ROME (Zenit. org)- Phần hai bài huấn từ của Đức Giáo Hoàng Biển Đức nói vào hôm thứ Hai 6/6 tại vương cung Thánh Gioan Lateran, khi chủ tọa khai mạc Đại Hội Giáo Hội của Giáo Phận Rome. Chủ đề đại hội là "Gia Đình và Cộng Đồng Kitô hữu: sự Đào tạo Con Người và sự Truyền thông Đức Tin."

Bản dịch Phần I đã cho lên Vietcatholic hôm 12/6.

* * *

(tiếp theo)

Hôn nhân và Gia Đình trong Lịch Sử Cứu Rỗi

Chân lý hôn nhân và gia đình, đâm rễ sâu trong chân lý con người, đã gặp được sự áp dụng trong lịch sử cứu rỗi, mà trung tâm là lời: "Thiên Chúa thương yêu dân Người. " Trên thực tế, trên hết tất cả mặc khải kinh thánh là sự bày tỏ lịch sử tình yêu, lịch sử giao ước của Thiên Chúa với những con người. Vì lẽ này, Thiên Chúa đã có khả năng thừa nhận lịch sử tình yêu và hiệp nhất giữa người nam và người nữ trong khế ước hôn nhân, như là biểu trưng của lịch sự cứu rỗi. Sự kiện không thể tả đến mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa đối với con người, lấy hình thức ngôn ngữ học của nó từ từ điển hôn nhân và gia đình, cả về mặt tích cực lẫn tiêu cực: Sự tới gần của Thiên Chúa với dân Người được trình bày với ngôn ngữ của tình yêu vợ chồng, đang khi lòng thất tín của dân Israel, sự thờ ngẫu tượng của nó, được diễn ta là sự ngoại tình và là sự mãi dâm.

Trong Tân Ước, Thiên Chúa triệt để hóa tình yêu của Người cho tới khi chính Nguời hóa nên qua Con của Người thành thịt của thịt chúng ta, là con người đích thực. Như vậy, sự kết hợp của Thiên Chúa với con người đã chấp nhận hình thức tuyệt vời, là hình thức không thể đảo ngược và có tính quyết định. Và bằng cách này, hình thức quyết định của tình yêu loài người cũng được kín múc, tiếng "vâng" hỗ tương đó không thể thu hồi. Điều này không tha hóa con người, nhưng giải phóng con người khỏi những sự tha hóa của lịch sử để đem con người trở về với chân lý sáng tạo.

Đặc tính bí tích mà hôn nhân nhận lấy trong Chúa Kitô, do đó có nghĩa là ân huệ sáng tạo đã được nâng lên tới ân sủng cứu độ. Ân sủng của Chúa Kitô không phải được chồng lên trên từ bên ngoài bản tính con người, ân sủng đó không xâm phạm bản tính ấy, nhưng giải phóng và khôi phục bản tính ấy, bằng cách nâng bản tính ấy lên quá những giới hạn của nó. Và đúng như sự Nhập Thể của Con Thiên Chúa mạc khải ý nghĩa thật của mầu nhiệm ấy trên thánh giá, thì cũng vậy tình yêu nhân bản chân chính là sự dâng mình; tình yêu đó không thể hiện hữu nếu nó tránh xa thánh giá.



Anh chị em thân mến, dây buộc sâu xa này giữa Thiên Chúa và loài người, giữa tình yêu của Thiên Chúa và tình yêu của loài người, cũng được khẳng định bởi một số khuynh hướng và phát triển tiêu cực, mà chúng ta cảm nghiệm sức nặng của chúng. Sự hạ giá tình yêu con người, sự bãi bỏ khả năng chân chính để yêu, xuất hiện trong thời đại chúng ta như là vũ khí hiệu nghiệm nhất để con người chà đạp Thiên Chúa, đẩy xa Thiên Chúa khỏi con mắt và con tim của con người. Nhưng, sự muốn "giải phóng" bản tính của Thiên Chúa làm cho người ta không thấy thực tại thật của bản tính, kể cả bản tính con người, vì qui bản tính đó về một tổng thể những nhiệm vụ có thể được giải quyết tùy theo sở thích con người để xây dựng một thế giới gọi là tốt hơn và một nhân loại hạnh phúc hơn. Nhưng ngược lại, chương trình của đấng Sáng Tạo như sự thật của bản tính chúng ta bị phá hủy.

