"Thiên Chúa nhìn xuống những người Túng Thiếu và Đau Khổ để an ủi"

VATICAN (Zenit.org).- Bài huấn đức của Đức Biển Đức XVI tại buổi tiếp kiến chung ngày thứ Tưhàng tuần 18/5, ngài dành dịp này để suy tư về Thánh vịnh 113 (112), "Danh Chúa đáng Ca ngợi"

* * *

Anh chị em thân mến,

Trước khi chúng ta bắt đầu một sự giải thích ngắn gọn về Thánh Vịnh chúng ta mới nghe, tôi muốn lưu ý anh chị em là hôm nay là ngày sinh nhật của Đức Gioan Phaolo II yêu dấu của chúng ta. Ngài phải được 85 tuổi và chúng ta chắc ngài thấy chúng ta từ trời cao và ở với chúng ta. Trong dịp này chúng ta muốn nói một lời cám ơn sâu xa dâng lên Chúa vì Người cho chúng ta vị Giáo hoàng này, và chúng ta muốn nói lời cám ơn với chính vị Giáo hoàng này vì tất cả những gì ngài đã làm và chịu đau khổ.

1. Thánh vịnh 112 đã vang lên trong vẻ đơn sơ và đẹp đẻ của nó, thánh vịnh này là một sự dẫn nhập của bản sưu tập nhỏ các thánh Vinh từ 112 tới 117, thông thường được gọi là "Egyptian Hallel." Đó là alleluia, nghĩa là, bài ca ngợi khen, tán dương sự giải phóng khỏi cảnh nô lệ Pharaô và niềm vui của Israel được phụng sự Chúa trong tự do tại Đất Hứa (x. Tv 112 (113).

Không phải là chuyện tình cờ mà truyền thống Do thái liên kết loạt Thánh Vịnh này với phụng vụ Phuc Sinh. Sự cử hành biến cố này, theo những chiều kích lịch sử-xã hội và hơn hết là thiêng liêng, được công nhận như là một dấu giải phóng khỏi sự dữ trong tình trạng đa dạng những biểu hiện của nó

Thánh Vịnh 112 là một Thánh Vịnh ngắn. Trong bản gốc Do thái Thánh Vịnh này gồm chừng 60 tiếng, tất cả đều tràn ngập với những tâm tình tin cậy, ca ngợi, và vui mừng.

3. Vế thứ nhất (x.1-3) tán dương "danh Đức Chúa" danh mà --như được biết-- trong ngôn ngữ kinh thánh chỉ bản thân của chính Thiên Chúa, sự hiện diện sống động và hoạt động của Người trong lịch sử nhân loại.

Ba lần, với sự mãnh liệt nồng nhiệt, vang lên "danh Đức Chúa" tại trung tâm kinh thờ phượng. Mọi sinh vật và mọi thời gian--"từ rạng đông tới lúc chiều tà,", Tác giả Thánh vịnh nói (c.3)-- hiệp nhất trong một hành vị tạ ơn. Đường như là một hơi thở liên tục cất lên từ đất thấu trời để tán dương Đúc Chúa, đấng sáng tạo vũ trụ và là vua lịch sử.

3. Chính xác qua cử động này thấu các tầng trời, Thánh Vịnh dẫn chúng ta tới mầu nhiệm Thiên Chúa. Trên thực tế phần thứ hai (x. 4-6), cử hành tính siêu việt của Đức Chúa, được diễn tả với những hình ảnh hàng dọc đi vượt quá chân trời thuần túy con người. Phần Thánh vịnh này cao rao Đức Chúa "Siêu việt trên hết mọi dân," "ngự trên cao vời," và không ai có thể sánh bằng Người; Người cúi xuống để nhìn xem bầu trời trái đất, bởi vì "vinh quang Người" "vượt xa bầu trời cao thẳm!" (4).

Cái nhìn Thiên Chúa ngó xuống toàn thể thực tại, ngó xuống những sinh vật dưới đất và trên trời. Nhưng cái nhìn của Người không kiêu căng và xa vời, như cái nhìn của một vương đế lạnh lùng. Đức Chúa--tác giả thánh vinh nói --"cúi xuống" để nhìn (x.c.6)

4. Như vậy chúng ta tới cử động cuối cùng của Thánh Vịnh (x. 7-9), chuyển sự chú ý của chúng ta từ trời cao cho tới chân trời dưới dất. Đức Chúa hạ mình với niềm âu lo cho tới tình trạng nhỏ bé và nghèo khổ của chúng ta, có thể thúc giục chúng ta rút lui trong sợ hải. Chúa hướng cái nhìn yêu thương của người và sự cam kết hiệu nghiệm của Người tới những kẻ thấp nhất và khốn cực trong thế giới: "Kẻ mọn hèn, Chúa kéo ra khỏi nơi cát bụi, ai nghèo túng, người cất nhắc từ đống phân tro. "(7)

