếng vâng đó vợ chồng chấp nhận trách nhiệm công khai về sự trung thành, điều này cũng bảo đảm tương lai cho cộng đồng. Không ai trong chúng ta độc chiếm cho riêng mình. Do đó, mỗi người được kêu gọi nhận lấy nơi thâm sâu nhất của mình trách niệm công khai của mình.
Hôn nhân, như một thể chế, do đó không phải là một sự can thiệp phi lý của xã hội hay của những thẩm quyền, một sự áp đặt từ bên ngoài trong thực tại riêng tư nhất của sự sống; ngược lại đó là một yêu sách nội tại của khế ước tình yêu hôn nhân và của chiều sâu con người.Những hình thức hiện tại khác nhau của sự tan rã hôn nhân, cũng như những phối hợp tự do và "hôn nhân thí nghiệm," bao gồm ngụy -hôn nhân giữa những người cùng phái, trái lại nó là những phát biểu của một sự tự do hỗn loạn xuất hiện cách lầm lạc như một sự giải phóng đích thực con người. Một sự ngụy-tự do như thế dựa trên sự tầm thường hóa thân xác, điều này chắc chắn bao hàm việc tầm thường hóa con người.
Sự giả định của ngụy-tự do là con người có thể làm cho mình điều mình muốn. Như vậy thân xác biến thành cái gì phụ thuộc, có thể bị xử lý từ quan điểm con người, có thể đuợc sử dụng như con người muốn. Thuyết phóng túng, xuất hiện như sự khám phá thân xác vá giá trị thân xác, trên thực tế là một thuyết nhị nguyên làm cho thân xác đáng khinh bỉ, có thể nói là loại thân xác ra ngoài hữu thể và phẩm giá đích thực con nguời.
(Còn tiếp)