Các trẻ em

Cũng vậy trong sự sinh con cái, hôn nhân phản chiếu gương mẫu của Thiên Chúa , tức là tình yêu của Thiên Chúa đối với con người. Trong người nam và người nữ, trong thiên chức làm cha và làm mẹ, như xảy ra với thân xác và với tình yêu, phương diện sinh vật học không bị hạn chế: sự sống chỉ được cho hoàn toàn khi với sự sinh đẻ, tình yêu và ý nghĩa được ban cho, để có thể có khả năng nói tiếng vâng cho sự sống này.. Một cách chính xác vì điều này, ai cũng thấy sự đóng kín có hệ thống của chính sự hiệp nhất đối với ân huệ sự sống và, còn hơn thế nữa là sự dẹp bỏ hay sự điều khiển sự sống chưa sinh ra, là đi nghịch lại với tình yêu nhân bản, nghịch lại với ơn gọi thâm sâu của người nam và người nữ. . .

Nhưng, không người nam và người nữ nào tự ý mình và do sức mạnh của mình, để có thể cho tình yêu và ý nghĩa sự sống cách đầy đủ cho con cái mình. Để có thể nói với ai đó: "sự sống của con cái là tốt, mặc dầu tôi không biết tương lai của con cái," thì cần một uy quyền và sự đáng tin trổi vượt hơn mà cá nhân không thể tự mình cho được. Người Kitô hữu biết rằng uy quyền này được ban cho gia đình rộng lớn hơn mà Thiên Chúa, qua Con của Người là Chúa Giêsu Kitô, và nhờ hồng ân của Chúa Thánh Thần, đã tạo dựng trong lịch sử loài người, tức là cho Giáo Hội. Giáo Hội nhìn nhận hành động của tình yêu đời đời và bền vững này bảo đảm cho sự sống của mỗi người chúng ta một ý nghĩa vĩnh cửu, cho dầu chúng ta không biết tương lai.

Vì lẽ này, sự xây dựng của mỗi gia đình Kitô hữu được đóng khung trong bối cảnh của đại gia đình Giáo Hội, nâng đỡ nó và dồng hành với nó, và bảo đảm rằng có một ý nghĩa và trong tương lai sẽ có tiếng "vâng" của Đấng Sáng Tạo.

Và, cách hỗ tương, Giáo Hội được xây dựng bởi các gia đình, "những tiểu Giáo Hội gia đình," như Công Đồng Vatican Hai gọi ("Lumen Gentium," 11; Apostolicam Actuositatem,"11), bằng cách lấy lại một kiểu nói giáo phụ xưa (Th.Gioan Kim Khẩu, "In Genesim serm," VI,2,VII,1). Về vấn đề này, "Familiaris Consortio" khẳng định răng "hôn nhân Kitô hữu.. . trở thành môi trường tự nhiên để cho nhân vị được hội nhập vào trong đại gia đình Hội Thánh" ( (Số 15)

Gia Đình và Giáo Hội

Một hậu quả rõ ràng phát xuất từ tất cả sự này: gia đình và Giáo Hội, cách riêng những giáo xứ và những hình thức khác của cộng đồng giáo hội, được kêu gọi hợp tác sâu xa nhất trong nhiệm vụ cơ bản này, nhiệm vụ bao gồm, bất phân ly, sự đào tạo con người và truyền thông đức tin. Chúng ta biết rõ rằng muốn thực hiện một sự cố gắng giáo dục đích thực, thì việc truyền thông một lý thuyết hay một giáo lý đúng thôi thì chưa đủ.