Như vậy Chúa cúi xuống những kẻ túng thiếu và đau khổ để an ủi họ. Và sự diễn tả này gặp được ý nghĩa cuối cùng của nó, thực tế lớn nhất của nó đúng lúc mà Chúa cúi xuống cho tới chỗ trở nên nhập thể, trở nên một người như chúng ta, như một kẻ nghèo trên thế giới. Chúa ban danh dự lớn nhất cho những kẻ nghèo, Người "đặt họ ngồi chung với hàng quyền quí", vâng, "với hàng quyền quí dân Người" (8). Đối với người nữ son sẻ cô đơn, bị xã hội thời xưa hạ nhục dường như là một cành cây khô và vô dụng, thì Chúa ban cho danh dự và niềm vui lớn có đông con (x.9). Do đó, tác giả Thánh Vịnh ngợi khen Chúa, đấng rất khác chúng ta trong sự cao cả của Người, nhưng đồng thời rất gần gũi những tạo vật đau khổ của Người.

Thật dễ mà thấy trong những câu cuối Thánh Vịnh 112 sự biểu hiện trước những lời của Đức Maria trong kinh "Magnificat," bài thánh ca của kẻ được chọn của Chúa, đấng "nhìn xem đến phận hèn tớ nữ của Người." Còn triệt để hơn Thánh Vịnh chúng ta, Đức Maria cao rao rằng Chúa " đã hạ những người quyền thế xuống khỏi ngai vàng, và nâng cao nhưng người phận nhỏ " (x.Lc 1: 48, 52; Tv 112: 6-8).

5 Một "Thánh Thi Chiều" rất cổ xưa, được lưu trữ trong "những Hiến Chương các Tông đồ" (VII, 48), tiếp tục và phát triển phần mở đầu đầy vui mừng của Thánh Vịnh chúng ta. Chúng ta nhắc lại điều này ở đây, cuối bài suy niệm của chúng ta, để rọi ánh sáng đọc lại kinh nguyện của người kitô hữu mà cộng đồng trước kia đã thực thi với các thánh Vịnh:

"Hỡi các con, hãy ngợi khen Đức Chúa, hãy ngơi khen danh Đức Chúa. Chúng con ngợi khen Chúa, chúng con hát mừng Chúa, chúng con chúc tụng Chúa vì vinh quang cao cả của Chúa. Lạy Đức Chúa là Vua, Cha của Đức Kitô con chiên vô tì tích, đấng xóa tội trần gian. Ngợi khen, ca hát, vinh quang cho Chúa, cho Chúa Cha qua Chúa Con trong Chúa Thánh Thần bây giờ và cho đến muôn đời. Amen" (S. Pricoco and M. Simonetti, "La Preghiera dei Cristiani, " (Kinh nguyện của người Kitô hữu), Milan, 2000, 2000,p. 97).

Cuối buổi tiếp kiến, Đức Thánh Cha đọc bản tóm sau đây bằng tiếng Anh:

Anh chị em thân mến trong Chúa Kitô

Bài suy niệm hôm nay dựa trên Thánh Vịnh 112. Thánh thi tốt đẹp này dẫn nhập vào một nhóm Thánh Vịnh cử hành sự giải phóng dân Israel khỏi cảnh nô lệ. Thánh Vịnh này cũng diễn tả niềm vui họ gặp được trong việc phụng sự Chúa tại Đất Hứa.

Câu "danh Đức Chúa," chỉ chính Chúa, được lập lại suốt Thánh Vịnh và trở nên trung tâm kinh ca ngợi này. Thật vậy, sự cao cả của Chúa đòi hỏi sự ngợi khen của chúng ta, và "Đấng Tối Cao" không bao giờ quên săn sóc đến kẻ nghèo và túng thiếu trên thế giới. " Kẻ mọn hèn, Chúa kéo ra khỏi nơi cát bụi, ai nghèo túng, người cất nhắc từ đống phân tro" (Tv 112:7)

Câu cuối Thánh Vịnh báo trước những lời của Đức Maria trong kinh "Magnificat." Chúng ta hãy liên kết kinh nguyện chúng ta với kinh nguyện của Mẹ khi chúng ta ca ngợi Thiên Chúa cha, hát mừng vinh quang Người, qua Chúa Con và Chúa Thánh Thần, bây giờ và cho đến muôn đời. Amen.

Sau đó Đức Giáo hoàng chào những người hành hương trong nhiều thứ tiếng. Trong tiếng Anh ngài nói:

Cách riêng tôi chào nhóm Phật giáo Risho Korei-kai từ Gunmaota, Nhật bản. Tôi cũng gởi lời chào nồng hậu tới tất cả những người hành hương nói tiếng Anh, đặc biệt những người đến từ England, Indonesia, Canada và Hoa Kỳ Mỹ châu. Tôi cầu xin cho thời gian của quí vị tại Roma được tràn đầy ân sủng và hòa bình, Nhân danh Đức Giêsu kitô Chúa chúng ta, tôi kêu cầu phước lành Thiên Chúa xuống trên quí vị và những người thân của quì vị.