Một cái gì cao cả và nhân bản hơn được cần đến -- sự gần gũi, sống hằng ngày, mà nó thích hợp với tình yêu và gặp được không gian tiện lợi nhất của nó trong cộng đồng gia đình, và sau đó trong một giáo xứ hay phong trào hay hiệp hội giáo hội, trong đó gặp được những người chú trọng tới anh em của họ, nhất là tới trẻ em và thanh niên, cũng như tới những người lớn, những người già, người bịnh, và chính các gia đình. Bởi vì, trong Chúa Kitô họ yêu thương những người ấy. Quan thầy vĩ đại các nhà giáo dục là Thánh Gioan Bosco, nhắc nhớ những con cái thiêng liêng mình rằng " sự giáo dục là một cái gì thuộc con tim và chỉ một mình Thiên Chúa là sở hữu chủ của nó" ("Epistolario, "4, 209).

Gương mặt của chứng nhân là quan trọng nhất trong nỗ lực giáo dục, và cách riêng sự giáo dục trong đức tin, tức là chóp đỉnh của sự giáo dục con người và là chân trời thích hợp nhất của chứng nhân: chứng nhân trở thành một điểm qui chiếu chính xác trong mức độ trong đó họ có khả năng bảo vệ niềm hy vọng nền tảng sự sống của họ (x. 1 Pt 3: 15), và trong mức độ mà chứng nhân dấn thân với chân lý họ đề nghị. Nhưng, chứng nhân không chỉ về mình, nhưng chỉ về một cái gì, hay đúng hơn về một nhân vật lớn hơn, người mà họ đã gặp và đã cảm nghiệm như sự tốt lành đáng tin cậy. Như vậy, tất cả nhà giáo dục và chứng nhân gặp một gương mẫu vô song trong Chúa Giêsu Kitô, chứng nhân cao cả của Chúa Cha, Người không nói gì về chính mình, nhưng nói điều Chúa Cha đã dạy Người (x. Ga 9: 28).

Đó là lý do tại sao tại nền tảng của sự đào tạo con người Kitô hữu và của sự truyền thông đức tin, cần thiết phải cầu nguyện, phải sống tình bạn cá nhân với Chúa Kitô và phải chiêm ngắm trong Người gương mặt Chúa Cha. Và cũng có thể nói như vậy về tất cả sự dấn thân truyền giáo của chúng ta, cách riêng đến chương trình mục vụ gia đình của chúng ta: do đó, ước mong Gia đình Nadareth nên đối tượng của sự cầu nguyện liên lỉ và tín cẩn, cũng như là gương mẫu sống, cho các gia đình và cho cộng đồng của chúng ta.

Anh chị em thân mến, và cách riêng anh em, hỡi các linh mục yêu quí: tôi biết lòng quảng đại và tính vị tha anh em đưa ra để phục vụ Chúa và Giáo Hội Người. Công tác hằng ngày đào tạo các thế hệ mới trong đức tin, trong sự hiệp nhất sâu xa với các bí tích gia nhập Kitô giáo, cũng như bằng sự chuẩn bị hôn nhân và nâng đỡ các gia đình trong cuộc hành trình của họ, điều này không luôn dễ dàng, nhất là đến đại công tác giáo dục các trẻ em, là phương cách cơ bản để luôn luôn tái sinh Giáo Hội và cũng để làm sinh động khung xã hội của thành phố thân yêu Roma của chúng ta.

Sự đe dọa của thuyết tương đối

Do đó hãy tiếp tục, đừng để cho anh em ngã lòng vì những khó khăn anh em gặp phải. Tương quan giáo dục tự nó, là một sự tế nhị: nó bao hàm quyền tự do của kẻ khác, người này, cả với cách thức nhẹ nhàng, bị bắt buộc làm một quyết định.. Không cha mẹ nào, không linh mục nào, không giáo lý viên nào, không nhà giáo dục nào có thể thay thế quyền tự do của đứa bé, em trai, thanh niên mà họ hướng dẫn. Và đề nghị Kitô hữu xen vào sự tự do rất sâu xa, kêu gọi nó tới đức tin và sự cải thiện

Một ngăn trở đặc biệt ngấm ngầm trong cố gắng giáo dục ngày nay là sự hiện diện đồ sộ của thuyết tương đối trong xã hội và văn hoá chúng ta, thuyết này vì không nhận cái gì là quyết định, chỉ lấy chính :cái "tôi" như là mức độ cuối cùng của mình, với những sở thích của nó và thuyết này, với vẻ tự do, biến thành một ngục tù cho mỗi người, vì nó phân cách khỏi những kẻ khác, làm cho mỗi người cảm thấy mình bị đóng kín trong cái "tôi" của mình.

Trong một chân trời có tính tuơng đối như vậy, do đó không thể có một nền giáo dục chân chính. Không có ánh sáng chân lý, sớm hay muộn gì mỗi người bị lên án để nghi ngờ về sự tốt lành của chính sự sống mình và những tương quan cấu tạo nên nó, về sự giá trị cho sự cam kết mình xây dựng đối với những kẻ khác trong một cách chung.

Do đó, điều rõ ràng là không những chúng ta phải ra sức vượt thắng thuyết tương đối trong công tác giáo dục con người, nhưng chúng ta cũng được kêu gọi đối mặt sự thống trị tuyệt đối phá hoại của nó trong xã hội và văn hoá. Vì lẽ này, điều rất quan trọng là, thêm vào lới nói của Giáo Hội, phải có chứng từ và sự dấn thân công khai của các gia đình Kitô hữu, cách riêng, để tái khẳng định tính bất khả xâm phạm của sự sống con người từ lúc thụ thai tới lúc chết tự nhiên, giá trị độc đáo và không thể thay thế của gia đình dựa trên hôn nhân và sự cần thiết có những biện pháp luật pháp và hành chánh nâng đỡ các gia đình trong nhiệm vụ sinh và giáo dục con cái, nhiệm vụ thiết yếu cho tương lai chung của chúng ta. Tôi cũng hết lòng cám ơn anh chị em vì sự dấn thân này của anh chị em.

Chức linh mục và đời sống thánh hiến

Sứ điệp cuối cùng tôi muốn để lại cho anh chị em liên quan sự chú ý đến các ơn gọi làm linh mục và sống thánh hiến. Tất cả chúng ta biết nhu cầu của Giáo Hội. Để những ơn gọi này được sinh ra và trưởng thành, để những người được gọi luôn sống xứng đáng với ơn gọi của mình, thì sự cầu nguyện là quyết định, hơn hết; sự cầu nguyện không bao giờ để thiếu trong mỗi gia đình và trong cộng đồng Kitô hữu.

Nhưng cũng là cơ bản, chứng từ của sự sống các linh mục, của các người nam và nữ tu sĩ, niềm vui họ bày tỏ vì đã được Chúa gọi. Và, cũng là thiết yếu, gương các con cái nhận được trong gia đình của chúng, và sự xác tín của các gia đình là những ơn gọi của con cái cũng là một hồng ân của Thiên Chúa đối vối họ. Sự tuyển chọn sống đồng trinh vì tình yêu Chúa và anh em mà chức linh mục và đời sống thánh hiến đòi hỏi, được sự đánh giá về hôn nhân Kitô hữu đi kèm theo: cái này và cái kia, với hai hình thức khác biệt và bổ sung, nói được làm cho thấy mầu nhiệm giao ước giữa Thiên Chúa và dân Người.

Anh Chị em thân mến, Tôi gởi gắm những suy tư này cho anh chị em như một sự đóng góp với công trình của anh chi em trong những buổi chiều đại hội và sau đó trong năm mục vụ sắp tới. Tôi cầu nguyện xin Chúa ban cho anh chị em lòng can đảm và sự phấn khởi ngõ hầu Giáo Hội Roma chúng ta, mọi giáo xứ, mọi cộng đồng tu sĩ, hiệp hội hay phong trào sẽ tham gia mãnh liệt trong niềm vui và cố gắng của sự truyền giáo, và nhờ vậy mọi gia đình và toàn thể công đồng Kitô hữu, sẽ tái khám phá trong tình yêu của Chúa chìa khóa mở cửa các tâm hồn và giúp thực hiện một sự giáo dục chân chính trong đức tin và trong sự đào tạo con người. Lòng thương yêu và phép lành của tôi đồng hành anh chị em hôm nay và trong tương lai.